Tìm kiếm Giáo án

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:41' 05-08-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 07h:41' 05-08-2023
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do khách quan:
Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam (Khoá VII) đã vạch ra phương hướng về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục
và đào tạo”, coi “giáo dục và đào tạo là một động lực thúc đẩy” và là một điều cơ
bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất
nước. Mục tiêu cao cả của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”, do vậy phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo
dục là một công việc có tính thời sự và thường xuyên. Để làm được công việc to lớn
và khó khăn này, giáo viên phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề về nội dung kiến
thức khoa học cơ bản, những hình thức tổ chức, những phương tiện giảng dạy và
những phương pháp thích hợp.
Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học các
môn học ở trường phổ thông nói chung và môn Hoá học nói riêng. Công nghệ thông
tin được ứng dụng vào môn hoá học đã góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây
hứng thú học tập bộ môn cho HS. Để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc
sâu kiến thức trong bộ não một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn
trong bộ não của HS, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi thường hướng dẫn HS
ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống sang
phương pháp ghi bài bằng BĐTD. Tôi nhận thấy phương pháp này là thực sự cần
thiết nhằm giúp HS rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ
thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em. Vì vậy,
tôi đã đưa phương pháp dạy học bằng BĐTD vào áp dụng cho các tiết học lí thuyết
trong chương trình Hoá học lớp 8 và lớp 9.
2. Lý do chủ quan:
Hóa học là một môn học thực nghiệm, mang tính khoa học rất cao. Hóa học
đòi hỏi ở học sinh rất nhiều về năng lực tư duy, phân tích và khả năng tìm tòi sáng
tạo để nắm vững kiến thức, từ đó rèn luyện thành kỹ năng và phát triển mềm dẻo
thành kỹ xảo. Vì vậy việc thiết kế và tổ chức dạy học của giáo viên là một nghệ
thuật. Việc người dạy chọn cho mình một phương pháp truyền thụ kiến thức để học
sinh dễ tiếp nhận nhất. Mặt khác, một phương pháp mà đòi hỏi học sinh phải có tính
tự giác, tự tìm tòi kiến thức, sáng tạo và có khả năng vận dụng để giải thích các hiện
tượng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế, dạy học theo chủ đề là
phương pháp mà ngành Giáo dục đã đưa vào nhiệm vụ của năm học 2014 – 2015
đến nay. Với kiến thức trong chương trình sách giáo khoa hiện hành việc dạy học
theo bài đã phân định và thời gian của mỗi tiết học không còn là bắt buộc theo thứ
tự thay vào đó dạy học theo chủ đề vẫn đảm bảo nội dung kiến thức của chương
trình, mặt khác nó còn khơi dạy được tính chủ động, tự giác, tính tự tìm tòi, sáng
tạo và vận dụng của người học. Việc logic lại nội dung kiến thức đã học hay đưa ra
một sơ đồ để tóm tắt hệ thống các kiến thức của bài học là nội dung đã được áp
dụng từ nhiều năm nay bằng sơ đồ tư. Việc kết hợp sơ đồ tư dạy vào dạy hóa học
theo chủ đề lại càng nâng cao kỹ năng cho người học, bắt buộc người học phải vận
dụng nhiều kỉ năng như : sưu tầm, tìm tòi, vận dụng, hệ thống lại các kiến thức, từ
đó xây dựng thành sơ đồ tư duy để vận dụng vào bài học. Để đáp ứng được yêu cầu
trên tôi chọn đề tài tài “ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học THCS “
Rất mong sự đóng góp ý kiến chân tình của quý đồng nghiệp để tôi ngày càng
được hoàn thiện hơn trong nghề nghiệp.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
+ Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn hoá học 8, 9 theo sơ đồ tư duy
và chuẩn KTKN được điều chỉnh giảm tải trong PPCT năm học 2021 – 2022”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn Hoá lớp 8, 9 ở trường THCS.
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh học bài theo sơ đồ tư duy.
III. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Thực hiện thường xuyên trong quá trình giảng dạy, từ tháng 9/2021 đến cuối
tháng 4/2022.
IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng yêu cầu
phát triển xã hội, để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp
dạy học sử dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học chứa đựng một số vấn đề
cơ bản của hoá học, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho
học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính tích
cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ không
còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc
với giáo viên trong tiết học.
