NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 3

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:24' 20-02-2024
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:24' 20-02-2024
Dung lượng: 3.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Sóng Gầm Chương 1
Sóng Gầm Chương 2
Sóng Gầm Chương 3
Sóng Gầm Chương 4
Sóng Gầm Chương 5
Sóng Gầm Chương 6
Sóng Gầm Chương 7
Sóng Gầm Chương 8
Sóng Gầm Chương 9
Sóng Gầm Chương 10
Sóng Gầm Chương 11
Sóng Gầm Chương 12
Sóng Gầm Chương 13
Sóng Gầm Chương 14
Sóng Gầm Chương 15
Cơn Bão Đã Đến Chương 1
Cơn Bão Đã Đến Chương 2
Cơn Bão Đã Đến Chương 3
Cơn Bão Đã Đến Chương 4
Cơn Bão Đã Đến Chương 5
Cơn Bão Đã Đến Chương 6
Cơn Bão Đã Đến Chương 7
Cơn Bão Đã Đến Chương 8
Cơn Bão Đã Đến Chương 9
Cơn Bão Đã Đến Chương 10
Cơn Bão Đã Đến Chương 11
Cơn Bão Đã Đến Chương 12
NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 3
Nguyên Hồng
www.dtv-ebook.com
Sóng Gầm Chương 1
3 giờ ngày 5 tháng 11-1935
...
Cuốn nhật ký của Thanh ghi cũng đã được nhiều. Nhưng đêm nay ghi
xong, Thanh không dám đọc lại. Thanh cất cuốn sổ xuống dưới gối rồi lại
nằm, tay khoanh trên ngực, mắt nhìn lên nóc nhà. Nhà Thanh và cả mấy nhà
bên cạnh đều không có đồng hồ. Thanh cứ ghi thời khắc như thế vì đã thấy
tiếng dao, xiên và móc sắt va chạm nhau xủng xoẻng trong chiếc xe thùng
bọc kẽm đi lấy thịt, lòng lợn trên ba toa (1)đã từ phía chợ Lạc Viên qua
đường Máy nước hai vòi rồi. Tiếp đó là tiếng lộc xộc xập xình của chiếc xe
vệ sinh và ánh đèn tù mù của chiếc đèn chai đỗ ở đầu ngõ xóm nhà Thanh đã
giở về khu Đống Nổi. Cùng lúc có tiếng ho, tiếng hắt hơi dồn dập của ông cụ
Ước ở đầu nhà đằng sau. Đã mấy tháng nay, đêm nào cũng vậy, cứ đến gà
gáy lần thứ hai là thấy ông cụ ho, "Nó là quỷ thế nào ấy, hễ nghe thấy tiếng
gà thì y như rằng nó bắt mình phải dậy". Ông cụ Ước, qua những tiếng thở
dốc, thường phều phào rủa cái bệnh nọ những lúc ho khổ ho sở ấy.
----(1) Nơi mổ các gia súc.
Mẹ Thanh cũng ho, nhưng chỉ sau cơn hen mới ho.
Giờ mẹ Thanh đương ngồi rũ ra, gục lên cái tay nải kê trên thúng quần áo
để chống đỡ với cơn bệnh. Nếu gà gáy lần thứ hai gọi dậy cái quỷ ho của ông
cụ Ước thì những ngày con nước cũng kéo lên cái quỷ hen của mẹ Thanh.
Nhưng hôm nay, chưa đến ngày con nước mẹ Thanh cũng đã lại hen rồi. Trời
thấp, ẩm, có sương. Mặc thêm áo thì bức, không mặc thì lại gai gai lạnh lạnh.
Thời tiết đã hành thêm mẹ Thanh. Còn phần chính là vì mẹ Thanh đã suy kiệt
quá.
Ngọn đèn hoa kỳ không cần vặn to cũng đủ để người ta nhìn thấy rõ từ đôi
gò má, đến lòng trũng mắt và nước da nhợt nhạt một cách đáng sợ của mẹ
Thanh. Tuy đã gục lên tay nải và lả vào bức vách rồi mà người mẹ Thanh vẫn
cứ bị giật bắn lên, vai ngực rúm lại. Và, mỗi lần tất cả ruột, gan, tim, phổi của
mẹ Thanh bị gò rút kêu đánh hự một cái ấy, thì tiếp đó lại có mấy tiếng thào
ra mà chỉ Thanh đoán biết được:
- Giêsuma lạy Chúa con!...
- Giêsuma lạy Chúa con!...
Không phải mẹ Thanh không còn đủ sức kêu lên thành tiếng. Mẹ Thanh
cố chịu để trong nhà ngủ yên đấy thôi. Nhưng đã đến lúc mẹ Thanh không
còn sức giữ được nữa, mà phải rên lên khe khẽ. Vừa phần trong lúc đau đớn
quá sức mình này mẹ Thanh muốn kêu thầm lên như thế để thêm sức cho
mình, nhất là để xin phép lạ cho mình chóng qua cơn khốn khó... Thanh đã
thức giấc vì những tiếng thở giật và rên rỉ ấy. Bóng tối như một hang sâu sập
xuống mặt Thanh khi Thanh nghển trông sang giường mẹ. Thanh lên tiếng
gọi nhưng mẹ Thanh không đáp. Thanh phải dậy, lục tìm bao diêm ở đầu
giường mẹ để thắp đèn.
- Mẹ! Mẹ lại hen à?
Người mẹ lắc đầu:
- Mẹ hen nhẹ thôi. Con dậy làm gì?!
- Mẹ có hút cà độc dược không, con cuốn cho.
- Không!... - Mẹ Thanh lắc đầu, giọng nói càng như hết hơi - Hôm nay
hen nhẹ thôi.
- Cái gì mẹ cũng giấu! Cái gì mẹ cũng cứ chịu cả lấy một mình. Ban chiều
mẹ đã thở không được lại còn đi gánh hai gánh nước. Khuya, máy vắng, con
chỉ chạy ù đi mấy chuyến là đủ cả nước nhà ăn và làm hàng.
Mẹ Thanh không rên nữa, chỉ ôm lấy cái tay nải mà thở. Thanh không
dám nói thêm, vặn to ngọn đèn, để khuất sau cái giành ấm che chỗ mẹ đi.
Nước ủ ban tối vẫn nóng. Thanh rót một chén:
- Mẹ súc miệng rồi uống nước. Nước còn nóng đấy.
Người mẹ mở to mắt nhìn con:
- Rồi mẹ rót mẹ uống.
Thanh nhìn lại mẹ:
- Hay con đi đun nước sôi vậy. Chỗ chè tàu hãy còn pha được một ấm.
Con hãm với cương tàm (2)cho mẹ uống.
- Thôi! Thôi! Sáng tan sương là mẹ đỡ.
----(2) Cương tàm: trứng tằm.
Thanh cau cau trán, đường gân xanh ở thái dương căng lên, phập phồng.
Thanh đi lấy gói hoa cà độc dược phơi khô cài trên tấm liếp phía đầu giường
mẹ. Thanh cuộn một điếu to bằng ngón tay đưa vào tận miệng mẹ, đánh diêm
châm. Người mẹ phải đón lấy hút. Mùi thuốc ngai ngái xộc lên đặc cả gian
nhà. Thanh phải cố nén sự nôn nao ở trong người mà vẫn hắt hơi luôn mấy
cái. Thanh rót sẵn cho mẹ một chén nước rồi về chõng mình nằm.
Cái chõng nọ cũng của cụ Ước mượn một nhà trong xóm cho. Chõng kê
sát với bức vách cửa ra vào. Ở giữa khoảng chõng Thanh nằm và giường của
mẹ Thanh kê một bàn nhỏ. Khi mẹ Thanh dậy thường ngồi uống nước ở bàn.
Hôm nào hen thì hút thuốc. Mẹ Thanh dậy được một lúc thì Thanh cũng dậy.
Mẹ Thanh dậy trước cả chuông nhà thờ lần thứ nhất, cùng vào lúc cái xe thịt
trên chợ Lạc Viên đi ba toa lấy thịt, sau đó thì chuyến xe đổ thùng ở đầu ngõ
giở về. Thanh thường thức giấc trong tiếng đọc kinh của mẹ. Bà đọc thầm thì,
ngồi quay mặt vào vách, hơi ngước lên cây thánh giá treo ở đầu giường. Bàn
thờ của nhà Thanh tuy không còn đủ những lọ hoa, chân nến, tòa tượng Đức
Mẹ, ảnh các ông thánh bà thánh, nhưng mẹ Thanh vẫn cố giữ mang từ Nam
Định ra Hải Phòng này tấm gỗ hình bán nguyệt, một đôi lọ gỗ, hai cành hoa
giấy và một đế gỗ sơn son để cắm thánh giá Đức chúa Giêsu.
Bàn thờ buộc ngay trên cột bương. Cũng ở trên đầu giường, mẹ Thanh
còn cài vào liếp tấm ảnh Trái tim Đức Mẹ in trên giấy vân cát nhũ vàng. Đó
là cái giải kỳ thi kinh bổn ngày mẹ Thanh còn con gái được thưởng vào một
mùa chay trọng thể.
Lạy Nữ vương Mẹ nhân lành làm cho chúng tôi được sống được vui được
cậy thân lạy Mẹ.
Chúng tôi con cháu Eva ở chốn khách đày kêu đến cùng Bà. Chúng tôi ở
nơi khóc lóc kêu khẩn than thở Bà thương...
Tấm ảnh cài gần mặt mẹ Thanh nên lúc mẹ Thanh ngước nhìn, Thanh
thấy đôi mắt mẹ như soi vào đôi mắt long lanh trong ảnh. Nhiều lúc đọc xong
bản kinh, mẹ Thanh còn với tấm ảnh xuống mà hít hít, xuýt xoa nhắc đi nhắc
lại:
- Lạy mẹ hằng cứu giúp con!
- Xin Chúa thương xót con!
- Giêsuma! Sao con phải chịu những phần đau đớn khốn khó như thế này?
Sáng nay Thanh lại dậy cùng với mẹ, nhưng Thanh không thấy có tiếng
mẹ đọc kinh. Thanh đành nằm im mà nghe tiếng thở, tiếng ho của mẹ, và
thỉnh thoảng Thanh phải quay hẳn ra nhìn chỗ mẹ nằm.
Vẫn cái giường bình khung bằng gỗ lim đã đen bóng như sừng: đồ vật quý
giá độc nhất còn lại của gia đình Thanh. Vẫn cái thúng sơn đã thủng, phải vá
bằng miếng vải nâu cứng như mo nang, đựng những quần áo lành lặn mặc
thường, đồ khâu vá và mấy gói thuốc lá dùng những khi cấp bách. Vẫn cái
tay nải bằng vải chéo go mẹ Thanh may từ ngày còn con gái, trong đó không
biết mẹ Thanh xếp những thứ gì mà mỗi khi mẹ Thanh phơi phóng lại bày ra
nào cuộn, nào gói, nào hộp, nào túi... đầy cả một chiếc chiếu và phải là chiếc
chiếu sạch nhất, rồi mẹ Thanh ngồi canh như canh tủ bạc. Một lần Thanh giở
trộm một cuộn to nhất và cũng chằng buộc kỹ nhất ra xem, thì thấy có mấy
đệp những giấy chữ Nho và một cái mũ da bịt tai như kiểu mũ nhà sư trong
lót da rái cá. Mấy đệp giấy đều kẹp bằng mo cau đã phơi khô mà vẫn mềm
nõn như dạ, cắt vừa nhỏ vừa xinh. Còn cái mũ thì hình như không bao giờ đội
đến, nên tuyết lông vẫn mượt mỡ, cầm mũ ngửi thấy thơm tho một cách lạ.
