BÁC HỒ TẤM GƯƠNG TRỌN ĐỜI VÌ NƯỚC VÌ DÂN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:20' 15-01-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:20' 15-01-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
NGUYỄN ĐỨC TÀI
NGUYỄN NGUYÊN
NGUYỄN HOÀI ANH
2
Nguồn ảnh: Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử quốc gia,
Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch...
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa
kiệt xuất, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam, đã cống hiến cả cuộc
đời vì nước, vì dân.
Trong cuộc sống hằng ngày của một người bình thường cũng như trong
vai trò lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giữ gìn đạo đức cách mạng.
Người thực hành và yêu cầu mỗi người đều phải thực hành cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư; luôn luôn chăm lo vun đắp tình đoàn kết giữa các dân
tộc, các tầng lớp nhân dân, vun đắp tình đoàn kết quốc tế vì độc lập, ấm no,
tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Trong trái tim đồng bào các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ là tấm gương của
người cách mạng trọn đời vì nước, vì dân. Tình cảm mà đồng bào ta dành cho
Người vô cùng thiêng liêng, được thể hiện ở sự tin tưởng, lòng biết ơn và quyết
tâm phấn đấu thực hiện di nguyện của Người. Những thành tựu mà nhân dân
ta đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới và bảo vệ đất nước chính là những đóa
hoa dâng lên Người, thể hiện tình cảm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân
ta đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại.
5
Nhằm khẳng định những giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh; niềm tin yêu, lòng biết ơn vô hạn của đồng bào các dân
tộc Việt Nam đối với Bác Hồ, qua đó động viên các tầng lớp nhân dân tích
cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách ảnh Bác Hồ - Tấm gương trọn đời vì
nước, vì dân.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
BÁC HỒ
TẤM GƯƠNG TRỌN ĐỜI VÌ ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA DÂN TỘC
“... CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, BIỂU TƯỢNG XUẤT SẮC VỀ SỰ TỰ KHẲNG ĐỊNH DÂN TỘC,
ĐÃ CỐNG HIẾN TRỌN ĐỜI MÌNH CHO SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NHÂN DÂN
VIỆT NAM, GÓP PHẦN VÀO CUỘC ĐẤU TRANH CHUNG CỦA CÁC DÂN TỘC VÌ HÒA BÌNH,
ĐỘC LẬP DÂN TỘC, DÂN CHỦ VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI...”.
Nghị quyết của UNESCO năm 1987
về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
7
BÁC HỒ TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Bác Hồ sinh ngày 19-5-1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước. Chứng kiến cảnh
sống khổ cực của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, từ những năm mười một,
mười hai tuổi, Nguyễn Tất Thành (tên lúc đó của Người) đã bước đầu tiếp thu tư tưởng yêu
nước của các bậc cha chú, các sĩ phu yêu nước. Năm mười tám tuổi (1908), Người tham gia
cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên. Bước vào tuổi hai mươi, ý thức tìm đường
ra nước ngoài “xem xét họ làm thế nào... sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” đã được nung nấu
trong trái tim Người.
Cuộc sống khổ cực của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Với ý chí cứu nước mãnh liệt và lòng yêu thương đồng bào sâu sắc, ngày 5-6-1911, tại
Bến cảng Nhà Rồng thành phố Sài Gòn lịch sử (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh
niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Văn Ba đã rời Tổ quốc ra đi thực hiện hoài bão
giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc.
8
Từ năm 1912 đến năm 1918, Người đã đến nhiều nước trên thế giới, khảo sát cuộc sống
và phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân lao động bị áp bức.
Tháng 6-1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu
nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách gồm 8 điểm; trong đó có những nội dung rất
quan trọng như: cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được
quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; đoàn đại biểu thường trực
của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được
những nguyện vọng của người bản xứ...
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Từ Luận cương của V.I. Lênin, Người đã xác định
được con đường giải phóng dân tộc theo xu hướng cách mạng vô sản.
Tháng 12-1920, tham dự Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái
Quốc đã bỏ phiếu tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở
thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua
(tháng 12-1920)
Bản Yêu sách của nhân dân
An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây
(bản tiếng Pháp), ký tên
Nguyễn Ái Quốc (năm 1919)
9
Báo Le Paria (“Người cùng khổ”)
do Nguyễn Ái Quốc sáng lập
năm 1922
BÁC HỒ SÁNG LẬP VÀ RÈN LUYỆN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Từ tháng 11-1924 đến tháng 5-1927, Bác Hồ sống và hoạt động tại Quảng Châu (Trung
Quốc). Tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, hạt nhân là Cộng
sản đoàn, ra báo Thanh niên - cơ quan tuyên truyền của Hội, mở các lớp huấn luyện chính trị
và phương pháp cách mạng cho những người cách mạng Việt Nam để đưa về nước hoạt động.
Từ đầu năm 1925 đến tháng 4-1927, tại số nhà 13 và 13/1 đường Văn Minh - Quảng Châu Trung Quốc (nay là số 248 - 250), Bác Hồ đã trực tiếp mở 3 lớp huấn luyện chính trị cho hơn
70 người. Đầu năm 1927, các bài giảng của Bác Hồ tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán
bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Người tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc),
trong những năm 1925 - 1927, được tập hợp và in trong cuốn sách Đường Kách mệnh, làm tài
liệu đào tạo cán bộ cách mạng. Cuốn sách lý luận này được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp
các dân tộc bị áp bức xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Cuốn sách “Đường Kách mệnh”
Tờ báo “Thanh niên” do Nguyễn Ái Quốc sáng lập
năm 1925, là tờ báo cách mạng đầu tiên của nước ta
10
Từ ngày 6-1 đến ngày
7-2-1930, tại Hương Cảng
(Trung Quốc), Bác Hồ chủ
trì Hội nghị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Hội nghị
đã nhất trí với đề xuất của
Người về việc hợp nhất các tổ
chức cộng sản thành một đảng
duy nhất - Đảng Cộng sản Việt
Nam; thông qua Chính cương
vắn tắt, Sách lược vắn tắt... Cương lĩnh cách mạng đầu
tiên của Đảng. Từ đây, dân
tộc Việt Nam đã có một chính
đảng đủ sức đoàn kết và lãnh
đạo nhân dân thực hiện cuộc
cách mạng giải phóng dân
tộc, giành độc lập, tự do.