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú và được
sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho
giáo viên trong quá trình giảng dạy. Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương
tiện trực quan và kỹ thuật sẽ góp phần ghi nhớ va hiểu sâu, hiểu mạch lạc kiến thức
có hiệu quả. Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ thuật đòi
hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng. Rõ ràng làm tốt
công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy.
V. TÍNH MỚI MẺ CỦA ĐỀ TÀI
Việc kết hợp sơ đồ tư dạy vào dạy hóa học theo chủ đề nhằm nâng cao kỹ năng
cho người học, bắt buộc người học phải vận dụng nhiều kỉ năng như : sưu tầm, tìm
tòi, vận dụng, hệ thống lại các kiến thức, từ đó xây dựng thành sơ đồ tư duy để vận
dụng vào bài học.
Việc dạy học theo chủ đề không bắt buộc theo thứ tự bài đã phân định mà theo
chủ quan của người dạy, người triên khai bài học nhưng vẫn phải đảm bảo nội dung
như trong SKG, vận dụng kiến thức thực tiễn nhiều hơn, học sinh chủ động tự tìm
tòi nghiên cứu.
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận:
1. Khái quát về bản đồ tư duy:
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy nhằm tìm tòi,
đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống
hóa một chủ đề … chữ viết. Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ
thông thường như bản đồ địa lý mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép
theo mạch tư duy của mỗi người bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường
nét, màu sắc, chữ viết.
BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ
thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp
với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm
năng vô tận của bộ não.
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lưới liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ
với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố
kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,...
.
2. Vai trò của bản đồ tư duy:
- BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp
học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là
mục tiêu dạy học. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
- BĐTD - giúp HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho
thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự
suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, là biện pháp hỗ trợ đổi mới
phương pháp dạy học một cách hiệu quả. Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát
huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS,
các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng,
cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách
trình bày kiến thức của từng HS.
3. Những điều cần tránh khi thiết kế bản đồ tư duy:
- Ghi lại nguyên cả đọan văn dài dòng: Khi thiết kế BĐTD cẩn chọn lọc những
ý cơ bản, kiến thức cần thiết, ví dụ minh họa để có nhiều thông tin cho bài học.
Thiết kế BĐTD của một bài học phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản
cần chốt lại của bài học đó.
- Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết hoặc quá sơ sài không có thông tin.
- Dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu… Chỉ nên vẽ những hình ảnh
có liên quan đến chủ đề kiến thức. Tránh khuynh hướng vẽ quá cầu kì những hình
ảnh không cần thiết.
II. Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình giảng dạy môn Hóa học THCS cơ bản ở các lớp đại trà của nhà
trường bản thân tôi nhận thấy phần lớn các em ở các lớp này thì kiến thức và khả
năng tư duy cũng như tính tự giác học tập của các em kém hơn nhiều so với các lớp
mũi nhọn của nhà trường, các em vẫn còn mang tính thụ động, tính ỉ lại và phụ
thuộc vào giáo viên nhiều hơn, khả năng tự tìm tòi, tính tự giác chưa cao.
Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến
thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc
nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật”
trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan
với nhau.
Do đó cần có một phương pháp giúp học sinh khắc phục những hạn chế trên,
và học tập hiệu quả. Đó là hướng dẫn HS học tập bằng SĐTD, hướng dẫn HS ghi
chép và ghi nhớ thông tin hiệu quả.
B. Nội Dung
I. Cơ sở khoa học
Bản đồ tư duy do Tony buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của
não bộ và ứng dụng vào cuộc sống. Bản đồ tư duy ( còn gọi là sơ đồ tư duy hay
lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ
thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,...bằng cách kết hợp việc sử dụng
đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
Theo các nhà nghiên cứu, thông thường ở trường phổ thông, HS mới chỉ sử
dụng bán cầu não trái ( thông qua chữ viết, kí tự, chữ số,...) để tiếp thu và ghi nhớ
kiến thức mà chưa sử dụng bán cầu não phải ( nơi ghi nhớ thông tin kiến thức thông
qua hình ảnh, màu sắc...) tức là mới chỉ sử dụng 50% khả năng của não bộ. Kiểu ghi
chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc được trải theo các
hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng nên dễ bổ sung và phát triển ý tưởng.