Đây có phải là những đơn thuốc gia truyền quý báu của từ mấy đời các cụ
trước nữa kia để lại cho cụ Lang già mà đôi lần Thanh đã được mẹ kể chuyện
lại một cách kính mến và nhớ tiếc vô cùng không? Cụ Lang già là ông nội mẹ
Thanh. Trong họ có một cụ nữa làm lang và cũng nổi tiếng nhưng vừa là
ngành dưới vừa ít tuổi. Cả các quan lớn tỉnh cũng phải uống thuốc của cụ
Lang già. Nhưng "người" vẫn nghèo. Không những thế lại còn mắc nợ mà
khi "người" hấp hối còn giối đi giối lại cho con cháu thế nào cũng phải giả.
Nhưng con cháu không ai giả nổi mà có một người ở mãi tỉnh Đông nhờ
thuốc "người" đã khỏi bệnh và lại còn được "người" cho cả đơn, nên khi làm
ăn khá giả đã tìm đến "người", thấy chuyện như thế thì nói xin giả các món
nợ cho "người" và còn cố xin được xây đền ơn "người" một ngôi mộ bằng đá.
"Người" chuyên bốc thuốc làm phúc. Những năm dịch tễ, "người" đi chữa
cho cả tỉnh. Ai đưa tiền thì đưa, không đưa thì thôi. "Người" còn xuất cả tiền
cho những kẻ nghèo khó mua ván, mua chiếu. Cái mũ dạ là của một cụ đồ
nho nghe đâu là cháu quan án, quan bố gì bỏ cả tập ấm vào rừng chống nhau
với quan Tây ở ngoài Đông Triều, Quảng Yên rồi ốm chết ở trên núi. Ông cụ
đồ nọ cũng nổi tiếng, nổi tiếng về hay chữ, nhưng đi thi lại không đỗ. Có một
chú khách nghe tiếng ông cụ tìm đến xin chữ ông cụ để treo ở nhà và biếu
ông cụ cái mũ nọ thửa mãi tận Bắc Kinh. Cụ Lang già cũng chữa thuốc và
không lấy một đồng nào của người con giai cả con ông cụ đồ hay chữ nọ.
Ông cụ đồ nọ biếu lại ông cụ Lang cái mũ. Tuy nhận nhưng ông cụ Lang chỉ
cất đi. Cái mũ truyền đến đời ông ngoại Thanh. Ông ngoại Thanh được mỗi
mình mẹ Thanh, và, đến đời "người" nhà lại càng sa sút. Một năm rét chết cả
trâu cày, mẹ Thanh đã mở tay nải ra để lấy mũ đưa cho chú dượng Thanh,
nhưng nghĩ ngợi sao lại gói lại, cất đi...
Từ ngày Thanh có trí khôn, Thanh đã thấy những lúc giở giời, những ngày
con nước, mẹ Thanh ngồi gục lên cái tay nải và cái thúng sơn ấy. Năm nay
Thanh mười tám tuổi rồi. Cũng vẫn trên cái giường bình khung cũ kỹ ấy,
dưới cây thánh giá và tấm ảnh Trái tim Đức Mẹ ấy, chiều hôm ban sáng hay
những lúc vắng vẻ, mưa gió, mẹ Thanh vẫn ngồi một mình lần tràng hạt và
đọc thêm không biết bao nhiêu kinh mà cả những con gái thơ kinh nổi tiếng
trong nhà bà sờ, ở các họ lẻ, ở toàn xứ đọc cũng bị vấp, bị lỗi. Duy chỉ có mẹ
Thanh khi ở nhà cũng như khi đi thi kinh, thi bổn, gặp bản khó đến đâu, lạ
đến đâu cũng đọc trơn tru. Ví thử cho cả "nữ" được thi "ngắm" thì giải hàng
xứ về hết họ ông Thánh Giuse nhà ta mất! Chung quanh cô Na - Na là tên cái
của mẹ Thanh - qua bao nhiêu năm đã đồn đi không biết bao nhiêu chuyện.
Năm năm cứ đến ngày lễ Phục sinh, nhà thờ mở thi "ngắm" mười lăm
đường thánh giá cho toàn xứ mà họa hoằn mới có nhân danh được giải và giải
thưởng về tay một vài "quan viên" ở họ ông thánh khác, người ta lại nhắc đến
cô Na. Nhiều bà táo tợn đã mượn khăn áo đàn ông, xui Na búi tóc mặc quần
trắng, áo the, đi xứ xa xin vào "ngắm", nhưng Na không dám. Có lần, giới nữ
họ bà thánh Ana đánh lừa Na, bảo đến nhà bà trùm có việc cần. Khi Na đến,
áo thụng xanh, khăn trắng đã sắp sẵn, họ xúm lại mặc áo, chít khăn cho Na
rồi bắt Na đứng giữa nhà "ngắm" không cần sách gì cả.
Na khoanh tay, đầu cúi cúi, cất tiếng như có thật nến thắp, trầm đốt, sách
mở và thánh giá ở trước mặt. Bản ngắm dài nhất, nhiều câu, nhiều chữ khó
nhất, người "ngắm" phải lên gối xuống gối để quỳ lạy tượng chịu nạn cũng
nhiều nhất, non nửa tiếng đồng hồ ngân nga thánh thót không gợn một vấp
váp, không chệch một nhịp nhàng. Cho đến chữ cuối cùng, tiếng ngân sau
chót vẫn còn thấy ngân vang như không dứt với tiếng trống con tung tung
một hồi chấm thưởng. Na rành rẽ, khoan thai lúc "ngắm" thế nào thì khi quỳ
lạy thánh giá lần cuối cùng rồi đi về chỗ cũng chững chạc, ý nhị như thế.
Mấy bà đã vồ ôm lấy Na, kêu rú lên, xuýt xoa mãi: "Giêsu! Giêsu! Lạy Chúa
tôi cái con này!". Ông cụ trùm đi về, đứng né bên cửa, không chờ Na cởi áo
cởi khăn, đi vào, lắc đầu:
- Cái con Na thế này thì ghê gớm thật. Năm nay tao bảy mươi tư tuổi, đi
lên xứ Bắc, ra cả xứ Đông, chỉ thấy có mày là một thôi đấy!
Na không phải là người có nhan sắc. Người dong dỏng, da ngăm đen, gò
má xương xương, hay ốm, nhút nhát, cả ngày chỉ quanh quẩn trong nhà với
mẹ. Năm Na đôi mươi, hai mươi hai, hai mươi ba, có mấy đám hỏi. Có cả
đám xin ở rể. Bà mẹ nhận nhời nhưng Na từ chối. Hỏi ý Na, Na chỉ ngập
ngừng nói mẹ được mình con, con có mình mẹ, nghĩ cảnh nhà Na chưa dám
tính đến chuyện chồng con. Na hai mươi bốn, hai mươi nhăm rồi hai mươi
sáu. Đùng cái, một chuyện gớm ghiếc thực thực, hư hư truyền đi. Na có tình
ý với thày giáo dạy đàn trong nhà chung. Tiếp đó mấy tháng, Na càng lặng lẽ,
có khi cả tuần không ra đến ngoài. Rồi thấy nói Na về quê ngoại.
Thanh là đứa con đẻ hoang mà người ta chờ xem mặt nọ. Na đi biệt được
hai năm thì bế Thanh về. Không còn ai nhận được ra Na. Na càng gầy yếu,
càng hấm húi ở nhà thổi xôi nấu chè, làm bánh cho mẹ. Người nhà thày đàn
giỏi, da như ngó cần, mắt như nước, những buổi lễ cả, lễ sinh nhật hay các
ngày tết đã làm trọng thể vô cùng cái dàn nhạc hát của nhà thờ với tiếng đàn
vĩ cầm của y..., cái thằng bị chước mốc ma quỷ cám dỗ ấy, cũng đi đâu ấy
ngay sau khi tai tiếng kia vỡ ra, và Na không được đi nhà thờ. Nghe nói đâu y
vào Huế, vào Sài Gòn. Bị đuổi ra khỏi nhà chung, y đi dạy đàn các con Tây ở
bên ngoài kiếm ăn.
Người ta bảo Thanh giống thằng ấy như lột, từ cái nước da, cái con mắt
đến cái trán và đường gân xanh ở thái dương.
Người ăn ở với mẹ Thanh sau này làm nghề thợ mộc. Người này cũng có
hoa tay, đặc biệt là lợp nhà. Nhà ông lợp, đồng xu chỉ thả nhẹ cũng trôi thẳng
từ nóc xuống đất. Bà Na cho không con gái. Mẹ Thanh đẻ được thêm cái
Ngơ. Ngơ được bốn tháng thì bà ngoại mất. Khi bà cụ sinh thì, mẹ Thanh đi
rước cha về cho bà cụ xưng tội lần sau hết xong, lạy bà cụ và hỏi có dặn dò gì
không thì bà cụ chỉ lắc đầu, rân rấn nước mắt.
Năm Ngơ lên ba, chú dượng Thanh vào tỉnh làm ở dinh quan Xứ bị ngã
gãy tay. Từ ngày đó ông đâm ra nghiện rượu. Ông bỏ nhà đi các tỉnh làm với
một người em họ và chết vì cảm rượu ở nhà trọ. Mẹ Thanh càng gầy ốm, ủ
dột. Tới năm Ngơ lên năm vẫn bấy bớt, đi phải men giường, chẳng biết "dạ"
biết đòi gì cả. Năm nay Ngơ mười ba, người cứ còm nhom, đờ đờ đẫn đẫn. Ai
có đưa cho tờ giấy bạc bảo đổi lấy tiền xu cũng không biết đổi ra sao, thế nào
là đủ, thế nào là thiếu...
... Có đến mười bốn mười lăm năm rồi, mẹ Thanh ốm hen và vẫn ngồi cái
dáng ngồi ấy, thở những hơi thở, ho những tiếng ho ấy, và ở trên cái giường
ấy. Càng ngày mẹ Thanh càng như hệt bà ngoại Thanh. Có khác một chút là
tóc mẹ Thanh chưa bạc hết và người còn có tí da tí thịt chứ không khô gày
quá như bà ngoại Thanh. Còn một điều nữa là mẹ con Thanh không còn ở cái
nơi chôn rau cắt rốn với bao nhiêu điều buồn tủi đau xót của một cảnh đời
nghèo túng cô độc.
Cái tỉnh Nam Định ấy, có lẽ không bao giờ mẹ con Thanh trở lại.
Mẹ Thanh nuôi Thanh ăn học đã đỗ được bằng sơ học Pháp - Việt. Hai mẹ
con đã đưa nhau đi hết cửa nọ đến cửa kia mà không sao có được công việc.
Các nhà Máy sợi, Máy tơ, Máy chiếu, Máy rượu, nhà thầu Vệ sinh, nhà thầu
Sở lục lộ, thậm chí đến xin làm việc cơm không cho mấy nhà mở gara chữa ô
tô... cũng không đâu lấy người. Trái lại, đâu cũng chỉ thấy hàng chục, hàng
trăm người chầu chực, đút lót mà họ lại có nhiều chân tay bên trong lo liệu
cho chứ không như Thanh...! Mười bảy, mười tám tuổi đầu, vừa thôi học ở
nhà trường ra, sức vóc yếu đuối, cảnh nhà đã đến bước cùng kiệt, công việc
như thế, Thanh sẽ làm gì mà sống được bây giờ? Đói khổ, khó khăn, vất vả,
lầm than... đều ghê sợ. Nhưng có một điều Thanh còn thấy ghê sợ hơn, ghê
sợ vô cùng, và đã tới lúc Thanh không thể nào chịu đựng được nữa rồi: thành
kiến và tai tiếng.