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng là ngọn cờ đoàn kết toàn Đảng, toàn dân; là vũ
khí chiến đấu sắc bén của những người cộng sản Việt Nam trước mọi kẻ thù; là cơ sở cho các
đường lối, chủ trương của cách mạng Việt Nam trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước;
thể hiện sự nhận thức sâu sắc trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam, thể hiện sự độc lập, sáng tạo trong việc quyết định đường lối cách mạng Việt
Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
11
BÁC HỒ CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN
TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm bôn ba hải ngoại, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách
mạng Việt Nam. Cao Bằng là mảnh đất đầu tiên được Trung ương Đảng và Bác Hồ tin cậy chọn
để xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Người, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
(tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) đã được thành lập. Trong Chỉ thị thành lập Đội,
Người khẳng định: “... Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong
cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của
nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp
đất nước Việt Nam”1.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng
quân do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.539-540.
12
Những ngày Tháng Tám
sôi sục ở Thủ đô Hà Nội
Mùa hè năm 1945, tình hình thế giới và trong nước diễn biến mau lẹ, có lợi cho cách
mạng Việt Nam, Bác Hồ chỉ thị tìm địa điểm làm trung tâm lãnh đạo cách mạng thay cho căn
cứ địa Cao Bằng.
Ngày 4-5-1945, Bác Hồ bắt đầu cuộc hành trình rời Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào
(Tuyên Quang).
Từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập, họp ở đình
Tân Trào (Tuyên Quang), Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước giành
chính quyền, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Ngày 16, 17-8-1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang); thông qua lệnh
Tổng khởi nghĩa; bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (ngày 25-8-1945 được cải tổ
thành Chính phủ lâm thời), do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; quyết định quốc kỳ, quốc ca của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
13
Những ngày Tháng Tám
lịch sử ở Sài Gòn
Ngày 18-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc
dân, đồng bào.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, nhân dân cả
nước đã vùng lên giành chính quyền.
Ngày 19-8-1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội; ngày 23-8-1945 ở Huế;
ngày 25-8-1945 ở Sài Gòn. Chỉ trong vòng 15 ngày đêm, trên đất nước Việt Nam, chính quyền
thực dân phong kiến đã bị lật đổ, chấm dứt ách thống trị gần một trăm năm của thực dân
phương Tây và xóa bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm ở Việt Nam. Lần
đầu tiên trong lịch sử dân tộc, chính quyền thật sự thuộc về nhân dân.
14
BÁC HỒ ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
KHAI SINH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn
độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân:
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và
lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1.
Ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
tọa phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bàn những
vấn đề cấp bách.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại
Quảng trường Ba Đình (ngày 2-9-1945)
Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
(ngày 3-9-1945)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.3.
15
Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội
đầu tiên của nước Việt Nam mới.
“... Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.
Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử,
vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng
quyền dân chủ của mình...
Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử...”1.
Ngày 6-1-1946, lần đầu tiên cuộc Tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn quốc trong
không khí náo nức phấn khởi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ra đời.
Ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kỳ
họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội, bầu ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nhiệm vụ “thực hiện
triệt để sự thống nhất các lực lượng
của quốc dân về phương diện quân
sự, tuyên truyền cũng như về phương
diện hành chính, tư pháp, tổng động
viên nhân lực và tài sản của quốc gia
theo sự nhu cầu của tình thế để đưa
kháng chiến tới thắng lợi và nước
nhà đến độc lập hoàn toàn”2.
Nhiệm vụ của Chính phủ Liên
hiệp kháng chiến vô cùng nặng nề:
ứng phó với kẻ thù, thống nhất quốc
dân, động viên nhân lực, tài sản quốc
dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên Chính phủ Liên hiệp kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược.
nhậm chức và tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội
khóa I (ngày 2-3-1946)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.166-167.
2. Dẫn theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t.I, tr.81.
16
BÁC HỒ CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP THẮNG LỢI
Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng non trẻ (năm 1945), đất nước đã
phải đương đầu với những khó khăn, thử thách nặng nề. Gần 20 vạn quân của chính quyền
Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc) kéo vào miền Bắc. Dưới danh nghĩa quân đội Đồng minh vào
tước vũ khí quân Nhật, nhưng âm mưu của Quốc dân Đảng Trung Hoa là nhằm tiêu diệt Đảng
ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính
phủ phản động làm tay sai cho chúng.
Ngày 23-9-1945, được quân Anh và quân Nhật giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm
Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp hòng đặt lại ách thống trị ở Việt
Nam và Đông Dương.
Ngày 20-11-1946, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn.
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - linh hồn của cuộc kháng chiến
chống Pháp
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm
cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!...
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một
lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về
dân tộc ta!”.
Trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4., tr.534
17
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ nghe đồng chí
Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình Chiến dịch Việt Bắc
Thu - Đông năm 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi công tác ở Chiến khu Việt Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí
lãnh đạo Đảng họp bàn kế hoạch mở Chiến dịch Biên giới năm 1950
Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi diễn biến của mặt trận
Đông Khê - Cao Bằng (năm 1950)
“... Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều
cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa...,
ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc...”.
Trích Lời kêu gọi thi đua ái quốc, ngày 11-6-1948,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.556-557
18
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch
Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “... Chiến dịch này là một
chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với
trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn
thành cho kỳ được...”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng họp
tại Việt Bắc quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ
(tháng 12-1953)
Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ chỉ huy
Chiến dịch Điện Biên Phủ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng
mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954)
Bộ đội ta tiến công đồi Him Lam
trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954)
19
17 giờ 40 phút ngày 7-5-1954, bộ
đội ta đã cắm lá cờ quyết chiến quyết
thắng trên nóc hầm tướng Đờ Cátxtơri,
đánh dấu thắng lợi vang dội của Chiến
dịch Điện Biên Phủ.
Cờ chiến thắng bay trên nóc hầm tướng Đờ Cátxtơri ngày 7-5-1954
Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn Huân chương cho các
chiến sĩ tiêu biểu lập công xuất sắc trong Chiến dịch
Điện Biên Phủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thăm và
động viên cán bộ, chiến sĩ lập công xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố: chủ nghĩa yêu nước;
tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam; ý chí
quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của quân đội, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Và, đặc biệt quan trọng là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
20
Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia
được ký kết, theo đó độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt
Nam, Lào và Campuchia được thừa nhận và tôn trọng.