Vì vậy, việc sử dụng BĐTD là một công cụ hữu ích cả trong giảng dạy của giáo
viên và trong học tập của HS.
Bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :
- Lôgic, mạch lạc.
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ.
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”.
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh.
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức.
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức.
- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức.
- Giúp phân tích, so sánh, tổng hợp năm được tính chất hoá học của từng loại
hợp chất. So sánh được tính chất hoá học khác nhau của các chất trong cùng loại
họp chất.
Điểm mạnh nhất của BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng,
từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo.
Với những ưu điểm trên, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức
mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi học kì,...cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu
quả nhất mà lại mất ít thời gian.
Từ cơ sở thực tiễn và khoa học nêu trên, tôi chọn tên cho giải pháp khoa học
giáo dục của mình là “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hoá học lớp 8, 9 ''
II. Phương pháp thực hiện.
1. Hướng dẫn chung
1.1. Các bước thực hiện một bản đồ tư duy
- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một
mảnh giấy (đặt nằm ngang).
Quy tắc vẽ chủ đề :
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được
làm nổi bật dễ nhớ.
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ. Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ
vào chủ đề trung tâm.Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :
+ Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để
làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có
thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
+ Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết
kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho
những từ thông dụng. Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho
riêng bạn.
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng. Bạn
có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như
giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn.
1.2. Quá trình hướng dẫn HS xây dựng bản đồ tư duy.
- Bước 1: Trước hết GV phải cho HS làm quen với BĐTD. Bởi vì thực tế cho thấy
rằng rất nhiều HS cũng chưa biết BĐTD là cái gì, cấu trúc ra sao và vẽ như thế nào,
vì thế GV trước hết cần phải cho HS làm quen và giới thiệu về BĐTD cho HS. Giáo
viên nên giới thiệu cho HS về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng
BĐTD trong học tập môn Hoá học. Hiện nay đã có các phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ
tu duy rất đơn giản và dễ sử dụng như Edraw Mind Map, Freeplane, PowerPoint,
….
Giáo viên có thể đưa ra một số BĐTD sau đó yêu cầu HS diễn giải, thuyết
trình về nội dung của BĐTD theo cách hiểu riêng của mình. Với việc thực hiện
bước này sẽ giúp HS bước đầu làm quen và hiểu về BĐTD.
Ví dụ : Trong bài Mở đầu môn hoá học GV sẽ đưa ra hệ thống hoá các nội dung
bài học yêu cầu HS diễn giải sơ đồ
- Bước 2: Sau khi đã làm quen với BĐTD giáo viên có thể giao cho HS hoặc cùng
HS xây dưng lên một BĐTD ngay tại lớp với các bài ôn tập, hệ thống hóa kiến thức
Ví dụ : Trong bài luyện tập tiết 18 hoá 9 GV cùng HS phân loại các hợp chất
vô cơ đã học trong chương I lớp 9
- Bước 3 : Sau khi HS vẽ xong bản đồ tư duy, giáo viên có thể để HS tự trình bày ý
tưởng về bản đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được.
1.3. Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép.
2. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài của học sinh và dạy bài
mới của giáo viên.
2.1. Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Giáo viên định hướng cho HS chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một BĐTD về
bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới. Điều này sẽ bắt buộc HS phải đọc
bài và nghiên cứu bài trước, giúp HS nắm được một cách khái quát những điều sẽ
có trong bài học mới
Ví dụ : Trước khi học bài “ tinh bột và xenlulozơ“ GV yêu cầu HS về vẽ một
BĐTD về các đề mục có trong bài.
2.2. Sử dụng bản đồ tư duy khi vào tiết học mới.
Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng bằng một
hình vẽ bất kì trên bảng của lớp, cho HS ngồi theo nhóm thảo luận BĐTD của mỗi
HS đã chuẩn bị trước ở nhà đối với BĐTD của các bạn trong nhóm.
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số
1 (các đề mục có trong bài) và gọi HS lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề, chia thành các
nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
Sau khi HS vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, GV đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ
nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2... HS sẽ hoàn thành nội dung BĐTD của bài học
mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu
vào BĐTD của từng cá nhân.
Ví dụ 1 : Khi học bài “ Tinh bột và xenlulozơ “ ( tiết 63 theo phân phối chương
trình ), sau khi HS vẽ xong nhánh cấp 1, GV sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi để triển
khai kiến thức và hoàn thiện BĐTD của bài học :
+ Trạng thái tự nhiên của tinh bột và xenlulozơ có gì khác nhau?