Ở cái tỉnh Nam Định của Thanh ấy có đói cũng không được chịu đói một
cách yên thân. Người đói phải làm như mình không đói, để không ai biết
được mình đói, để ý đến cái đói của mình. Nhà bên này đường, bên kia
đường có thiếu bữa gạo phải đem quả son đi vay. Ăn cháo, trong nhà phải
đóng cửa và rít vào tai các con nhỏ không được đòi thêm, tranh nhau, khóc
lóc. Gần đến ngày giỗ chính mà trong nhà chưa mua sắm được các thứ thì
người nàng dâu cả bàng hoàng như sắp ra tòa tử hình. Lúc quẫn bách, có cặp
áo, chiếc chậu thau, chiếc mâm muốn đến hiệu Vạn Bảo cầm thì phải thuê
người đưa đi từ gà gáy. Nhà nào mang công mắc nợ mà thấy tên khách nợ tay
xách cái khăn gói lòi thòi bộ xe lọ, cái cút, chỉ đến đầu ngõ hắng giọng "e
hèm" mắng chó, là cả người già con trẻ ở trong nhà đã òa lên khóc...
Mẹ con Thanh đã bỏ cái tỉnh quê cha đất tổ ấy rồi! Mẹ con Thanh đã đưa
nhau ra đến cái đất Hải Phòng này coi như là sơn cùng thủy tận. Để mà tìm
phương kế sinh nhai. Nghĩa là muốn vất vả lầm than thế nào chăng nữa
nhưng không ai biết mình là ai. Và để được ngày có hai bữa không thì một
bữa lần hồi mà sống...
***
Hút xong điếu thuốc hoa cà độc dược được một lúc, người mẹ dịu dịu cơn
bệnh. Vai, cổ, ngực bà vẫn giật giật nhưng bà đã thở được đều hơn một chút.
Bà đỡ nấc, những cái nấc gò rút cả mỏ ác lại. Người mẹ ngồi gục được yên
trên cái tay nải mà thở. Những tiếng thở ò ò từng phút kéo to hơn chen lẫn
với những tiếng nói ú ớ của một cơn mê thiếp mà thần kinh bị rối loạn vì bộ
máy hô hấp ngột ngạt.
Tiếng xủng xoẻng của chiếc xe đi lấy thịt và tiếng lịch kịch của chiếc xe
đổ thùng không còn nghe thấy nữa. Đêm lại lặng đi một lúc lâu. Dần dần
những tiếng rào rào xáo xác nổi lên ở trong xóm. Tiếng vo gạo, giội nước.
Tiếng chẻ củi đóm. Tiếng cọ rửa xanh nồi, bát đĩa. Tiếng gà vịt quang quác
choe chóe.
Chung quanh đã dậy làm hàng, thổi cơm nấu nước, và sắp sửa đi tầm.
Tháng trước, mẹ Thanh thổi xôi, nấu chè đỗ đen, cũng bán ở đầu ngõ cho
những người đi làm Máy tơ, Xi măng, Sáu Kho và trên phố. Hai tuần nay,
phần vì giời bắt đầu mát, phần vì không có vốn bán chịu đến kỳ tiền, nên mẹ
Thanh nghỉ xôi chè. Cái vốn nhỏ để lần hồi lại mỗi ngày một cùn cụt. Mẹ
Thanh xoay ra làm bánh đúc lạc hành mỡ. Nếu không ốm, thì giờ đây mẹ
Thanh đương quấy bánh. Chốc nữa, trước khi Thanh cũng lên phố, Thanh và
cái Ngơ sẽ có một đĩa cháy bánh, anh em chia nhau ăn chờ đến chiều mẹ về
chợ đong gạo mới nấu cơm.
Cái ánh lửa quen thuộc ở dưới bếp lại thoáng qua trí tưởng Thanh. Thanh
thấy nhớ và ngậm ngùi.
Đã có lần Thanh tính đến sẽ xay bột, quấy bánh rồi đi bán thay mẹ. Một
giai mười tám tuổi học trò, đội mũ ngồi sau mẹt bánh đúc, cắt bánh, lau bát
đũa và đón lấy những đồng xu của đàn bà con gái giả tiền ăn... cái hình ảnh
ấy làm tâm trí Thanh nhói hẳn lên. Thế nào thì thế, người nhìn Thanh cũng
phải lấy làm lạ. Cũng như đối với bao nhiêu lối xoay giở làm ăn kỳ cục của
những người thất nghiệp nhan nhản ngoài đường phố. Không!... Không!...
Thanh cũng như những người còn mạnh chân khỏe tay kia không việc gì mà
xấu hổ. Có thì chỉ đau xót thôi! Đội than, móc cống, kéo xe rác, vác nứa, đẩy
xe ba gác, chẻ củi, quét chợ... khó nhọc lam lũ thế nào cũng được. Miễn là
đừng buôn gánh, bán bưng tranh cả với đàn bà con gái. Miễn là đừng phải lê
la đầu đường cuối chợ với một sức dài vai rộng. Điều này không phải chỉ đàn
ông con giai nghĩ mà tủi cực. Nhiều người con gái lớn mà Thanh đã chú ý,
nhất là khi hỏi chuyện, họ cũng tỏ vẻ ngượng nghịu vì cái mẹt tò he, rổ mía
bưởi cắp bán rong hay khi họ đứng chào khách ở các cổng chợ, rạp hát, bãi
bóng.
Nhưng cả đến đội than, quét đường, múc nước cống, chẻ củi... ở cái thành
phố lớn này sao mà cũng khó xin thế. Sáu Kho, bến tàu, Xi măng, Cốt phát,
lán bè, các tràn than, các cửa hiệu... hàng mười lần, hai mươi lần, năm mươi
lần, trăm lần rồi..., Thanh dò hỏi, nộp đơn, chầu chực, nói khó, cạy cục nhưng
không được làm đâu cả. Có vài chỗ người ta hứa đấy nhưng Thanh chờ hết
nước hết cái, hết hẹn nọ đến hẹn kia, để rồi lại được giả nhời thế này:
- Sở không lấy người nữa!
- Hết việc rồi!
- Đây lại sắp dãn người ra, dãn hẳn một nửa!
Thanh không nhìn mẹ nữa. Thanh trằn người quay mặt vào bức vách.
Thanh ấp tay lên trán, tự nhủ:
- Hay mấy hôm nữa chờ mẹ ta đỡ hen, ta liều theo người ta ra Cẩm Phả,
Vàng Danh xem sao.
Năm tháng rồi còn gì! Bước đường cùng kiệt lại sâu xuống thêm một bực.
Những hy vọng mong manh cùng với những hình ảnh cố tưởng tượng để tâm
trí tươi mát, khỏe lên cũng đã lụi dần. Cái cửa biển Hải Phòng và thành phố
kỹ nghệ của nó có thể coi như là gần tuyệt hết đường sinh sống đối với Thanh
rồi. Nào sở Xi măng hơn vạn cu li, thợ, cai, ký... Nào Máy tơ hàng bốn, năm
nghìn đàn bà con gái đứng máy... Nào hãng tàu Xôpha, sở Carông, sở
Đăngxét chữa các thứ máy... nào Nhà máy gạch, máy cống... nào hãng sợi
Thuận Thái, hãng thầu cầu cống, nhà cửa Đơvanhxy, hãng thầu thức ăn các
tàu biển Thy San... nào nhà buôn Sápphănggiông, to không kém nhà Gôđa
trên Hà Nội,... nào hãng dầu Sen Mỹ, nhà băng Ănglê,... nhất là Sáu Kho...
Sáu Kho hàng hóa, tiền của chất đầy như núi trong các kho hàng và la liệt ở
cả ngoài giời, ngoài bãi... Những cái tên ấy nghe người ta nói lên, truyền đi,
không ai lại tưởng đến đây mà mình lại không có công ăn việc làm, và nếu
mà được làm thì cả nhà sẽ tha hồ no ấm, đời sống sẽ tha hồ chắc chắn.
Khi Thanh bước chân xuống tàu ra đây, nhất là khi tàu chạy từ xa còn ở
bên Kiến An, trông sang thành phố, Thanh đã phấp phỏng tưởng như tim đập
đến vỡ ra mất. Ánh đèn của các tàu biển và bến Sáu Kho cứ như sao sa.
Những nhà máy với những ống khói, những tầng lò trập trùng như những
chặng rừng, những đỉnh núi. Con tàu chở Thanh cặp bến thì vừa tảng sáng.
Sông nước, trời mây đều hiển hiện lấp lánh như cồn vàng, bãi bạc, âm âm,
vang vang. Thuyền bè, xe cộ, gồng gánh, người đi lại cứ dần ùn ùn lên như
mắc cửi ở chung quanh Thanh.
Phải! Làm sao đến đất này mà lại không có công ăn việc làm được? Sự
sống ở đây phải khác hẳn ở cái quê hương của Thanh kia.
Thanh lắc lắc đầu, nhắm mắt lại. Thanh đặt ngang cánh tay lên mắt. Ở
giường bên kia, tiếng thở của mẹ Thanh vẫn ò ò chen lẫn với tiếng mê u ú.
Cái hình thù đầu tóc rã rượi gục lên trên đống tay nải và thúng đồ đạc, vẫn
giật giật, vai ngực gò lại, thon thót. Thanh nghĩ đến mai kia, mẹ Thanh vừa
dứt cơn lại phải làm hàng, chạy chợ luôn. Nhà còn có được hơn đồng bạc thì
đã đong mất bốn hào gạo, ăn từ hôm kia. Cái mẹt bánh đúc lạc để nuôi nhà ba
miệng ăn ấy đã mất đi một góc rồi! Rồi đây cái vốn cuối cùng ấy mà lại đem
ăn hết thì mẹ con sống bằng cái gì?
Tâm trí Thanh thắt lại...
- La ơi! Mày có dậy vỗ vỗ nó mấy cái cho nó ngủ để tao vá nốt miếng
quần này không?
Đằng sau nhà Thanh, đã thấy tiếng mẹ La sa sả gọi con. Nhưng thằng La
vẫn chưa dậy. Con bé con khóc thét hẳn lên, giẫy đạp thình thình.
- Giời đất ơi! Mày có dỗ nó cho tao không!... Tôi chỉ chết vì con với cái
đây. Có mỗi manh quần mặc đi làm mà rách để cả... ra mà không sao vá
được!
Trước cái bếp nấu nước của cụ Ước, mẹ La mặc mỗi cái yếm và cái quần
đùi, cúi cúi sát vào ánh lửa mà dùi từng mũi kim. Thỉnh thoảng mẹ lại lấy cái
quần đương vá mà chấm chấm cặp mắt ứa nước ra cay xè. Trên nhà, ở góc
trong giường, thằng La đã lăn ra phía ngoài, choàng lấy con bé em:
- A mía nào! Ổi nào! Khoai nào! Thằng eeng (3)ngủ đi... ngủ đi...
-----
(3) Thằng eeng ngủ đi: Thằng La nghịch gọi con bé em gái nó là thằng em
và nói chệch ra là thằng eeng (chú thích của tác giả).
Con bé em cứ giãy đành đạch. Thằng La càng tíu tít. Vẫn những câu dỗ
dành đã thành bài của nó:
- Khoai nớ! Mía nớ! Ổi nớ... Ngủ đi... thằng eeng ngủ đi rồi mai anh cõng
đi mua mía nớ... khoai nớ...ổi nớ...
Con bé không thét nữa mà túm lấy tóc La, cào vào mặt La, giãy đạp mạnh
hơn.