Quang cảnh phiên họp khai mạc Hội nghị Giơnevơ (năm 1954)
”... Tôi thân ái kêu gọi toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ hãy theo đúng đường lối,
làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống
nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc...”.
Trích Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công, ngày 22-7-1954,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.1
21
BÁC HỒ CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC,
GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hòa bình
được lập lại ở Đông Dương, song đất nước tạm bị chia làm hai miền với hai chế độ khác nhau.
Trước tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên 2 nhiệm vụ chiến
lược phải đồng thời tiến hành là: Xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hòa bình, thống
nhất đất nước.
Từ ngày 13 đến ngày 18-7-1954, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa II (mở rộng) bàn về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam đã tán thành nhiệm vụ và
công tác trước mắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra: Tranh thủ và củng cố hòa bình, thực
hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước; tăng cường và xây
dựng lực lượng quân đội nhân dân mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu của tình hình mới;
tiếp tục thực hiện “người cày có ruộng”, ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến
thiết nước nhà.
Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II mở
rộng (1959), xác định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam và đường lối cách mạng ở
miền Nam là: 1- Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình;
thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; ra sức củng cố miền Bắc và đưa miền Bắc tiến
lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh; tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới; 2- Giải phóng
miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người
cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
22
Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký Sắc lệnh số 01/LCT
công bố bản Hiến pháp mới của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã được Quốc hội khóa I thông qua
ngày 31-12-1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa II (tháng 1-1959)
Ngày 27-3-1964, Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã khai
mạc tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội. Tại Hội nghị, Bác Hồ khẳng định: ”Tội ác tày trời của
chúng (đế quốc Mỹ - T.G) làm cho cả loài người văn minh sục sôi căm giận. Chính vì vậy mà 14
triệu đồng bào miền Nam ta kiên quyết đứng dậy kháng chiến đến cùng. Đồng bào miền Bắc
ta vì máu chảy ruột mềm mà không một giờ phút nào không nhớ đến miền Nam anh dũng và
sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà”1. Người kêu gọi “mỗi người chúng ta phải làm việc
bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”2.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đại hội anh hùng,
chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước (tháng 12-1966)
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì
Hội nghị chính trị đặc biệt (ngày 27-3-1964)
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.272, 278.
23
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá một số nơi ở miền Bắc, mở đầu
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất.
“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52 hay ”bê“ gì đi chăng
nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã
đánh là nhất định thắng”.
Trích Bài nói với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 Đoàn Tam Đảo
Bội đội Phòng không - Không quân, ngày 19-7-1965, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.574
Bác Hồ thăm một đơn vị bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc
Bác Hồ thăm trận địa Tiểu đoàn 61 Trung đoàn 236
bộ đội tên lửa - Đoàn Sông Đà
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các anh hùng, chiến sĩ
thi đua miền Nam tại khu vườn Phủ Chủ tịch
Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam
24
Tháng 12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình,
quyết định mở đợt tổng công kích vào dịp Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị thông qua
quyết tâm chiến lược Tết Mậu Thân 1968
Bác Hồ với đoàn đại diện đặc biệt của Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc
(tháng 6-1969)
Ngày 1-1-1968, Bác Hồ gửi Thư
chúc mừng năm mới tới đồng bào và
chiến sĩ cả nước:
“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”1
Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968
(đêm Giao thừa, Tết Nguyên Đán
Mậu Thân), quân dân ta đã đồng loạt Quân Giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, thị xã, căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy trên toàn miền
Nam, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.416.
25
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi
có tầm vóc lớn của quân và dân ta, tạo tiền đề quan trọng buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang
chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Pari năm 1973.
Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam đã
được ký chính thức. Đế quốc Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Đây là thắng
lợi to lớn của cuộc đấu tranh ngoại giao, là kết quả của ý chí quyết thắng đế quốc Mỹ của nhân
dân Việt Nam, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bức thư trả lời Tổng thống Mỹ
Níchxơn ngày 25-8-1969: “Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh
gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”1. Thắng lợi của cuộc
đấu tranh ngoại giao này đã góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Lễ ký chính thức Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (ngày 27-1-1973)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.602.
26
Ngày 30-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Xe tăng và Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập
ngày 30-4-1975
Tổng thống Dương Văn Minh (người ngồi bên phải) chuẩn bị đọc lời
tuyên bố đầu hàng tại Đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975
“... Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi
vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang
chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn
thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ
con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến
công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan
trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc...”.
Đoàn quân chiến thắng
Trích Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.471
Năm tháng trôi qua, nhưng nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công ơn của các anh
hùng, liệt sĩ, đồng chí, đồng bào, những người đã anh dũng hy sinh trong cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc để cho hôm nay chúng ta được sống trong yên ấm, thanh bình.
27
BÁC HỒ
TẤM GƯƠNG TRỌN ĐỜI VÌ ẤM NO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN
“TÔI CHỈ CÓ MỘT SỰ HAM MUỐN, HAM MUỐN TỘT BẬC, LÀ LÀM SAO CHO NƯỚC TA ĐƯỢC HOÀN
TOÀN ĐỘC LẬP, DÂN TA HOÀN TOÀN ĐƯỢC TỰ DO, ĐỒNG BÀO AI CŨNG CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC, AI
CŨNG ĐƯỢC HỌC HÀNH”
Trả lời các nhà báo nước ngoài, ngày 21-1-1946,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187
28
BÁC HỒ QUAN TÂM THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC
Ngày 3-12-1945, Hội nghị đại biểu các
dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất đã
được tổ chức.
“... Xưa kia, nước ta còn chế độ nhà
vua, thì triều đình ít chăm nom đến các dân
tộc thiểu số. Trong thời kỳ Pháp thuộc, thì
chúng xui dân tộc này chống dân tộc kia.
Chúng làm cho đồng bào ta chia rẽ. Chúng
tìm mọi cách đè nén bóc lột các dân tộc ta.