+ Tính chất vật lý của tinh bột và xenlulozơ như thế nào?
+ Tính chất hoá học của tinh bột và xenlulozơ giống và khác nhau như thế nào ?
Sơ đồ minh hoạ
Ví dụ 2 : Khi học bài “ Clo “ GV có thể kết hợp với BĐTD đã vẽ trong bài “
Clo“ và thông qua hệ thống câu hỏi để xây dựng BĐTD cho bài học mới, khi đó
việc tiếp thu kiến thức mới của HS trở nên logic và khái quát hơn
Sơ đồ minh hoạ bài “ Clo ”
Sau mỗi bài học, GV hướng dẫn, gợi ý để HS tự hệ thống kiến thức trọng
tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Việc làm này sẽ giúp các
em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
2.3. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy bài luyện tập.
Qua thực tế giảng dạy bộ môn tôi thấy rằng loại bài luyện tập là rất quan trọng
nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng vận
dụng giải bài tập hóa học. Cấu trúc bài luyện tập ở SGK có 2 phần :
- Phần 1 : Kiến thức cần nhớ
- Phần 2 : Bài tập
Khi sử dụng BĐTD để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên trên
một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được đặt trong mối
liên hệ của chúng nên HS dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu.
Để dạy phần 1 GV có hai phương pháp để triển khai :
+ Cho HS lập một BĐTD ở nhà về nội dung kiến thức cần nhớ, khi dạy phần
này GV tổ chức cho HS nhận xét một vài bản đồ để chọn ra bản đồ hoàn chỉnh nhất
sau đó GV có thể bổ sung ý kiến của mình vào để có một bản đồ chuẩn dùng cho
HS nắm các kiến thức của bài học .
+ Giáo viên đưa ra các từ khoá kiến thức để HS triển khai nội dung.
Sau đây là bản đồ tư duy chúng tôi đã cho học sinh xây dựng trong tiết luyện tập :
Bài 6 : Luyện tập các loại hợp chất vô cơ
4/ Sử dụng BĐTD trong bài thực hành:
Trong giờ thực hành, HS cần phải làm một số thí nghiệm theo nhóm, do đó
các em cần phải nắm vững các bước tiến hành để có thể thực hiện thành công các
thí nghiệm. Các bước tiến hành phải đơn giản, ngắn gọn cho HS dễ hiểu và có thể
thực hiện theo được.
Trước giờ thực hành, GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung thực hành, sau đó
vào lớp các nhóm HS vẽ ra BĐTD thể hiện các bước tiến hành cho từng thí
nghiệm và báo cáo trước lớp. Cả lớp chỉnh sửa, bổ sung cho hòan chỉnh sau đó các
nhóm mới tiến hành thí nghiệm.
Ví dụ : BĐTD thí nghiệm 3 – Nhận biết 3 dd HCl, H 2SO4, Na2SO4 trong bài
thực hành “ Tính chất hóa học của oxit và axit”
5/ Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà:
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu
nên bài tập về nhà mà GV giao cho HS ( hoặc nhóm HS) trước hết phải gắn bó với
nội dung bài học và trong điều kiện cho phép ( trình độ HS, thời gian, kinh tế…).
Yêu cầu đối với bài về nhà cũng không cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu
tư lớn hơn ( cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể
hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của HS.
Ví dụ : Sau khi học bài Oxit, GV yêu cầu HS về nhà vẽ bản đồ tư duy thể hiện
các nội dung vừa học.
6/ Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức một chương hoặc nhiều bài:
Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn.
Tương tự, GV và HS có thể thể hiện một phần nội dung bài học, một bài học hoặc
nhiều bài học, một chương kiến thức. Vấn đề là các nội dung này có điểm chung
với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa. Tùy theo mục đích sử dụng
mà có thể thiết kế BĐTD trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thực
hành, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chương, một phần kiến thức. Với bài tập
này, GV có thể cùng HS làm tại lớp hoặc bài tập giao về nhà cho HS, nhóm HS.