- A! Thằng eeng cáu sườn. Ngủ đi... ngủ đi... rồi mai anh cõng đi mua
khoai nào, ổi nào... mía nào... và ra kho xem tàu to về nữa. Á á thằng eeng...
thằng eeng ghê quá!... Lại cắn anh nữa! Á á, ghê quá! Đừng cào! Đừng cắn
anh nhé... eeng! Eeng! Á á sứt mẹ nó cả mũi người ta rồi! Chảy máu mắt
người ta ra rồi... Ông đếch dỗ nữa... đếch dỗ con quái con nữa, cả ngày cõng
mày, ông khòm cả lưng, vẹo cả xương sườn... Ông đếch làm đày tớ mày
nữa...
Đốp... đốp... thằng La đạp con bé em ra, phát luôn mấy cái vào đít. Nó lấy
vạt áo dụi dụi mắt và chấm chấm chỗ bị cào, có lẽ bị xước hẳn thịt hay sao
mà xót thế này. Người mẹ lòng thòng ôm cả cái quần vá đùm vá đụp chạy lên
nhà:
- Khổ chưa! Khổ chưa! Cái thân đời tôi còn có ai khốn nạn hơn không?
Giời ơi! Giời!
Thấy mẹ chạy vào và lên tiếng, con bé quay ra và khóc nức nở. Người mẹ
nằm kềnh ra bên nó, xốc nó gối đầu lên cánh tay, rồi trật vội yếm cho nó sờ
vú:
- Đây cái thèm của nó đây! Cái thèm của nó đây!...
Con bé sục ngay vào cái vú beo mà bú, vừa xoắn lấy đầu vú bên kia vê vê.
Tiếng khóc bặt hẳn. Chỉ còn tiếng thở khụt khịt. Năm nay con bé đã lên bốn.
Tuy đã cai sữa nhưng nó vẫn còn giữ cái lệ bú vú da và phải sờ cái "thèm"
mới ngủ được. Mặc mẹ nâng niu em, thằng La lại lăn một vòng vào xó
giường cạnh đứa em gái lớn díp mắt lại ngủ.
- Cha bố nó, nó đi bêu nắng bêu gió con gái tôi thế này làm gì mà con gái
tôi chả nóng đầu, chả quấy mẹ. Cha bố nó, con gái tôi là ngoan lắm cơ, quý
lắm cơ. Sau này tôi chả ở với cái thằng giặc ấy, tôi chỉ ở với con gái tôi thôi.
Chỉ có con gái tôi là biết thương mẹ thôi. Thằng giặc ấy rồi lại chỉ như cái
thằng bố nó! Cái thằng bố nó là quân khốn, quân nạn! Làm được đồng nào
không uống rượu thì cũng đem đến bàn xóc đĩa cúng hết! Nó ăn ngập mồm
ngập miệng. Chân giò ư! Nem chạo ư! Cá rán ư! Thịt chó ư! Chẳng còn biết
đến ai cả. Sống vạch mặt, chết chỉ mồ. Chuyến này mà mày còn vác cái mặt
mo mặt thớt về nhà thì bà đạp vào mặt cho ấy.
Mẹ La vừa xoa xoa lưng con vừa ru rím, kể lể. Vẫn những câu nói nhắc đi
nhắc lại mà chung quanh nghe đã thuộc. Và cuối cùng lại:
- Tôi chỉ quý con gái tôi thôi! Sau này tôi chỉ ở với con gái tôi thôi!
Đứa con gái đầu lòng của mẹ La là cái Lai rồi đến cái Lê nhớn. Lúc đó
thằng La bé nhất thì mẹ La vỗ về nựng nịu "Tôi chỉ ở với con giai bé tôi thôi!
Chỉ có con giai bé tôi là thương tôi thôi!". Rồi thằng La lớn lên, cái Lai, cái
Lê nhớn chê nghèo bỏ đi. Người mẹ thêm đứa khác. Thì đứa này lại được
nựng nịu như thế. Tới con bé này là thứ bảy. Không biết rồi đây mẹ La sẽ
nựng thế nào khi mà người chồng rượu chè cờ bạc nọ vẫn cứ lúc nào bòn
không ra sờ không thấy lại mò về. Vợ lại chửa, lại đẻ. Vẫn một mình chạy
vạy nuôi đàn con.
Con bé đã dứt đánh phựt cái đầu vú, miệng chèm chẹp mấy cái. Nó quay
ra, xoạc hai chân, thở khò khò. Mẹ La khẽ nhấc cánh tay ra, quơ cái áo rách
gối đầu cho con rồi ôm cái quần xuống bếp.
Cụ Ước ngước mặt lên, nheo nheo mắt hỏi:
- Mẹ La vá chưa xong à?
- Ông tính xong thế nào mà xong. Con chỉ túm lại cho nó khỏi... kẻo nữa
ra đường mình có đứng bên cạnh những đứa giàu có sang trọng, chúng nó lại
xấu hổ. Chúng nó lại bảo mình không nhờ vả được chúng nó thì chửi khéo
chúng nó... "À! Chúng mày bụng bọ thì bà chật "nhồn" vào mặt chúng mày
đây này"...
- Con mẹ này chỉ được cái thế! Mày còn là khổ vì những nhời ăn tiếng
nói!
- Vâng chỉ vì nhời ăn tiếng nói con còn là khổ. Như vậy thì con phải liệu
liệu mà khoan thai, ngọt ngào, mô phạm để giữ sĩ diện cho chúng nó... cho
ông bằng lòng nhé.
Cụ Ước cười. Mẹ La xỏ xong sợi chỉ, ngừng lại hỏi cụ Ước:
- Ông này! Từ chiều hôm qua bà giáo Thanh lại suyễn nặng, không biết
giờ đã đỡ chưa?
- Ấy, hôm qua giở giời, cái quỷ ho nó cũng lại hành tao. Tao lại ho rút cả
ruột cả gan. Ban tối tao cũng định sang nhưng thấy cậu giáo cậu ấy không có
nhà nên thôi. À mà cậu ấy vẫn cứ dậy làm gì mà sớm thế? Mới ba giờ đã thấy
cậu ấy ngồi hấm húi viết rồi.
Chợt một bên đầu mẹ La lại đau nhói. Mẹ nhăn mặt một cái, cúi xuống
cho vừa đỡ đau vừa đỡ hoa mắt:
- Con cũng thế ông ạ. Không hiểu cái "sản" nó lại cắn hay sao mà nửa bên
trái đầu con cứ như dùi đóng thế này?
Mẹ La lại nghĩ đến ngày mai phiên chợ: có các thuyền mía đến dỡ hàng
và các thuyền bên Kiến An sang ăn than thì mẹ làm ăn thế nào?
- Không làm thì đói, làm thì chói xương hom.
Mẹ La chép miệng, thở dài khẽ, lại cúi xuống miếng mụn vá cái chỗ đũng
quần xoạc ra bằng bàn tay. Cụ Ước rắc thêm nắm mùn cưa, chất thêm mấy
đầu củi, lọm khọm đứng lên:
- Có đun nữa thì mẹ mày cho hai thanh củi kia vào nhé. Sôi già thì bắc ra
đổ vào vò ủ kỹ cho tao. Tao sang với cậu ấy một tí không có chốc nữa cậu ấy
cũng lại đi...
Trời đất vẫn tối. Sương dày từng tảng quấn theo ông cụ. Gió lành lạnh.
Như có mưa bụi. Thấy tiếng người ho và lào phào gọi ngoài cửa, Thanh
nhỏm dậy:
- Cụ để cháu mở.
Thanh nâng tấm liếp, gượng nhẹ kéo ra. Cụ Ước bước vào. Tuy người ông
cụ đã khòm khòm, mấy lâu nay lại gầy đi nhiều nhưng ông cụ vẫn như con
gấu lớn đứng ở giữa gian nhà. Cặp lông mày của ông cụ bạc phơ, rủ cả xuống
mắt. Có những sợi dài cong vươn lên như lông mày của những ông cụ đẹp lão
ngày xưa trong tranh Tàu. Mắt ông cụ hơi nheo lại mà vẫn lấp lánh. Ông cụ
đặt cái ấm tích lên bàn, nhìn Thanh nói:
- Bà lại mỏi, không làm hàng được?
- Vâng, mẹ cháu lại hen. Cụ nấu nước rồi?
- Hôm nay tôi cũng mệt, nghỉ thì tiếc. Tôi nấu có ấm nhỏ bán chốc nhát
cho anh em quen rồi về sớm. Cái chè hôm nay thật là chè vườn bà cụ Điếc
bên Thủy Nguyên, xanh và được nước lắm. Tôi hãm một tích đưa sang để bà
uống sớm.
Ông cụ nói đoạn nhấc cái giành ấm ở mé trong bàn ra, bỏ cái tích của
mình vào:
- Bà ngủ cứ để bà ngủ. Cậu uống với tôi.
Thanh còn đương luống cuống trước những cử chỉ ân cần mà tự nhiên nọ
thì ông cụ nói tiếp:
- Chốc nữa cậu có xuống phố thì lại đến hàng tôi. Hôm kia lão cai bao
khoán ở nhà Đờvanhxy nó gọi người đi làm Hội chợ.
Đã nhiều lần cụ Ước mời Thanh. Hễ Thanh đến hàng ông cụ là ông cụ bắt
hút thuốc lá, rồi hôm thì cùng ông cụ ăn bánh rán bánh kê.
Thường bao giờ cũng ăn khoai, thứ khoai đỗ vàng, bở như bột đậu xanh,
nhiều bữa ông cụ ăn với tôm trứng rang thay bữa cơm. Như lại thấy những ý
nghĩ ngại ngùng của Thanh, cụ Ước cầm chén nước Thanh rót, uống:
- Cậu cứ đến hàng tôi, gặp việc thì cậu đi làm, không thì ngồi nói chuyện.
Tôi bây giờ chỉ còn cái vui ấy thôi là nấu được ấm chè ngon bán và được
nghe chuyện.
Nước chè rót ra hãy còn nóng sút, nhưng uống vào lại thấy mát như có
ướp một thứ hoa gì đặc biệt. Thanh uống hết chén nước, trong người cồn hẳn
lên.
- Cậu giáo này, bà đã ăn cái tắc kè chưa?
- Thưa cụ rồi đấy ạ. Mẹ cháu không uống được rượu ngâm thì nấu cháo
ăn.
- Thế bà đã ăn cái nghệ hấp với trứng vịt chưa?
- Đã, mẹ cháu ăn mấy lần.
Cụ Ước ngẫm nghĩ:
- À, thế thì có ai mách bà cái cá trê xát với nhựa xương rồng đem nướng
ăn?
- Ăn cả rồi đấy ạ! Mẹ cháu ăn cũng nôn ra cả mật xanh mật vàng, lử đi
mất mấy hôm.
Cụ Ước cười:
- Thế thì cũng như cái quỷ ho của tôi đấy! Có lẽ phải đi tìm, đi cầu cho
được cụ Biển Thước hay cụ Lãn Ông về, may ra mới chữa khỏi.
Tuy ngoài miệng cười, nhưng trong lòng ông cụ lại thấy áy náy. Bà ấy cứ
tháng một tuần, tháng hai tuần ốm thế này thì mẹ con làm ăn thế nào? Chưa
thấy nhà nào như vậy. Có ăn cháo hay nhịn đói cũng không chịu hỏi vay gạo
ai. Chung quanh có xét nét lắm mới biết. Mẹ con cứ lẳng lặng, đã ít nói lại
càng ít nói. Nhất là mẹ. Trông cứ như sờ, bà mụ. Không ai thấy bà ấy cười
hay có một tiếng to. Từ lúc dọn đ...