Ngày nay, nhờ sự đoàn kết chặt chẽ giữa
Bác Hồ với các đại biểu dự Hội nghị đại biểu
các dân tộc, nhờ sự hy sinh phấn đấu của tất
các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất ngày 3-12-1945
cả đồng bào, mà chúng ta tranh được quyền
tự do độc lập, và xây nên nước Dân chủ Cộng hòa. Từ đây về sau, các dân tộc đã đoàn kết càng
phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững
vàng, để xây dựng một nước Việt Nam mới. Khi khó nhọc chúng ta cùng gắng sức, lúc thái bình
chúng ta cùng hưởng chung...”1.
Bác Hồ nói chuyện với lớp học chính trị của trên 800 giáo viên
tình nguyện đi dạy các trường miền núi (ngày 22-9-1959)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.155.
29
Ngày 19-4-1946, Đại hội đại biểu các dân
tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Pleiku.
Ngày 3-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lệnh số 58 thành lập Nha Dân tộc
thiểu số để có một cơ quan chuyên tâm
“xem xét các vấn đề chính trị và hành chính
thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước, và
thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc
sống trên đất Việt Nam”.
“... Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con
em của đại gia đình chung: là gia đình Việt Nam; đều có một Tổ quốc chung: là Tổ quốc
Việt Nam...
Trong hơn 80 năm, vì chúng ta bị thực dân Pháp và bọn vua chúa áp bức cho nên chúng
ta lạc hậu, văn hóa kém cỏi, mà chúng nó áp bức được là vì chúng nó chia rẽ chúng ta, vì chúng
ta chưa biết đoàn kết.
Ngày nay, các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình
thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ
nhau như anh em một nhà.
Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê
hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta...”.
Trích Thư gửi các học sinh Trường Sư phạm miền núi Trung ương
nhân dịp trường khai giảng, ngày 19-3-1955,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.375
Bác Hồ gặp gỡ đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số về dự
Lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1959 tại Hà Nội
Bác Hồ với các đại biểu về dự
Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua nông nghiệp
và tổ đổi công toàn quốc (tháng 5-1957)
30
Bác Hồ trao bức trướng của đồng bào Thủ đô gửi tặng đồng bào các dân tộc Khu tự trị Tây Bắc (tháng 5-1959)
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân các dân tộc
tỉnh Lạng Sơn (tháng 2-1960)
Bác Hồ nói chuyện với đồng bào các dân tộc
tại đình Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang (tháng 3-1961)
“... Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian
khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân
dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng
nâng cao đời sống của nhân dân...”1.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.612.
31
“... Trước kia, bọn thực dân
phong kiến nắm quyền làm chủ,
chúng bắt đồng bào ta làm nô lệ.
Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân
chủ, tức là tất cả đồng bào các dân
tộc đều là người chủ nước nhà...
Nhân dân đã làm chủ,
thì phải làm gì để xứng đáng là
người chủ tốt?
Bác Hồ nói chuyện với đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang (tháng 3-1961)
Trước hết, tất cả các dân
tộc, bất kỳ to hay là nhỏ, đều
phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà.
... đồng bào phải ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để làm cho mọi người
áo ấm cơm no...
... đồng bào phải cố gắng xóa nạn mù chữ. Phải biết đọc biết viết thì làm ăn mới tiến bộ được...
... đời sống của đồng bào rẻo cao còn có nhiều khó khăn. Đồng bào các nơi khác, nhất là
cán bộ từ khu đến huyện cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao nhiều hơn nữa...”.
Trích Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Hà Giang, tháng 3-1961,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.94-95
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân vùng mỏ
tỉnh Quảng Ninh (tháng 2-1965)
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân
tỉnh Thái Nguyên (tháng 1-1964)
32
“... Các cán bộ địa phương thuộc các dân tộc phải ra sức công tác, học tập văn hóa,
chính trị và nghiệp vụ, đoàn kết chặt chẽ với anh em cán bộ ở nơi khác đến. Các cán bộ ở
nơi khác đến thì phải yên tâm và tích cực công tác, hết lòng giúp đỡ và đoàn kết với anh em
cán bộ địa phương. Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải đoàn kết chặt chẽ, làm
gương mẫu cho đồng bào...”.
Trích Bài nói tại cuộc mít tinh ở Thuận Châu (Sơn La), ngày 7-5-1959,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.205
Bác Hồ với đại biểu các dân tộc
thiểu số trong Quốc hội
(năm 1963)
“... Ví như một bó que, đây là đồng bào Kinh, Thái, Mèo, Xá, Puộc, Mán, Mường. Từng
cái một có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này có ai bẻ gãy được không?... đồng bào phải
đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này...”.
Trích bài Nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu (Sơn La), tháng 5-1959,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.211
33
“... Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và
các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống
chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.
Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xui giục để
chia rẽ chúng ta.
Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các
dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc cho tất cả các đồng bào.
Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc
chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải
thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau ...
Chủ tịch Hội đồng
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
LÊ MẠNH HÙNG
Phó Chủ tịch Hội đồng
Q. Giám đốc - Tổng Biên tập
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
NGUYỄN ĐỨC TÀI
NGUYỄN NGUYÊN
NGUYỄN HOÀI ANH
2
Nguồn ảnh: Thông tấn xã Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Lịch sử quốc gia,
Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch...
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa
kiệt xuất, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam, đã cống hiến cả cuộc
đời vì nước, vì dân.
Trong cuộc sống hằng ngày của một người bình thường cũng như trong
vai trò lãnh tụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn giữ gìn đạo đức cách mạng.
Người thực hành và yêu cầu mỗi người đều phải thực hành cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư; luôn luôn chăm lo vun đắp tình đoàn kết giữa các dân
tộc, các tầng lớp nhân dân, vun đắp tình đoàn kết quốc tế vì độc lập, ấm no,
tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Trong trái tim đồng bào các dân tộc Việt Nam, Bác Hồ là tấm gương của
người cách mạng trọn đời vì nước, vì dân. Tình cảm mà đồng bào ta dành cho
Người vô cùng thiêng liêng, được thể hiện ở sự tin tưởng, lòng biết ơn và quyết
tâm phấn đấu thực hiện di nguyện của Người. Những thành tựu mà nhân dân
ta đã đạt được trong sự nghiệp đổi mới và bảo vệ đất nước chính là những đóa
hoa dâng lên Người, thể hiện tình cảm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân
ta đối với lãnh tụ Hồ Chí Minh vĩ đại.