III. Hiệu quả áp dụng:
Qua hơn 4 tháng thực hiện đề tài “ Sử dụng BĐTD trong dạy học Hóa học
THCS” ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi nhận thấy:
Việc lập BĐTD có thể do từng cá nhân hoặc một nhóm thực hiện. BĐTD vừa
mang đậm dấu ấn cá nhân vừa thể hiện được ý tưởng sáng tạo của tập thể do đó vận
dụng BĐTD vào dạy học đã phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS góp phần tích
cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học.
Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết
quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và phương pháp giảng
dạy của GV:
- Học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và
phát triển tư duy. HS hào hứng trong học tập, dần hình thành cho các em tư duy
mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách tổng thể,
khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng, HS hiểu bài, nhớ lâu, vận dụng
tốt.
- GV tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, làm cho giờ học
trở nên nhẹ nhàng đối với GV và HS, và đặc biệt là giúp HS nắm được kiến thức
qua một “ sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức. Sử dụng BĐTD vào dạy
học, GV và HS cùng làm việc tích cực, sáng tạo, huy động một lúc nhiều kiến thức.
* Kết quả khảo sát học sinh:
Kết quả này thu nhận được khi tiến hành khảo sát học sinh vào thời điểm tháng
9 ( chưa thực hiện đề tài) và thực hiện liên tục đến cuối tháng 2 của năm học 2021 –
2022 với tổng số HS tham gia khảo sát là 183 em.
Thời gian
TSHS
Tháng 9
8 - 10
5–7
3-4
0–2
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
183
34
18.6
102
55.7
30
16.3
17
9.2
Tháng 10
183
53
28.9
95
51.9
22
12
13
7.1
Tháng 11
183
62
33.8
85
46.4
28
15.3
8
4.3
Tháng 12
183
66
36
89
48.6
22
12
6
3.2
Tháng 1 , 2
183
84
46.4
82
40.9
13
7.1
4
2.1
Với kết quả trên cho thấy tỷ lệ HS đạt điểm từ 5 – 10 ngày càng tăng lên và
tỷ lệ HS từ 0 – 4 điểm giảm xuống rõ rệt. Qua đó cho thấy khả năng ghi nhớ bài của
HS có chuyển biến tích cực so với thời điểm chưa thực hiện đề tài. Dạy học bằng
bản đồ tư duy giúp cho học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và
chính xác nội dung bài học của mình, khắc phục được tình trạng học sau quên
trước. Đặc biệt, đối với phương pháp này không chỉ phát triển được trí tuệ của học
sinh qua khả năng vẽ và viết ngắn gọn, cô đọng nội dung bài học trên bản đồ tư
duy, mà các em học sinh còn hệ thống được kiến thức khi tổng hợp và chọn lọc ý để
trình bày. Ngoài ra, còn giúp cho học sinh không nhàm chán mà luôn sôi nổi và hào
hứng trong tiết học, từ đó tạo được điều kiện cho học sinh tập trung thảo luận và
cùng tìm ra vấn đề cốt lõi trong nội dung của bài học. Với phương pháp này buộc
học sinh phải chủ động trong việc học của mình, từ đó mà hiệu quả trong việc học
không ngừng được nâng cao.
C. KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
Qua gần 2 năm giảng dạy bộ môn Hóa ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi đã áp dụng
nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy
tính tích cực của HS nhằm mục đích đưa bộ môn Hóa học vào cuộc sống của các
em, làm cho các em không còn tâm lý “ sợ” bộ môn Hóa học. Trong phương pháp
dạy học trước đây tôi đã từng áp dụng việc dạy học bằng bản đồ tư duy như vẽ sơ
đồ hay biểu bảng nhưng ở mức độ đơn giản và áp dụng không thường xuyên. Còn
hiện nay khi thực hiện đề tài này thì tôi áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ
tư duy một cách thường xuyên hơn với mức độ cao hơn và kết quả là phát huy tính
chủ động sáng tạo của học sinh trong việc tìm tòi, đào sâu hay mở rộng một ý
tưởng,… HS ngày càng yêu thích bộ môn Hóa học hơn và rất hào hứng trong các
tiết học. Từ đó tạo cho tôi một tâm lý thoải mái, nhiệt tình hơn trong giảng dạy,
chịu khó đầu tư soạn nhiều giáo án có chất lượng góp phần nâng cao chất lượng dạy
học. Áp dụng phương pháp này làm cho tiết dạy của tôi trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh
động hơn, tiết kiệm được thời gian nhưng hiệu quả giảng dạy lại cao hơn. Đây là
phương pháp hỗ trợ tích cực cho tiết dạy, ôn tập kiến thức cho học sinh một cách
khoa học. Qua đó học sinh ghi nhớ sâu sắc kiến thức, tránh được kiểu học vẹt, học
thuộc lòng một cách máy móc.