Sóng Gầm Chương 1
Sóng Gầm Chương 2
Sóng Gầm Chương 3
Sóng Gầm Chương 4
Sóng Gầm Chương 5
Sóng Gầm Chương 6
Sóng Gầm Chương 7
Sóng Gầm Chương 8
Sóng Gầm Chương 9
Sóng Gầm Chương 10
Sóng Gầm Chương 11
Sóng Gầm Chương 12
Sóng Gầm Chương 13
Sóng Gầm Chương 14
Sóng Gầm Chương 15
Cơn Bão Đã Đến Chương 1
Cơn Bão Đã Đến Chương 2
Cơn Bão Đã Đến Chương 3
Cơn Bão Đã Đến Chương 4
Cơn Bão Đã Đến Chương 5
Cơn Bão Đã Đến Chương 6
Cơn Bão Đã Đến Chương 7
Cơn Bão Đã Đến Chương 8
Cơn Bão Đã Đến Chương 9
Cơn Bão Đã Đến Chương 10
Cơn Bão Đã Đến Chương 11
Cơn Bão Đã Đến Chương 12
NGUYÊN HỒNG TOÀN TẬP 3
Nguyên Hồng
www.dtv-ebook.com
Sóng Gầm Chương 1
3 giờ ngày 5 tháng 11-1935
...
Cuốn nhật ký của Thanh ghi cũng đã được nhiều. Nhưng đêm nay ghi
xong, Thanh không dám đọc lại. Thanh cất cuốn sổ xuống dưới gối rồi lại
nằm, tay khoanh trên ngực, mắt nhìn lên nóc nhà. Nhà Thanh và cả mấy nhà
bên cạnh đều không có đồng hồ. Thanh cứ ghi thời khắc như thế vì đã thấy
tiếng dao, xiên và móc sắt va chạm nhau xủng xoẻng trong chiếc xe thùng
bọc kẽm đi lấy thịt, lòng lợn trên ba toa (1)đã từ phía chợ Lạc Viên qua
đường Máy nước hai vòi rồi. Tiếp đó là tiếng lộc xộc xập xình của chiếc xe
vệ sinh và ánh đèn tù mù của chiếc đèn chai đỗ ở đầu ngõ xóm nhà Thanh đã
giở về khu Đống Nổi. Cùng lúc có tiếng ho, tiếng hắt hơi dồn dập của ông cụ
Ước ở đầu nhà đằng sau. Đã mấy tháng nay, đêm nào cũng vậy, cứ đến gà
gáy lần thứ hai là thấy ông cụ ho, "Nó là quỷ thế nào ấy, hễ nghe thấy tiếng
gà thì y như rằng nó bắt mình phải dậy". Ông cụ Ước, qua những tiếng thở
dốc, thường phều phào rủa cái bệnh nọ những lúc ho khổ ho sở ấy.
----(1) Nơi mổ các gia súc.
Mẹ Thanh cũng ho, nhưng chỉ sau cơn hen mới ho.
Giờ mẹ Thanh đương ngồi rũ ra, gục lên cái tay nải kê trên thúng quần áo
để chống đỡ với cơn bệnh. Nếu gà gáy lần thứ hai gọi dậy cái quỷ ho của ông
cụ Ước thì những ngày con nước cũng kéo lên cái quỷ hen của mẹ Thanh.
Nhưng hôm nay, chưa đến ngày con nước mẹ Thanh cũng đã lại hen rồi. Trời
thấp, ẩm, có sương. Mặc thêm áo thì bức, không mặc thì lại gai gai lạnh lạnh.
Thời tiết đã hành thêm mẹ Thanh. Còn phần chính là vì mẹ Thanh đã suy kiệt
quá.
Ngọn đèn hoa kỳ không cần vặn to cũng đủ để người ta nhìn thấy rõ từ đôi
gò má, đến lòng trũng mắt và nước da nhợt nhạt một cách đáng sợ của mẹ
Thanh. Tuy đã gục lên tay nải và lả vào bức vách rồi mà người mẹ Thanh vẫn
cứ bị giật bắn lên, vai ngực rúm lại. Và, mỗi lần tất cả ruột, gan, tim, phổi của
mẹ Thanh bị gò rút kêu đánh hự một cái ấy, thì tiếp đó lại có mấy tiếng thào
ra mà chỉ Thanh đoán biết được:
- Giêsuma lạy Chúa con!...
- Giêsuma lạy Chúa con!...
Không phải mẹ Thanh không còn đủ sức kêu lên thành tiếng. Mẹ Thanh
cố chịu để trong nhà ngủ yên đấy thôi. Nhưng đã đến lúc mẹ Thanh không
còn sức giữ được nữa, mà phải rên lên khe khẽ. Vừa phần trong lúc đau đớn
quá sức mình này mẹ Thanh muốn kêu thầm lên như thế để thêm sức cho
mình, nhất là để xin phép lạ cho mình chóng qua cơn khốn khó... Thanh đã
thức giấc vì những tiếng thở giật và rên rỉ ấy. Bóng tối như một hang sâu sập
xuống mặt Thanh khi Thanh nghển trông sang giường mẹ. Thanh lên tiếng
gọi nhưng mẹ Thanh không đáp. Thanh phải dậy, lục tìm bao diêm ở đầu
giường mẹ để thắp đèn.
- Mẹ! Mẹ lại hen à?
Người mẹ lắc đầu:
- Mẹ hen nhẹ thôi. Con dậy làm gì?!
- Mẹ có hút cà độc dược không, con cuốn cho.
- Không!... - Mẹ Thanh lắc đầu, giọng nói càng như hết hơi - Hôm nay
hen nhẹ thôi.
- Cái gì mẹ cũng giấu! Cái gì mẹ cũng cứ chịu cả lấy một mình. Ban chiều
mẹ đã thở không được lại còn đi gánh hai gánh nước. Khuya, máy vắng, con
chỉ chạy ù đi mấy chuyến là đủ cả nước nhà ăn và làm hàng.
Mẹ Thanh không rên nữa, chỉ ôm lấy cái tay nải mà thở. Thanh không
dám nói thêm, vặn to ngọn đèn, để khuất sau cái giành ấm che chỗ mẹ đi.
Nước ủ ban tối vẫn nóng. Thanh rót một chén:
- Mẹ súc miệng rồi uống nước. Nước còn nóng đấy.
Người mẹ mở to mắt nhìn con:
- Rồi mẹ rót mẹ uống.
Thanh nhìn lại mẹ:
- Hay con đi đun nước sôi vậy. Chỗ chè tàu hãy còn pha được một ấm.
Con hãm với cương tàm (2)cho mẹ uống.
- Thôi! Thôi! Sáng tan sương là mẹ đỡ.
----(2) Cương tàm: trứng tằm.
Thanh cau cau trán, đường gân xanh ở thái dương căng lên, phập phồng.
Thanh đi lấy gói hoa cà độc dược phơi khô cài trên tấm liếp phía đầu giường
mẹ. Thanh cuộn một điếu to bằng ngón tay đưa vào tận miệng mẹ, đánh diêm
châm. Người mẹ phải đón lấy hút. Mùi thuốc ngai ngái xộc lên đặc cả gian
nhà. Thanh phải cố nén sự nôn nao ở trong người mà vẫn hắt hơi luôn mấy
cái. Thanh rót sẵn cho mẹ một chén nước rồi về chõng mình nằm.
Cái chõng nọ cũng của cụ Ước mượn một nhà trong xóm cho. Chõng kê
sát với bức vách cửa ra vào. Ở giữa khoảng chõng Thanh nằm và giường của
mẹ Thanh kê một bàn nhỏ. Khi mẹ Thanh dậy thường ngồi uống nước ở bàn.
Hôm nào hen thì hút thuốc. Mẹ Thanh dậy được một lúc thì Thanh cũng dậy.
Mẹ Thanh dậy trước cả chuông nhà thờ lần thứ nhất, cùng vào lúc cái xe thịt
trên chợ Lạc Viên đi ba toa lấy thịt, sau đó thì chuyến xe đổ thùng ở đầu ngõ
giở về. Thanh thường thức giấc trong tiếng đọc kinh của mẹ. Bà đọc thầm thì,
ngồi quay mặt vào vách, hơi ngước lên cây thánh giá treo ở đầu giường. Bàn
thờ của nhà Thanh tuy không còn đủ những lọ hoa, chân nến, tòa tượng Đức
Mẹ, ảnh các ông thánh bà thánh, nhưng mẹ Thanh vẫn cố giữ mang từ Nam
Định ra Hải Phòng này tấm gỗ hình bán nguyệt, một đôi lọ gỗ, hai cành hoa
giấy và một đế gỗ sơn son để cắm thánh giá Đức chúa Giêsu.
Bàn thờ buộc ngay trên cột bương. Cũng ở trên đầu giường, mẹ Thanh
còn cài vào liếp tấm ảnh Trái tim Đức Mẹ in trên giấy vân cát nhũ vàng. Đó
là cái giải kỳ thi kinh bổn ngày mẹ Thanh còn con gái được thưởng vào một
mùa chay trọng thể.
Lạy Nữ vương Mẹ nhân lành làm cho chúng tôi được sống được vui được
cậy thân lạy Mẹ.
Chúng tôi con cháu Eva ở chốn khách đày kêu đến cùng Bà. Chúng tôi ở
nơi khóc lóc kêu khẩn than thở Bà thương...
Tấm ảnh cài gần mặt mẹ Thanh nên lúc mẹ Thanh ngước nhìn, Thanh
thấy đôi mắt mẹ như soi vào đôi mắt long lanh trong ảnh. Nhiều lúc đọc xong
bản kinh, mẹ Thanh còn với tấm ảnh xuống mà hít hít, xuýt xoa nhắc đi nhắc
lại:
- Lạy mẹ hằng cứu giúp con!
- Xin Chúa thương xót con!
- Giêsuma! Sao con phải chịu những phần đau đớn khốn khó như thế này?
Sáng nay Thanh lại dậy cùng với mẹ, nhưng Thanh không thấy có tiếng
mẹ đọc kinh. Thanh đành nằm im mà nghe tiếng thở, tiếng ho của mẹ, và
thỉnh thoảng Thanh phải quay hẳn ra nhìn chỗ mẹ nằm.
Vẫn cái giường bình khung bằng gỗ lim đã đen bóng như sừng: đồ vật quý
giá độc nhất còn lại của gia đình Thanh. Vẫn cái thúng sơn đã thủng, phải vá
bằng miếng vải nâu cứng như mo nang, đựng những quần áo lành lặn mặc
thường, đồ khâu vá và mấy gói thuốc lá dùng những khi cấp bách. Vẫn cái
tay nải bằng vải chéo go mẹ Thanh may từ ngày còn con gái, trong đó không
biết mẹ Thanh xếp những thứ gì mà mỗi khi mẹ Thanh phơi phóng lại bày ra
nào cuộn, nào gói, nào hộp, nào túi... đầy cả một chiếc chiếu và phải là chiếc
chiếu sạch nhất, rồi mẹ Thanh ngồi canh như canh tủ bạc. Một lần Thanh giở
trộm một cuộn to nhất và cũng chằng buộc kỹ nhất ra xem, thì thấy có mấy
đệp những giấy chữ Nho và một cái mũ da bịt tai như kiểu mũ nhà sư trong
lót da rái cá. Mấy đệp giấy đều kẹp bằng mo cau đã phơi khô mà vẫn mềm
nõn như dạ, cắt vừa nhỏ vừa xinh. Còn cái mũ thì hình như không bao giờ đội
đến, nên tuyết lông vẫn mượt mỡ, cầm mũ ngửi thấy thơm tho một cách lạ.