5
Nhằm khẳng định những giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh; niềm tin yêu, lòng biết ơn vô hạn của đồng bào các dân
tộc Việt Nam đối với Bác Hồ, qua đó động viên các tầng lớp nhân dân tích
cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách ảnh Bác Hồ - Tấm gương trọn đời vì
nước, vì dân.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 9 năm 2018
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
6
BÁC HỒ
TẤM GƯƠNG TRỌN ĐỜI VÌ ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA DÂN TỘC
“... CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, BIỂU TƯỢNG XUẤT SẮC VỀ SỰ TỰ KHẲNG ĐỊNH DÂN TỘC,
ĐÃ CỐNG HIẾN TRỌN ĐỜI MÌNH CHO SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NHÂN DÂN
VIỆT NAM, GÓP PHẦN VÀO CUỘC ĐẤU TRANH CHUNG CỦA CÁC DÂN TỘC VÌ HÒA BÌNH,
ĐỘC LẬP DÂN TỘC, DÂN CHỦ VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI...”.
Nghị quyết của UNESCO năm 1987
về Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
7
BÁC HỒ TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Bác Hồ sinh ngày 19-5-1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước. Chứng kiến cảnh
sống khổ cực của nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, từ những năm mười một,
mười hai tuổi, Nguyễn Tất Thành (tên lúc đó của Người) đã bước đầu tiếp thu tư tưởng yêu
nước của các bậc cha chú, các sĩ phu yêu nước. Năm mười tám tuổi (1908), Người tham gia
cuộc biểu tình chống thuế của nông dân Thừa Thiên. Bước vào tuổi hai mươi, ý thức tìm đường
ra nước ngoài “xem xét họ làm thế nào... sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” đã được nung nấu
trong trái tim Người.
Cuộc sống khổ cực của nhân dân ta dưới ách thống trị của thực dân Pháp
Với ý chí cứu nước mãnh liệt và lòng yêu thương đồng bào sâu sắc, ngày 5-6-1911, tại
Bến cảng Nhà Rồng thành phố Sài Gòn lịch sử (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), người thanh
niên yêu nước Nguyễn Tất Thành với tên gọi là Văn Ba đã rời Tổ quốc ra đi thực hiện hoài bão
giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của thực dân, đế quốc.
8
Từ năm 1912 đến năm 1918, Người đã đến nhiều nước trên thế giới, khảo sát cuộc sống
và phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng nhân dân lao động bị áp bức.
Tháng 6-1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu
nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây bản yêu sách gồm 8 điểm; trong đó có những nội dung rất
quan trọng như: cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được
quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; đoàn đại biểu thường trực
của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được
những nguyện vọng của người bản xứ...
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Từ Luận cương của V.I. Lênin, Người đã xác định
được con đường giải phóng dân tộc theo xu hướng cách mạng vô sản.
Tháng 12-1920, tham dự Đại hội đại biểu lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái
Quốc đã bỏ phiếu tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở
thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tua
(tháng 12-1920)
Bản Yêu sách của nhân dân
An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây
(bản tiếng Pháp), ký tên
Nguyễn Ái Quốc (năm 1919)
9
Báo Le Paria (“Người cùng khổ”)
do Nguyễn Ái Quốc sáng lập
năm 1922
BÁC HỒ SÁNG LẬP VÀ RÈN LUYỆN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Từ tháng 11-1924 đến tháng 5-1927, Bác Hồ sống và hoạt động tại Quảng Châu (Trung
Quốc). Tại đây, Người đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, hạt nhân là Cộng
sản đoàn, ra báo Thanh niên - cơ quan tuyên truyền của Hội, mở các lớp huấn luyện chính trị
và phương pháp cách mạng cho những người cách mạng Việt Nam để đưa về nước hoạt động.
Từ đầu năm 1925 đến tháng 4-1927, tại số nhà 13 và 13/1 đường Văn Minh - Quảng Châu Trung Quốc (nay là số 248 - 250), Bác Hồ đã trực tiếp mở 3 lớp huấn luyện chính trị cho hơn
70 người. Đầu năm 1927, các bài giảng của Bác Hồ tại các lớp huấn luyện chính trị cho cán
bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do Người tổ chức tại Quảng Châu (Trung Quốc),
trong những năm 1925 - 1927, được tập hợp và in trong cuốn sách Đường Kách mệnh, làm tài
liệu đào tạo cán bộ cách mạng. Cuốn sách lý luận này được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp
các dân tộc bị áp bức xuất bản tại Quảng Châu (Trung Quốc).
Cuốn sách “Đường Kách mệnh”
Tờ báo “Thanh niên” do Nguyễn Ái Quốc sáng lập
năm 1925, là tờ báo cách mạng đầu tiên của nước ta
10
Từ ngày 6-1 đến ngày
7-2-1930, tại Hương Cảng
(Trung Quốc), Bác Hồ chủ
trì Hội nghị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam. Hội nghị
đã nhất trí với đề xuất của
Người về việc hợp nhất các tổ
chức cộng sản thành một đảng
duy nhất - Đảng Cộng sản Việt
Nam; thông qua Chính cương
vắn tắt, Sách lược vắn tắt... Cương lĩnh cách mạng đầu
tiên của Đảng. Từ đây, dân
tộc Việt Nam đã có một chính
đảng đủ sức đoàn kết và lãnh
đạo nhân dân thực hiện cuộc
cách mạng giải phóng dân
tộc, giành độc lập, tự do.
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng là ngọn cờ đoàn kết toàn Đảng, toàn dân; là vũ
khí chiến đấu sắc bén của những người cộng sản Việt Nam trước mọi kẻ thù; là cơ sở cho các
đường lối, chủ trương của cách mạng Việt Nam trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước;
thể hiện sự nhận thức sâu sắc trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam, thể hiện sự độc lập, sáng tạo trong việc quyết định đường lối cách mạng Việt
Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
11
BÁC HỒ CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN
TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
Ngày 28-1-1941, sau 30 năm bôn ba hải ngoại, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách
mạng Việt Nam. Cao Bằng là mảnh đất đầu tiên được Trung ương Đảng và Bác Hồ tin cậy chọn
để xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Ngày 22-12-1944, theo chỉ thị của Người, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân
(tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) đã được thành lập. Trong Chỉ thị thành lập Đội,
Người khẳng định: “... Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong
cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của
nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp
đất nước Việt Nam”1.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng
quân do lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng lập
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.539-540.