II. Khả năng áp dụng:
Đề tài: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hóa học THCS” được áp dụng
đối với bộ môn Hóa học lớp 8, 9 và phù hợp với các loại bài cơ bản như:
Hóa 8 – gồm các loại bài:
+ Nghiên cứu khái niệm, định luật hóa học cơ bản.
+ Tính chất hóa học của các chất cụ thể có nhiều ứng dụng như Oxi, Hiđro, Nước.
+ Bài có nội dung điều chế, ứng dụng.
+ Bài thực hành hóa học.
+ Bài luyện tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm.
Hóa 9 – gồm các loại bài:
+ Nghiên cứu tính chất hóa học chung của các loại chất như: oxit, axit, bazơ,….
+ Nghiên cứu tính chất hóa học các chất cụ thể như canxi oxit, lưu huỳnh đioxit,
axit sunfuric….
+ Bài nghiên cứu tính chất hóa học của các chất hữu cơ.
+ Bài có nội dung sản xuất hóa học.
+ Bài thực hành hóa học.
+ Bài luyện tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm.
Đối với những bài nghiên cứu kiến thức mới thì việc sử dụng BĐTD sẽ giúp
học sinh tiếp thu bài một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng.
Đối với bài nghiên cứu tính chất hóa học thì việc sử dụng BĐTD ngoài tác
dụng giúp học sinh tiếp thu bài nhanh, còn giúp học sinh ghi nhớ hiệu quả hơn và
có thể dễ dàng so sánh với những chất khác.
Đối với bài thực hành thì giúp học sinh nắm được trình tự tiến hành các thí
nghiệm một cách đơn giản, ngắn gọn làm cho thao tác thí nghiệm chính xác, nhẹ
nhàng kết quả là thúc đẩy sự thành công của các thí nghiệm.
Đối với bài ôn tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm thì việc sử dụng BĐTD giúp
học sinh hệ thống hóa các kiến thức đã học một cách nhanh chóng, đồng thời giúp
khắc sâu kiến thức trọng tâm.
Đối với bài có nội dung sản xuất hóa học thì việc sử dụng BĐTD giúp cho HS
nắm được quy trình sản xuất hóa học và thấy rằng nền sản xuất hóa học không chỉ
có vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có vai trò to lớn đối với nền
kinh tế.
Việc áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học có thể được tiến hành ở bất kỳ thời
điểm nào của tiết học: trước, trong và sau khi học bài mới. Tuy thời điểm thực hiện
có khác nhau nhưng việc sử dụng BĐTD đều nhằm mục đích là củng cố kiến thức,
khắc họa kiến thức một cách sâu sắc,cô đọng nhưng dễ hiểu, dễ tiếp thu và có thể
thực hiện với mọi đối tượng học sinh.
III. Đề xuất, kiến nghị:
- Đối với GVBM: cần tăng cường hoạt động của HS trong các giờ học, tạo
điều kiện tối đa cho các em phát huy tiềm năng trí tuệ và óc sáng tạo của mình.
- Đối với CMHS: cần tạo một không gian học tập thoải mái cho con, dành
nhiều thời gian cho con học tập, luôn có sự theo dõi tình hình học tập của con,
kịp thời khen thưởng, khích lệ hoặc uốn nắn những sai sót của con.
- Đối với HS: cần nổ lực, chuyên cần trong học tập, thường xuyên tự ôn tập
những kiến thức đã học một cách tự giác và hiệu quả.
- Đối với các cấp lãnh đạo:
+ Trang bị phân mềm vẽ BĐTD cho các trường.
+ Tập huấn cách sử dụng phân mềm vẽ BĐTD và phương pháp dạy học có sử
dụng BĐTD cho giáo viên.
Xác nhận của BGH
Ba Vì, ngày 20/02/2022
Người viết
Nguyễn Thuỳ Linh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ( 2009), Văn bản số
242-TB/TW ngày 15/04/2009 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục
thực hiện Nghị quyêt Trung ương 2 ( khóa VIII), phương hướng phát triển giáo
dục và đào tạo đến năm 2020.