Đây có phải là những đơn thuốc gia truyền quý báu của từ mấy đời các cụ
trước nữa kia để lại cho cụ Lang già mà đôi lần Thanh đã được mẹ kể chuyện
lại một cách kính mến và nhớ tiếc vô cùng không? Cụ Lang già là ông nội mẹ
Thanh. Trong họ có một cụ nữa làm lang và cũng nổi tiếng nhưng vừa là
ngành dưới vừa ít tuổi. Cả các quan lớn tỉnh cũng phải uống thuốc của cụ
Lang già. Nhưng "người" vẫn nghèo. Không những thế lại còn mắc nợ mà
khi "người" hấp hối còn giối đi giối lại cho con cháu thế nào cũng phải giả.
Nhưng con cháu không ai giả nổi mà có một người ở mãi tỉnh Đông nhờ
thuốc "người" đã khỏi bệnh và lại còn được "người" cho cả đơn, nên khi làm
ăn khá giả đã tìm đến "người", thấy chuyện như thế thì nói xin giả các món
nợ cho "người" và còn cố xin được xây đền ơn "người" một ngôi mộ bằng đá.
"Người" chuyên bốc thuốc làm phúc. Những năm dịch tễ, "người" đi chữa
cho cả tỉnh. Ai đưa tiền thì đưa, không đưa thì thôi. "Người" còn xuất cả tiền
cho những kẻ nghèo khó mua ván, mua chiếu. Cái mũ dạ là của một cụ đồ
nho nghe đâu là cháu quan án, quan bố gì bỏ cả tập ấm vào rừng chống nhau
với quan Tây ở ngoài Đông Triều, Quảng Yên rồi ốm chết ở trên núi. Ông cụ
đồ nọ cũng nổi tiếng, nổi tiếng về hay chữ, nhưng đi thi lại không đỗ. Có một
chú khách nghe tiếng ông cụ tìm đến xin chữ ông cụ để treo ở nhà và biếu
ông cụ cái mũ nọ thửa mãi tận Bắc Kinh. Cụ Lang già cũng chữa thuốc và
không lấy một đồng nào của người con giai cả con ông cụ đồ hay chữ nọ.
Ông cụ đồ nọ biếu lại ông cụ Lang cái mũ. Tuy nhận nhưng ông cụ Lang chỉ
cất đi. Cái mũ truyền đến đời ông ngoại Thanh. Ông ngoại Thanh được mỗi
mình mẹ Thanh, và, đến đời "người" nhà lại càng sa sút. Một năm rét chết cả
trâu cày, mẹ Thanh đã mở tay nải ra để lấy mũ đưa cho chú dượng Thanh,
nhưng nghĩ ngợi sao lại gói lại, cất đi...
Từ ngày Thanh có trí khôn, Thanh đã thấy những lúc giở giời, những ngày
con nước, mẹ Thanh ngồi gục lên cái tay nải và cái thúng sơn ấy. Năm nay
Thanh mười tám tuổi rồi. Cũng vẫn trên cái giường bình khung cũ kỹ ấy,
dưới cây thánh giá và tấm ảnh Trái tim Đức Mẹ ấy, chiều hôm ban sáng hay
những lúc vắng vẻ, mưa gió, mẹ Thanh vẫn ngồi một mình lần tràng hạt và
đọc thêm không biết bao nhiêu kinh mà cả những con gái thơ kinh nổi tiếng
trong nhà bà sờ, ở các họ lẻ, ở toàn xứ đọc cũng bị vấp, bị lỗi. Duy chỉ có mẹ
Thanh khi ở nhà cũng như khi đi thi kinh, thi bổn, gặp bản khó đến đâu, lạ
đến đâu cũng đọc trơn tru. Ví thử cho cả "nữ" được thi "ngắm" thì giải hàng
xứ về hết họ ông Thánh Giuse nhà ta mất! Chung quanh cô Na - Na là tên cái
của mẹ Thanh - qua bao nhiêu năm đã đồn đi không biết bao nhiêu chuyện.
Năm năm cứ đến ngày lễ Phục sinh, nhà thờ mở thi "ngắm" mười lăm
đường thánh giá cho toàn xứ mà họa hoằn mới có nhân danh được giải và giải
thưởng về tay một vài "quan viên" ở họ ông thánh khác, người ta lại nhắc đến
cô Na. Nhiều bà táo tợn đã mượn khăn áo đàn ông, xui Na búi tóc mặc quần
trắng, áo the, đi xứ xa xin vào "ngắm", nhưng Na không dám. Có lần, giới nữ
họ bà thánh Ana đánh lừa Na, bảo đến nhà bà trùm có việc cần. Khi Na đến,
áo thụng xanh, khăn trắng đã sắp sẵn, họ xúm lại mặc áo, chít khăn cho Na
rồi bắt Na đứng giữa nhà "ngắm" không cần sách gì cả.
Na khoanh tay, đầu cúi cúi, cất tiếng như có thật nến thắp, trầm đốt, sách
mở và thánh giá ở trước mặt. Bản ngắm dài nhất, nhiều câu, nhiều chữ khó
nhất, người "ngắm" phải lên gối xuống gối để quỳ lạy tượng chịu nạn cũng
nhiều nhất, non nửa tiếng đồng hồ ngân nga thánh thót không gợn một vấp
váp, không chệch một nhịp nhàng. Cho đến chữ cuối cùng, tiếng ngân sau
chót vẫn còn thấy ngân vang như không dứt với tiếng trống con tung tung
một hồi chấm thưởng. Na rành rẽ, khoan thai lúc "ngắm" thế nào thì khi quỳ
lạy thánh giá lần cuối cùng rồi đi về chỗ cũng chững chạc, ý nhị như thế.
Mấy bà đã vồ ôm lấy Na, kêu rú lên, xuýt xoa mãi: "Giêsu! Giêsu! Lạy Chúa
tôi cái con này!". Ông cụ trùm đi về, đứng né bên cửa, không chờ Na cởi áo
cởi khăn, đi vào, lắc đầu:
- Cái con Na thế này thì ghê gớm thật. Năm nay tao bảy mươi tư tuổi, đi
lên xứ Bắc, ra cả xứ Đông, chỉ thấy có mày là một thôi đấy!
Na không phải là người có nhan sắc. Người dong dỏng, da ngăm đen, gò
má xương xương, hay ốm, nhút nhát, cả ngày chỉ quanh quẩn trong nhà với
mẹ. Năm Na đôi mươi, hai mươi hai, hai mươi ba, có mấy đám hỏi. Có cả
đám xin ở rể. Bà mẹ nhận nhời nhưng Na từ chối. Hỏi ý Na, Na chỉ ngập
ngừng nói mẹ được mình con, con có mình mẹ, nghĩ cảnh nhà Na chưa dám
tính đến chuyện chồng con. Na hai mươi bốn, hai mươi nhăm rồi hai mươi
sáu. Đùng cái, một chuyện gớm ghiếc thực thực, hư hư truyền đi. Na có tình
ý với thày giáo dạy đàn trong nhà chung. Tiếp đó mấy tháng, Na càng lặng lẽ,
có khi cả tuần không ra đến ngoài. Rồi thấy nói Na về quê ngoại.
Thanh là đứa con đẻ hoang mà người ta chờ xem mặt nọ. Na đi biệt được
hai năm thì bế Thanh về. Không còn ai nhận được ra Na. Na càng gầy yếu,
càng hấm húi ở nhà thổi xôi nấu chè, làm bánh cho mẹ. Người nhà thày đàn
giỏi, da như ngó cần, mắt như nước, những buổi lễ cả, lễ sinh nhật hay các
ngày tết đã làm trọng thể vô cùng cái dàn nhạc hát của nhà thờ với tiếng đàn
vĩ cầm của y..., cái thằng bị chước mốc ma quỷ cám dỗ ấy, cũng đi đâu ấy
ngay sau khi tai tiếng kia vỡ ra, và Na không được đi nhà thờ. Nghe nói đâu y
vào Huế, vào Sài Gòn. Bị đuổi ra khỏi nhà chung, y đi dạy đàn các con Tây ở
bên ngoài kiếm ăn.
Người ta bảo Thanh giống thằng ấy như lột, từ cái nước da, cái con mắt
đến cái trán và đường gân xanh ở thái dương.
Người ăn ở với mẹ Thanh sau này làm nghề thợ mộc. Người này cũng có
hoa tay, đặc biệt là lợp nhà. Nhà ông lợp, đồng xu chỉ thả nhẹ cũng trôi thẳng
từ nóc xuống đất. Bà Na cho không con gái. Mẹ Thanh đẻ được thêm cái
Ngơ. Ngơ được bốn tháng thì bà ngoại mất. Khi bà cụ sinh thì, mẹ Thanh đi
rước cha về cho bà cụ xưng tội lần sau hết xong, lạy bà cụ và hỏi có dặn dò gì
không thì bà cụ chỉ lắc đầu, rân rấn nước mắt.
Năm Ngơ lên ba, chú dượng Thanh vào tỉnh làm ở dinh quan Xứ bị ngã
gãy tay. Từ ngày đó ông đâm ra nghiện rượu. Ông bỏ nhà đi các tỉnh làm với
một người em họ và chết vì cảm rượu ở nhà trọ. Mẹ Thanh càng gầy ốm, ủ
dột. Tới năm Ngơ lên năm vẫn bấy bớt, đi phải men giường, chẳng biết "dạ"
biết đòi gì cả. Năm nay Ngơ mười ba, người cứ còm nhom, đờ đờ đẫn đẫn. Ai
có đưa cho tờ giấy bạc bảo đổi lấy tiền xu cũng không biết đổi ra sao, thế nào
là đủ, thế nào là thiếu...
... Có đến mười bốn mười lăm năm rồi, mẹ Thanh ốm hen và vẫn ngồi cái
dáng ngồi ấy, thở những hơi thở, ho những tiếng ho ấy, và ở trên cái giường
ấy. Càng ngày mẹ Thanh càng như hệt bà ngoại Thanh. Có khác một chút là
tóc mẹ Thanh chưa bạc hết và người còn có tí da tí thịt chứ không khô gày
quá như bà ngoại Thanh. Còn một điều nữa là mẹ con Thanh không còn ở cái
nơi chôn rau cắt rốn với bao nhiêu điều buồn tủi đau xót của một cảnh đời
nghèo túng cô độc.
Cái tỉnh Nam Định ấy, có lẽ không bao giờ mẹ con Thanh trở lại.
Mẹ Thanh nuôi Thanh ăn học đã đỗ được bằng sơ học Pháp - Việt. Hai mẹ
con đã đưa nhau đi hết cửa nọ đến cửa kia mà không sao có được công việc.
Các nhà Máy sợi, Máy tơ, Máy chiếu, Máy rượu, nhà thầu Vệ sinh, nhà thầu
Sở lục lộ, thậm chí đến xin làm việc cơm không cho mấy nhà mở gara chữa ô
tô... cũng không đâu lấy người. Trái lại, đâu cũng chỉ thấy hàng chục, hàng
trăm người chầu chực, đút lót mà họ lại có nhiều chân tay bên trong lo liệu
cho chứ không như Thanh...! Mười bảy, mười tám tuổi đầu, vừa thôi học ở
nhà trường ra, sức vóc yếu đuối, cảnh nhà đã đến bước cùng kiệt, công việc
như thế, Thanh sẽ làm gì mà sống được bây giờ? Đói khổ, khó khăn, vất vả,
lầm than... đều ghê sợ. Nhưng có một điều Thanh còn thấy ghê sợ hơn, ghê
sợ vô cùng, và đã tới lúc Thanh không thể nào chịu đựng được nữa rồi: thành
kiến và tai tiếng.