12
Những ngày Tháng Tám
sôi sục ở Thủ đô Hà Nội
Mùa hè năm 1945, tình hình thế giới và trong nước diễn biến mau lẹ, có lợi cho cách
mạng Việt Nam, Bác Hồ chỉ thị tìm địa điểm làm trung tâm lãnh đạo cách mạng thay cho căn
cứ địa Cao Bằng.
Ngày 4-5-1945, Bác Hồ bắt đầu cuộc hành trình rời Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào
(Tuyên Quang).
Từ ngày 13 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng được triệu tập, họp ở đình
Tân Trào (Tuyên Quang), Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước giành
chính quyền, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương.
Ngày 16, 17-8-1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang); thông qua lệnh
Tổng khởi nghĩa; bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (ngày 25-8-1945 được cải tổ
thành Chính phủ lâm thời), do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; quyết định quốc kỳ, quốc ca của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
13
Những ngày Tháng Tám
lịch sử ở Sài Gòn
Ngày 18-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc
dân, đồng bào.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh, nhân dân cả
nước đã vùng lên giành chính quyền.
Ngày 19-8-1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội; ngày 23-8-1945 ở Huế;
ngày 25-8-1945 ở Sài Gòn. Chỉ trong vòng 15 ngày đêm, trên đất nước Việt Nam, chính quyền
thực dân phong kiến đã bị lật đổ, chấm dứt ách thống trị gần một trăm năm của thực dân
phương Tây và xóa bỏ vĩnh viễn chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm ở Việt Nam. Lần
đầu tiên trong lịch sử dân tộc, chính quyền thật sự thuộc về nhân dân.
14
BÁC HỒ ĐỌC TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
KHAI SINH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn
độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân:
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống,
quyền sung sướng và quyền tự do”. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự
thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và
lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”1.
Ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
tọa phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bàn những
vấn đề cấp bách.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại
Quảng trường Ba Đình (ngày 2-9-1945)
Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời
(ngày 3-9-1945)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.3.
15
Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu bầu Quốc hội
đầu tiên của nước Việt Nam mới.
“... Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ.
Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử,
vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng
quyền dân chủ của mình...
Ngày mai, tất cả các bạn cử tri, đều phải nhớ đi bầu cử...”1.
Ngày 6-1-1946, lần đầu tiên cuộc Tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn quốc trong
không khí náo nức phấn khởi. Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập ra đời.
Ngày 2-3-1946, Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kỳ
họp thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội, bầu ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Quốc hội trao cho Chính phủ Liên hiệp kháng chiến nhiệm vụ “thực hiện
triệt để sự thống nhất các lực lượng
của quốc dân về phương diện quân
sự, tuyên truyền cũng như về phương
diện hành chính, tư pháp, tổng động
viên nhân lực và tài sản của quốc gia
theo sự nhu cầu của tình thế để đưa
kháng chiến tới thắng lợi và nước
nhà đến độc lập hoàn toàn”2.
Nhiệm vụ của Chính phủ Liên
hiệp kháng chiến vô cùng nặng nề:
ứng phó với kẻ thù, thống nhất quốc
dân, động viên nhân lực, tài sản quốc
dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên Chính phủ Liên hiệp kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược.
nhậm chức và tuyên thệ trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội
khóa I (ngày 2-3-1946)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.166-167.
2. Dẫn theo Lịch sử Quốc hội Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, t.I, tr.81.
16
BÁC HỒ CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP THẮNG LỢI
Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng non trẻ (năm 1945), đất nước đã
phải đương đầu với những khó khăn, thử thách nặng nề. Gần 20 vạn quân của chính quyền
Tưởng Giới Thạch (Trung Quốc) kéo vào miền Bắc. Dưới danh nghĩa quân đội Đồng minh vào
tước vũ khí quân Nhật, nhưng âm mưu của Quốc dân Đảng Trung Hoa là nhằm tiêu diệt Đảng
ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính
phủ phản động làm tay sai cho chúng.
Ngày 23-9-1945, được quân Anh và quân Nhật giúp sức, quân Pháp nổ súng đánh chiếm
Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp hòng đặt lại ách thống trị ở Việt
Nam và Đông Dương.
Ngày 20-11-1946, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn.
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh - linh hồn của cuộc kháng chiến
chống Pháp
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân
nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm
cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất
định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!...
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một
lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về
dân tộc ta!”.
Trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, ngày 19-12-1946,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4., tr.534
17
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hội đồng Chính phủ nghe đồng chí
Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình Chiến dịch Việt Bắc
Thu - Đông năm 1947
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi công tác ở Chiến khu Việt Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí
lãnh đạo Đảng họp bàn kế hoạch mở Chiến dịch Biên giới năm 1950
Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi diễn biến của mặt trận
Đông Khê - Cao Bằng (năm 1950)
“... Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ đều
cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa...,
ai cũng thi đua, ai cũng tham gia kháng chiến và kiến quốc...”.
Trích Lời kêu gọi thi đua ái quốc, ngày 11-6-1948,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.556-557
18
Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch
Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “... Chiến dịch này là một
chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với
trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn
thành cho kỳ được...”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng họp
tại Việt Bắc quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ
(tháng 12-1953)
Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ chỉ huy
Chiến dịch Điện Biên Phủ cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng - Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh nổ súng
mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954)
Bộ đội ta tiến công đồi Him Lam
trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954)
19
17 giờ 40 phút ngày 7-5-1954, bộ
đội ta đã cắm lá cờ quyết chiến quyết
thắng trên nóc hầm tướng Đờ Cátxtơri,
đánh dấu thắng lợi vang dội của Chiến
dịch Điện Biên Phủ.
Cờ chiến thắng bay trên nóc hầm tướng Đờ Cátxtơri ngày 7-5-1954
Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn Huân chương cho các
chiến sĩ tiêu biểu lập công xuất sắc trong Chiến dịch
Điện Biên Phủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thăm và
động viên cán bộ, chiến sĩ lập công xuất sắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là sự kết tinh của nhiều nhân tố: chủ nghĩa yêu nước;
tinh thần cách mạng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam; ý chí
quyết chiến, quyết thắng và sức mạnh của quân đội, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Và, đặc biệt quan trọng là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
20
Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào và Campuchia
được ký kết, theo đó độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt
Nam, Lào và Campuchia được thừa nhận và tôn trọng.
Quang cảnh phiên họp khai mạc Hội nghị Giơnevơ (năm 1954)
”... Tôi thân ái kêu gọi toàn thể đồng bào, quân đội và cán bộ hãy theo đúng đường lối,
làm đúng chính sách của Đảng và Chính phủ, đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống
nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc...”.
Trích Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Giơnevơ thành công, ngày 22-7-1954,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.1
21
BÁC HỒ CÙNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC,
GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hòa bình
được lập lại ở Đông Dương, song đất nước tạm bị chia làm hai miền với hai chế độ khác nhau.
Trước tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên 2 nhiệm vụ chiến
lược phải đồng thời tiến hành là: Xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện hòa bình, thống
nhất đất nước.
Từ ngày 13 đến ngày 18-7-1954, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa II (mở rộng) bàn về nhiệm vụ cách mạng Việt Nam đã tán thành nhiệm vụ và
công tác trước mắt do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra: Tranh thủ và củng cố hòa bình, thực
hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước; tăng cường và xây
dựng lực lượng quân đội nhân dân mạnh mẽ và thích hợp với yêu cầu của tình hình mới;
tiếp tục thực hiện “người cày có ruộng”, ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến
thiết nước nhà.
Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II mở
rộng (1959), xác định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam và đường lối cách mạng ở
miền Nam là: 1- Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình;
thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; ra sức củng cố miền Bắc và đưa miền Bắc tiến
lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ
và giàu mạnh; tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới; 2- Giải phóng
miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người
cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
22
Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký Sắc lệnh số 01/LCT
công bố bản Hiến pháp mới của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
đã được Quốc hội khóa I thông qua
ngày 31-12-1959.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa II (tháng 1-1959)
Ngày 27-3-1964, Hội nghị chính trị đặc biệt do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã khai
mạc tại Hội trường Ba Đình - Hà Nội. Tại Hội nghị, Bác Hồ khẳng định: ”Tội ác tày trời của
chúng (đế quốc Mỹ - T.G) làm cho cả loài người văn minh sục sôi căm giận. Chính vì vậy mà 14
triệu đồng bào miền Nam ta kiên quyết đứng dậy kháng chiến đến cùng. Đồng bào miền Bắc
ta vì máu chảy ruột mềm mà không một giờ phút nào không nhớ đến miền Nam anh dũng và
sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà”1. Người kêu gọi “mỗi người chúng ta phải làm việc
bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt”2.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Đại hội anh hùng,
chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước (tháng 12-1966)
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì
Hội nghị chính trị đặc biệt (ngày 27-3-1964)
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.272, 278.
23
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ dùng không quân đánh phá một số nơi ở miền Bắc, mở đầu
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất.
“Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền. Dù chúng có B.57, B.52 hay ”bê“ gì đi chăng
nữa ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh, mà đã
đánh là nhất định thắng”.
Trích Bài nói với cán bộ, chiến sĩ Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 Đoàn Tam Đảo
Bội đội Phòng không - Không quân, ngày 19-7-1965, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr.574
Bác Hồ thăm một đơn vị bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc
Bác Hồ thăm trận địa Tiểu đoàn 61 Trung đoàn 236
bộ đội tên lửa - Đoàn Sông Đà
Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các anh hùng, chiến sĩ
thi đua miền Nam tại khu vườn Phủ Chủ tịch
Bác Hồ với các anh hùng và dũng sĩ miền Nam
24
Tháng 12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình,
quyết định mở đợt tổng công kích vào dịp Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị thông qua
quyết tâm chiến lược Tết Mậu Thân 1968
Bác Hồ với đoàn đại diện đặc biệt của Chính phủ cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc
(tháng 6-1969)
Ngày 1-1-1968, Bác Hồ gửi Thư
chúc mừng năm mới tới đồng bào và
chiến sĩ cả nước:
“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!”1
Đêm 30 rạng ngày 31-1-1968
(đêm Giao thừa, Tết Nguyên Đán
Mậu Thân), quân dân ta đã đồng loạt Quân Giải phóng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
tấn công bất ngờ vào nhiều thành phố, thị xã, căn cứ quân sự của Mỹ - ngụy trên toàn miền
Nam, trong đó có những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.416.
25
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 được đánh giá là một thắng lợi
có tầm vóc lớn của quân và dân ta, tạo tiền đề quan trọng buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang
chiến tranh, đi đến đàm phán tại Hội nghị Pari năm 1973.
Ngày 27-1-1973, Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam đã
được ký chính thức. Đế quốc Mỹ buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Đây là thắng
lợi to lớn của cuộc đấu tranh ngoại giao, là kết quả của ý chí quyết thắng đế quốc Mỹ của nhân
dân Việt Nam, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bức thư trả lời Tổng thống Mỹ
Níchxơn ngày 25-8-1969: “Nhân dân Việt Nam quyết chiến đấu đến cùng, không sợ hy sinh
gian khổ, để bảo vệ Tổ quốc và các quyền dân tộc thiêng liêng của mình”1. Thắng lợi của cuộc
đấu tranh ngoại giao này đã góp phần quyết định vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.
Lễ ký chính thức Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam (ngày 27-1-1973)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.602.
26
Ngày 30-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.
Xe tăng và Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập
ngày 30-4-1975
Tổng thống Dương Văn Minh (người ngồi bên phải) chuẩn bị đọc lời
tuyên bố đầu hàng tại Đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975
“... Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi
vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang
chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn
thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ
con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến
công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan
trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc...”.
Đoàn quân chiến thắng
Trích Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.471
Năm tháng trôi qua, nhưng nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của
Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam; ghi nhớ công ơn của các anh
hùng, liệt sĩ, đồng chí, đồng bào, những người đã anh dũng hy sinh trong cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc để cho hôm nay chúng ta được sống trong yên ấm, thanh bình.