Ở cái tỉnh Nam Định của Thanh ấy có đói cũng không được chịu đói một
cách yên thân. Người đói phải làm như mình không đói, để không ai biết
được mình đói, để ý đến cái đói của mình. Nhà bên này đường, bên kia
đường có thiếu bữa gạo phải đem quả son đi vay. Ăn cháo, trong nhà phải
đóng cửa và rít vào tai các con nhỏ không được đòi thêm, tranh nhau, khóc
lóc. Gần đến ngày giỗ chính mà trong nhà chưa mua sắm được các thứ thì
người nàng dâu cả bàng hoàng như sắp ra tòa tử hình. Lúc quẫn bách, có cặp
áo, chiếc chậu thau, chiếc mâm muốn đến hiệu Vạn Bảo cầm thì phải thuê
người đưa đi từ gà gáy. Nhà nào mang công mắc nợ mà thấy tên khách nợ tay
xách cái khăn gói lòi thòi bộ xe lọ, cái cút, chỉ đến đầu ngõ hắng giọng "e
hèm" mắng chó, là cả người già con trẻ ở trong nhà đã òa lên khóc...
Mẹ con Thanh đã bỏ cái tỉnh quê cha đất tổ ấy rồi! Mẹ con Thanh đã đưa
nhau ra đến cái đất Hải Phòng này coi như là sơn cùng thủy tận. Để mà tìm
phương kế sinh nhai. Nghĩa là muốn vất vả lầm than thế nào chăng nữa
nhưng không ai biết mình là ai. Và để được ngày có hai bữa không thì một
bữa lần hồi mà sống...
***
Hút xong điếu thuốc hoa cà độc dược được một lúc, người mẹ dịu dịu cơn
bệnh. Vai, cổ, ngực bà vẫn giật giật nhưng bà đã thở được đều hơn một chút.
Bà đỡ nấc, những cái nấc gò rút cả mỏ ác lại. Người mẹ ngồi gục được yên
trên cái tay nải mà thở. Những tiếng thở ò ò từng phút kéo to hơn chen lẫn
với những tiếng nói ú ớ của một cơn mê thiếp mà thần kinh bị rối loạn vì bộ
máy hô hấp ngột ngạt.
Tiếng xủng xoẻng của chiếc xe đi lấy thịt và tiếng lịch kịch của chiếc xe
đổ thùng không còn nghe thấy nữa. Đêm lại lặng đi một lúc lâu. Dần dần
những tiếng rào rào xáo xác nổi lên ở trong xóm. Tiếng vo gạo, giội nước.
Tiếng chẻ củi đóm. Tiếng cọ rửa xanh nồi, bát đĩa. Tiếng gà vịt quang quác
choe chóe.
Chung quanh đã dậy làm hàng, thổi cơm nấu nước, và sắp sửa đi tầm.
Tháng trước, mẹ Thanh thổi xôi, nấu chè đỗ đen, cũng bán ở đầu ngõ cho
những người đi làm Máy tơ, Xi măng, Sáu Kho và trên phố. Hai tuần nay,
phần vì giời bắt đầu mát, phần vì không có vốn bán chịu đến kỳ tiền, nên mẹ
Thanh nghỉ xôi chè. Cái vốn nhỏ để lần hồi lại mỗi ngày một cùn cụt. Mẹ
Thanh xoay ra làm bánh đúc lạc hành mỡ. Nếu không ốm, thì giờ đây mẹ
Thanh đương quấy bánh. Chốc nữa, trước khi Thanh cũng lên phố, Thanh và
cái Ngơ sẽ có một đĩa cháy bánh, anh em chia nhau ăn chờ đến chiều mẹ về
chợ đong gạo mới nấu cơm.
Cái ánh lửa quen thuộc ở dưới bếp lại thoáng qua trí tưởng Thanh. Thanh
thấy nhớ và ngậm ngùi.
Đã có lần Thanh tính đến sẽ xay bột, quấy bánh rồi đi bán thay mẹ. Một
giai mười tám tuổi học trò, đội mũ ngồi sau mẹt bánh đúc, cắt bánh, lau bát
đũa và đón lấy những đồng xu của đàn bà con gái giả tiền ăn... cái hình ảnh
ấy làm tâm trí Thanh nhói hẳn lên. Thế nào thì thế, người nhìn Thanh cũng
phải lấy làm lạ. Cũng như đối với bao nhiêu lối xoay giở làm ăn kỳ cục của
những người thất nghiệp nhan nhản ngoài đường phố. Không!... Không!...
Thanh cũng như những người còn mạnh chân khỏe tay kia không việc gì mà
xấu hổ. Có thì chỉ đau xót thôi! Đội than, móc cống, kéo xe rác, vác nứa, đẩy
xe ba gác, chẻ củi, quét chợ... khó nhọc lam lũ thế nào cũng được. Miễn là
đừng buôn gánh, bán bưng tranh cả với đàn bà con gái. Miễn là đừng phải lê
la đầu đường cuối chợ với một sức dài vai rộng. Điều này không phải chỉ đàn
ông con giai nghĩ mà tủi cực. Nhiều người con gái lớn mà Thanh đã chú ý,
nhất là khi hỏi chuyện, họ cũng tỏ vẻ ngượng nghịu vì cái mẹt tò he, rổ mía
bưởi cắp bán rong hay khi họ đứng chào khách ở các cổng chợ, rạp hát, bãi
bóng.
Nhưng cả đến đội than, quét đường, múc nước cống, chẻ củi... ở cái thành
phố lớn này sao mà cũng khó xin thế. Sáu Kho, bến tàu, Xi măng, Cốt phát,
lán bè, các tràn than, các cửa hiệu... hàng mười lần, hai mươi lần, năm mươi
lần, trăm lần rồi..., Thanh dò hỏi, nộp đơn, chầu chực, nói khó, cạy cục nhưng
không được làm đâu cả. Có vài chỗ người ta hứa đấy nhưng Thanh chờ hết
nước hết cái, hết hẹn nọ đến hẹn kia, để rồi lại được giả nhời thế này:
- Sở không lấy người nữa!
- Hết việc rồi!
- Đây lại sắp dãn người ra, dãn hẳn một nửa!
Thanh không nhìn mẹ nữa. Thanh trằn người quay mặt vào bức vách.
Thanh ấp tay lên trán, tự nhủ:
- Hay mấy hôm nữa chờ mẹ ta đỡ hen, ta liều theo người ta ra Cẩm Phả,
Vàng Danh xem sao.
Năm tháng rồi còn gì! Bước đường cùng kiệt lại sâu xuống thêm một bực.
Những hy vọng mong manh cùng với những hình ảnh cố tưởng tượng để tâm
trí tươi mát, khỏe lên cũng đã lụi dần. Cái cửa biển Hải Phòng và thành phố
kỹ nghệ của nó có thể coi như là gần tuyệt hết đường sinh sống đối với Thanh
rồi. Nào sở Xi măng hơn vạn cu li, thợ, cai, ký... Nào Máy tơ hàng bốn, năm
nghìn đàn bà con gái đứng máy... Nào hãng tàu Xôpha, sở Carông, sở
Đăngxét chữa các thứ máy... nào Nhà máy gạch, máy cống... nào hãng sợi
Thuận Thái, hãng thầu cầu cống, nhà cửa Đơvanhxy, hãng thầu thức ăn các
tàu biển Thy San... nào nhà buôn Sápphănggiông, to không kém nhà Gôđa
trên Hà Nội,... nào hãng dầu Sen Mỹ, nhà băng Ănglê,... nhất là Sáu Kho...
Sáu Kho hàng hóa, tiền của chất đầy như núi trong các kho hàng và la liệt ở
cả ngoài giời, ngoài bãi... Những cái tên ấy nghe người ta nói lên, truyền đi,
không ai lại tưởng đến đây mà mình lại không có công ăn việc làm, và nếu
mà được làm thì cả nhà sẽ tha hồ no ấm, đời sống sẽ tha hồ chắc chắn.
Khi Thanh bước chân xuống tàu ra đây, nhất là khi tàu chạy từ xa còn ở
bên Kiến An, trông sang thành phố, Thanh đã phấp phỏng tưởng như tim đập
đến vỡ ra mất. Ánh đèn của các tàu biển và bến Sáu Kho cứ như sao sa.
Những nhà máy với những ống khói, những tầng lò trập trùng như những
chặng rừng, những đỉnh núi. Con tàu chở Thanh cặp bến thì vừa tảng sáng.
Sông nước, trời mây đều hiển hiện lấp lánh như cồn vàng, bãi bạc, âm âm,
vang vang. Thuyền bè, xe cộ, gồng gánh, người đi lại cứ dần ùn ùn lên như
mắc cửi ở chung quanh Thanh.
Phải! Làm sao đến đất này mà lại không có công ăn việc làm được? Sự
sống ở đây phải khác hẳn ở cái quê hương của Thanh kia.
Thanh lắc lắc đầu, nhắm mắt lại. Thanh đặt ngang cánh tay lên mắt. Ở
giường bên kia, tiếng thở của mẹ Thanh vẫn ò ò chen lẫn với tiếng mê u ú.
Cái hình thù đầu tóc rã rượi gục lên trên đống tay nải và thúng đồ đạc, vẫn
giật giật, vai ngực gò lại, thon thót. Thanh nghĩ đến mai kia, mẹ Thanh vừa
dứt cơn lại phải làm hàng, chạy chợ luôn. Nhà còn có được hơn đồng bạc thì
đã đong mất bốn hào gạo, ăn từ hôm kia. Cái mẹt bánh đúc lạc để nuôi nhà ba
miệng ăn ấy đã mất đi một góc rồi! Rồi đây cái vốn cuối cùng ấy mà lại đem
ăn hết thì mẹ con sống bằng cái gì?
Tâm trí Thanh thắt lại...
- La ơi! Mày có dậy vỗ vỗ nó mấy cái cho nó ngủ để tao vá nốt miếng
quần này không?
Đằng sau nhà Thanh, đã thấy tiếng mẹ La sa sả gọi con. Nhưng thằng La
vẫn chưa dậy. Con bé con khóc thét hẳn lên, giẫy đạp thình thình.
- Giời đất ơi! Mày có dỗ nó cho tao không!... Tôi chỉ chết vì con với cái
đây. Có mỗi manh quần mặc đi làm mà rách để cả... ra mà không sao vá
được!
Trước cái bếp nấu nước của cụ Ước, mẹ La mặc mỗi cái yếm và cái quần
đùi, cúi cúi sát vào ánh lửa mà dùi từng mũi kim. Thỉnh thoảng mẹ lại lấy cái
quần đương vá mà chấm chấm cặp mắt ứa nước ra cay xè. Trên nhà, ở góc
trong giường, thằng La đã lăn ra phía ngoài, choàng lấy con bé em:
- A mía nào! Ổi nào! Khoai nào! Thằng eeng (3)ngủ đi... ngủ đi...
-----
(3) Thằng eeng ngủ đi: Thằng La nghịch gọi con bé em gái nó là thằng em
và nói chệch ra là thằng eeng (chú thích của tác giả).
Con bé em cứ giãy đành đạch. Thằng La càng tíu tít. Vẫn những câu dỗ
dành đã thành bài của nó:
- Khoai nớ! Mía nớ! Ổi nớ... Ngủ đi... thằng eeng ngủ đi rồi mai anh cõng
đi mua mía nớ... khoai nớ...ổi nớ...
Con bé không thét nữa mà túm lấy tóc La, cào vào mặt La, giãy đạp mạnh
hơn.
- A! Thằng eeng cáu sườn. Ngủ đi... ngủ đi... rồi mai anh cõng đi mua
khoai nào, ổi nào... mía nào... và ra kho xem tàu to về nữa. Á á thằng eeng...
thằng eeng ghê quá!... Lại cắn anh nữa! Á á, ghê quá! Đừng cào! Đừng cắn
anh nhé... eeng! Eeng! Á á sứt mẹ nó cả mũi người ta rồi! Chảy máu mắt
người ta ra rồi... Ông đếch dỗ nữa... đếch dỗ con quái con nữa, cả ngày cõng
mày, ông khòm cả lưng, vẹo cả xương sườn... Ông đếch làm đày tớ mày
nữa...
Đốp... đốp... thằng La đạp con bé em ra, phát luôn mấy cái vào đít. Nó lấy
vạt áo dụi dụi mắt và chấm chấm chỗ bị cào, có lẽ bị xước hẳn thịt hay sao
mà xót thế này. Người mẹ lòng thòng ôm cả cái quần vá đùm vá đụp chạy lên
nhà:
- Khổ chưa! Khổ chưa! Cái thân đời tôi còn có ai khốn nạn hơn không?
Giời ơi! Giời!
Thấy mẹ chạy vào và lên tiếng, con bé quay ra và khóc nức nở. Người mẹ
nằm kềnh ra bên nó, xốc nó gối đầu lên cánh tay, rồi trật vội yếm cho nó sờ
vú:
- Đây cái thèm của nó đây! Cái thèm của nó đây!...
Con bé sục ngay vào cái vú beo mà bú, vừa xoắn lấy đầu vú bên kia vê vê.
Tiếng khóc bặt hẳn. Chỉ còn tiếng thở khụt khịt. Năm nay con bé đã lên bốn.
Tuy đã cai sữa nhưng nó vẫn còn giữ cái lệ bú vú da và phải sờ cái "thèm"
mới ngủ được. Mặc mẹ nâng niu em, thằng La lại lăn một vòng vào xó
giường cạnh đứa em gái lớn díp mắt lại ngủ.
- Cha bố nó, nó đi bêu nắng bêu gió con gái tôi thế này làm gì mà con gái
tôi chả nóng đầu, chả quấy mẹ. Cha bố nó, con gái tôi là ngoan lắm cơ, quý
lắm cơ. Sau này tôi chả ở với cái thằng giặc ấy, tôi chỉ ở với con gái tôi thôi.
Chỉ có con gái tôi là biết thương mẹ thôi. Thằng giặc ấy rồi lại chỉ như cái
thằng bố nó! Cái thằng bố nó là quân khốn, quân nạn! Làm được đồng nào
không uống rượu thì cũng đem đến bàn xóc đĩa cúng hết! Nó ăn ngập mồm
ngập miệng. Chân giò ư! Nem chạo ư! Cá rán ư! Thịt chó ư! Chẳng còn biết
đến ai cả. Sống vạch mặt, chết chỉ mồ. Chuyến này mà mày còn vác cái mặt
mo mặt thớt về nhà thì bà đạp vào mặt cho ấy.
Mẹ La vừa xoa xoa lưng con vừa ru rím, kể lể. Vẫn những câu nói nhắc đi
nhắc lại mà chung quanh nghe đã thuộc. Và cuối cùng lại:
- Tôi chỉ quý con gái tôi thôi! Sau này tôi chỉ ở với con gái tôi thôi!
Đứa con gái đầu lòng của mẹ La là cái Lai rồi đến cái Lê nhớn. Lúc đó
thằng La bé nhất thì mẹ La vỗ về nựng nịu "Tôi chỉ ở với con giai bé tôi thôi!
Chỉ có con giai bé tôi là thương tôi thôi!". Rồi thằng La lớn lên, cái Lai, cái
Lê nhớn chê nghèo bỏ đi. Người mẹ thêm đứa khác. Thì đứa này lại được
nựng nịu như thế. Tới con bé này là thứ bảy. Không biết rồi đây mẹ La sẽ
nựng thế nào khi mà người chồng rượu chè cờ bạc nọ vẫn cứ lúc nào bòn
không ra sờ không thấy lại mò về. Vợ lại chửa, lại đẻ. Vẫn một mình chạy
vạy nuôi đàn con.
Con bé đã dứt đánh phựt cái đầu vú, miệng chèm chẹp mấy cái. Nó quay
ra, xoạc hai chân, thở khò khò. Mẹ La khẽ nhấc cánh tay ra, quơ cái áo rách
gối đầu cho con rồi ôm cái quần xuống bếp.
Cụ Ước ngước mặt lên, nheo nheo mắt hỏi:
- Mẹ La vá chưa xong à?
- Ông tính xong thế nào mà xong. Con chỉ túm lại cho nó khỏi... kẻo nữa
ra đường mình có đứng bên cạnh những đứa giàu có sang trọng, chúng nó lại
xấu hổ. Chúng nó lại bảo mình không nhờ vả được chúng nó thì chửi khéo
chúng nó... "À! Chúng mày bụng bọ thì bà chật "nhồn" vào mặt chúng mày
đây này"...
- Con mẹ này chỉ được cái thế! Mày còn là khổ vì những nhời ăn tiếng
nói!
- Vâng chỉ vì nhời ăn tiếng nói con còn là khổ. Như vậy thì con phải liệu
liệu mà khoan thai, ngọt ngào, mô phạm để giữ sĩ diện cho chúng nó... cho
ông bằng lòng nhé.
Cụ Ước cười. Mẹ La xỏ xong sợi chỉ, ngừng lại hỏi cụ Ước:
- Ông này! Từ chiều hôm qua bà giáo Thanh lại suyễn nặng, không biết
giờ đã đỡ chưa?
- Ấy, hôm qua giở giời, cái quỷ ho nó cũng lại hành tao. Tao lại ho rút cả
ruột cả gan. Ban tối tao cũng định sang nhưng thấy cậu giáo cậu ấy không có
nhà nên thôi. À mà cậu ấy vẫn cứ dậy làm gì mà sớm thế? Mới ba giờ đã thấy
cậu ấy ngồi hấm húi viết rồi.
Chợt một bên đầu mẹ La lại đau nhói. Mẹ nhăn mặt một cái, cúi xuống
cho vừa đỡ đau vừa đỡ hoa mắt:
- Con cũng thế ông ạ. Không hiểu cái "sản" nó lại cắn hay sao mà nửa bên
trái đầu con cứ như dùi đóng thế này?
Mẹ La lại nghĩ đến ngày mai phiên chợ: có các thuyền mía đến dỡ hàng
và các thuyền bên Kiến An sang ăn than thì mẹ làm ăn thế nào?
- Không làm thì đói, làm thì chói xương hom.
Mẹ La chép miệng, thở dài khẽ, lại cúi xuống miếng mụn vá cái chỗ đũng
quần xoạc ra bằng bàn tay. Cụ Ước rắc thêm nắm mùn cưa, chất thêm mấy
đầu củi, lọm khọm đứng lên:
- Có đun nữa thì mẹ mày cho hai thanh củi kia vào nhé. Sôi già thì bắc ra
đổ vào vò ủ kỹ cho tao. Tao sang với cậu ấy một tí không có chốc nữa cậu ấy
cũng lại đi...
Trời đất vẫn tối. Sương dày từng tảng quấn theo ông cụ. Gió lành lạnh.
Như có mưa bụi. Thấy tiếng người ho và lào phào gọi ngoài cửa, Thanh
nhỏm dậy:
- Cụ để cháu mở.
Thanh nâng tấm liếp, gượng nhẹ kéo ra. Cụ Ước bước vào. Tuy người ông
cụ đã khòm khòm, mấy lâu nay lại gầy đi nhiều nhưng ông cụ vẫn như con
gấu lớn đứng ở giữa gian nhà. Cặp lông mày của ông cụ bạc phơ, rủ cả xuống
mắt. Có những sợi dài cong vươn lên như lông mày của những ông cụ đẹp lão
ngày xưa trong tranh Tàu. Mắt ông cụ hơi nheo lại mà vẫn lấp lánh. Ông cụ
đặt cái ấm tích lên bàn, nhìn Thanh nói:
- Bà lại mỏi, không làm hàng được?
- Vâng, mẹ cháu lại hen. Cụ nấu nước rồi?
- Hôm nay tôi cũng mệt, nghỉ thì tiếc. Tôi nấu có ấm nhỏ bán chốc nhát
cho anh em quen rồi về sớm. Cái chè hôm nay thật là chè vườn bà cụ Điếc
bên Thủy Nguyên, xanh và được nước lắm. Tôi hãm một tích đưa sang để bà
uống sớm.
Ông cụ nói đoạn nhấc cái giành ấm ở mé trong bàn ra, bỏ cái tích của
mình vào:
- Bà ngủ cứ để bà ngủ. Cậu uống với tôi.
Thanh còn đương luống cuống trước những cử chỉ ân cần mà tự nhiên nọ
thì ông cụ nói tiếp:
- Chốc nữa cậu có xuống phố thì lại đến hàng tôi. Hôm kia lão cai bao
khoán ở nhà Đờvanhxy nó gọi người đi làm Hội chợ.
Đã nhiều lần cụ Ước mời Thanh. Hễ Thanh đến hàng ông cụ là ông cụ bắt
hút thuốc lá, rồi hôm thì cùng ông cụ ăn bánh rán bánh kê.
Thường bao giờ cũng ăn khoai, thứ khoai đỗ vàng, bở như bột đậu xanh,
nhiều bữa ông cụ ăn với tôm trứng rang thay bữa cơm. Như lại thấy những ý
nghĩ ngại ngùng của Thanh, cụ Ước cầm chén nước Thanh rót, uống:
- Cậu cứ đến hàng tôi, gặp việc thì cậu đi làm, không thì ngồi nói chuyện.
Tôi bây giờ chỉ còn cái vui ấy thôi là nấu được ấm chè ngon bán và được
nghe chuyện.
Nước chè rót ra hãy còn nóng sút, nhưng uống vào lại thấy mát như có
ướp một thứ hoa gì đặc biệt. Thanh uống hết chén nước, trong người cồn hẳn
lên.
- Cậu giáo này, bà đã ăn cái tắc kè chưa?
- Thưa cụ rồi đấy ạ. Mẹ cháu không uống được rượu ngâm thì nấu cháo
ăn.
- Thế bà đã ăn cái nghệ hấp với trứng vịt chưa?
- Đã, mẹ cháu ăn mấy lần.
Cụ Ước ngẫm nghĩ:
- À, thế thì có ai mách bà cái cá trê xát với nhựa xương rồng đem nướng
ăn?
- Ăn cả rồi đấy ạ! Mẹ cháu ăn cũng nôn ra cả mật xanh mật vàng, lử đi
mất mấy hôm.
Cụ Ước cười:
- Thế thì cũng như cái quỷ ho của tôi đấy! Có lẽ phải đi tìm, đi cầu cho
được cụ Biển Thước hay cụ Lãn Ông về, may ra mới chữa khỏi.
Tuy ngoài miệng cười, nhưng trong lòng ông cụ lại thấy áy náy. Bà ấy cứ
tháng một tuần, tháng hai tuần ốm thế này thì mẹ con làm ăn thế nào? Chưa
thấy nhà nào như vậy. Có ăn cháo hay nhịn đói cũng không chịu hỏi vay gạo
ai. Chung quanh có xét nét lắm mới biết. Mẹ con cứ lẳng lặng, đã ít nói lại
càng ít nói. Nhất là mẹ. Trông cứ như sờ, bà mụ. Không ai thấy bà ấy cười
hay có một tiếng to. Từ lúc dọn đ...
 









Các ý kiến mới nhất