27
BÁC HỒ
TẤM GƯƠNG TRỌN ĐỜI VÌ ẤM NO, HẠNH PHÚC CỦA NHÂN DÂN
“TÔI CHỈ CÓ MỘT SỰ HAM MUỐN, HAM MUỐN TỘT BẬC, LÀ LÀM SAO CHO NƯỚC TA ĐƯỢC HOÀN
TOÀN ĐỘC LẬP, DÂN TA HOÀN TOÀN ĐƯỢC TỰ DO, ĐỒNG BÀO AI CŨNG CÓ CƠM ĂN ÁO MẶC, AI
CŨNG ĐƯỢC HỌC HÀNH”
Trả lời các nhà báo nước ngoài, ngày 21-1-1946,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187
28
BÁC HỒ QUAN TÂM THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DÂN TỘC
Ngày 3-12-1945, Hội nghị đại biểu các
dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất đã
được tổ chức.
“... Xưa kia, nước ta còn chế độ nhà
vua, thì triều đình ít chăm nom đến các dân
tộc thiểu số. Trong thời kỳ Pháp thuộc, thì
chúng xui dân tộc này chống dân tộc kia.
Chúng làm cho đồng bào ta chia rẽ. Chúng
tìm mọi cách đè nén bóc lột các dân tộc ta.
Ngày nay, nhờ sự đoàn kết chặt chẽ giữa
Bác Hồ với các đại biểu dự Hội nghị đại biểu
các dân tộc, nhờ sự hy sinh phấn đấu của tất
các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ nhất ngày 3-12-1945
cả đồng bào, mà chúng ta tranh được quyền
tự do độc lập, và xây nên nước Dân chủ Cộng hòa. Từ đây về sau, các dân tộc đã đoàn kết càng
phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững
vàng, để xây dựng một nước Việt Nam mới. Khi khó nhọc chúng ta cùng gắng sức, lúc thái bình
chúng ta cùng hưởng chung...”1.
Bác Hồ nói chuyện với lớp học chính trị của trên 800 giáo viên
tình nguyện đi dạy các trường miền núi (ngày 22-9-1959)
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.155.
29
Ngày 19-4-1946, Đại hội đại biểu các dân
tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Pleiku.
Ngày 3-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký Sắc lệnh số 58 thành lập Nha Dân tộc
thiểu số để có một cơ quan chuyên tâm
“xem xét các vấn đề chính trị và hành chính
thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước, và
thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc
sống trên đất Việt Nam”.
“... Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con
em của đại gia đình chung: là gia đình Việt Nam; đều có một Tổ quốc chung: là Tổ quốc
Việt Nam...
Trong hơn 80 năm, vì chúng ta bị thực dân Pháp và bọn vua chúa áp bức cho nên chúng
ta lạc hậu, văn hóa kém cỏi, mà chúng nó áp bức được là vì chúng nó chia rẽ chúng ta, vì chúng
ta chưa biết đoàn kết.
Ngày nay, các dân tộc anh em chúng ta muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình
thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ
nhau như anh em một nhà.
Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê
hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta...”.
Trích Thư gửi các học sinh Trường Sư phạm miền núi Trung ương
nhân dịp trường khai giảng, ngày 19-3-1955,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.375
Bác Hồ gặp gỡ đoàn đại biểu các dân tộc thiểu số về dự
Lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1959 tại Hà Nội
Bác Hồ với các đại biểu về dự
Đại hội liên hoan anh hùng, chiến sĩ thi đua nông nghiệp
và tổ đổi công toàn quốc (tháng 5-1957)
30
Bác Hồ trao bức trướng của đồng bào Thủ đô gửi tặng đồng bào các dân tộc Khu tự trị Tây Bắc (tháng 5-1959)
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân các dân tộc
tỉnh Lạng Sơn (tháng 2-1960)
Bác Hồ nói chuyện với đồng bào các dân tộc
tại đình Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang (tháng 3-1961)
“... Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian
khổ bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.
Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân
dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.
Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng
nâng cao đời sống của nhân dân...”1.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.612.
31
“... Trước kia, bọn thực dân
phong kiến nắm quyền làm chủ,
chúng bắt đồng bào ta làm nô lệ.
Ngày nay, chế độ ta là chế độ dân
chủ, tức là tất cả đồng bào các dân
tộc đều là người chủ nước nhà...
Nhân dân đã làm chủ,
thì phải làm gì để xứng đáng là
người chủ tốt?
Bác Hồ nói chuyện với đồng bào các dân tộc tỉnh Hà Giang (tháng 3-1961)
Trước hết, tất cả các dân
tộc, bất kỳ to hay là nhỏ, đều
phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em một nhà.
... đồng bào phải ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để làm cho mọi người
áo ấm cơm no...
... đồng bào phải cố gắng xóa nạn mù chữ. Phải biết đọc biết viết thì làm ăn mới tiến bộ được...
... đời sống của đồng bào rẻo cao còn có nhiều khó khăn. Đồng bào các nơi khác, nhất là
cán bộ từ khu đến huyện cần phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao nhiều hơn nữa...”.
Trích Bài nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Hà Giang, tháng 3-1961,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.94-95
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân vùng mỏ
tỉnh Quảng Ninh (tháng 2-1965)
Bác Hồ nói chuyện với nhân dân
tỉnh Thái Nguyên (tháng 1-1964)
32
“... Các cán bộ địa phương thuộc các dân tộc phải ra sức công tác, học tập văn hóa,
chính trị và nghiệp vụ, đoàn kết chặt chẽ với anh em cán bộ ở nơi khác đến. Các cán bộ ở
nơi khác đến thì phải yên tâm và tích cực công tác, hết lòng giúp đỡ và đoàn kết với anh em
cán bộ địa phương. Cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên phải đoàn kết chặt chẽ, làm
gương mẫu cho đồng bào...”.
Trích Bài nói tại cuộc mít tinh ở Thuận Châu (Sơn La), ngày 7-5-1959,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.205
Bác Hồ với đại biểu các dân tộc
thiểu số trong Quốc hội
(năm 1963)
“... Ví như một bó que, đây là đồng bào Kinh, Thái, Mèo, Xá, Puộc, Mán, Mường. Từng
cái một có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này có ai bẻ gãy được không?... đồng bào phải
đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này...”.
Trích bài Nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu (Sơn La), tháng 5-1959,
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.211
33
“... Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và
các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống
chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.
Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xui giục để
chia rẽ chúng ta.
Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các
dân tộc. Chính phủ thì có “NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ” để săn sóc cho tất cả các đồng bào.
Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc
chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải
thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau ...
 








Các ý kiến mới nhất