2/ Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Dạy tốt – học tốt các môn học bằng
BĐTD, NXB Giáo dục Việt Nam 2011.
3/ Trần Kiểu, Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Viện Khoa học
Giáo dục Việt Nam.
4/ Jan E.Pollock, Các PPDH hiệu quả, ( tài liệu dịch), NXB giáo dục Việt
Nam, 2011.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lý do khách quan:
Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam (Khoá VII) đã vạch ra phương hướng về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục
và đào tạo”, coi “giáo dục và đào tạo là một động lực thúc đẩy” và là một điều cơ
bản đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất
nước. Mục tiêu cao cả của giáo dục là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài”, do vậy phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học của ngành giáo
dục là một công việc có tính thời sự và thường xuyên. Để làm được công việc to lớn
và khó khăn này, giáo viên phải đi sâu nghiên cứu những vấn đề về nội dung kiến
thức khoa học cơ bản, những hình thức tổ chức, những phương tiện giảng dạy và
những phương pháp thích hợp.
Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học các
môn học ở trường phổ thông nói chung và môn Hoá học nói riêng. Công nghệ thông
tin được ứng dụng vào môn hoá học đã góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây
hứng thú học tập bộ môn cho HS. Để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc
sâu kiến thức trong bộ não một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn
trong bộ não của HS, trong quá trình giảng dạy của mình, tôi thường hướng dẫn HS
ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống sang
phương pháp ghi bài bằng BĐTD. Tôi nhận thấy phương pháp này là thực sự cần
thiết nhằm giúp HS rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ
thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em. Vì vậy,
tôi đã đưa phương pháp dạy học bằng BĐTD vào áp dụng cho các tiết học lí thuyết
trong chương trình Hoá học lớp 8 và lớp 9.
2. Lý do chủ quan:
Hóa học là một môn học thực nghiệm, mang tính khoa học rất cao. Hóa học
đòi hỏi ở học sinh rất nhiều về năng lực tư duy, phân tích và khả năng tìm tòi sáng
tạo để nắm vững kiến thức, từ đó rèn luyện thành kỹ năng và phát triển mềm dẻo
thành kỹ xảo. Vì vậy việc thiết kế và tổ chức dạy học của giáo viên là một nghệ
thuật. Việc người dạy chọn cho mình một phương pháp truyền thụ kiến thức để học
sinh dễ tiếp nhận nhất. Mặt khác, một phương pháp mà đòi hỏi học sinh phải có tính
tự giác, tự tìm tòi kiến thức, sáng tạo và có khả năng vận dụng để giải thích các hiện
tượng thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế, dạy học theo chủ đề là
phương pháp mà ngành Giáo dục đã đưa vào nhiệm vụ của năm học 2014 – 2015
đến nay. Với kiến thức trong chương trình sách giáo khoa hiện hành việc dạy học
theo bài đã phân định và thời gian của mỗi tiết học không còn là bắt buộc theo thứ
tự thay vào đó dạy học theo chủ đề vẫn đảm bảo nội dung kiến thức của chương
trình, mặt khác nó còn khơi dạy được tính chủ động, tự giác, tính tự tìm tòi, sáng
tạo và vận dụng của người học. Việc logic lại nội dung kiến thức đã học hay đưa ra
một sơ đồ để tóm tắt hệ thống các kiến thức của bài học là nội dung đã được áp
dụng từ nhiều năm nay bằng sơ đồ tư. Việc kết hợp sơ đồ tư dạy vào dạy hóa học
theo chủ đề lại càng nâng cao kỹ năng cho người học, bắt buộc người học phải vận
dụng nhiều kỉ năng như : sưu tầm, tìm tòi, vận dụng, hệ thống lại các kiến thức, từ
đó xây dựng thành sơ đồ tư duy để vận dụng vào bài học. Để đáp ứng được yêu cầu
trên tôi chọn đề tài tài “ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học hóa học THCS “
Rất mong sự đóng góp ý kiến chân tình của quý đồng nghiệp để tôi ngày càng
được hoàn thiện hơn trong nghề nghiệp.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
+ Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn hoá học 8, 9 theo sơ đồ tư duy
và chuẩn KTKN được điều chỉnh giảm tải trong PPCT năm học 2021 – 2022”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn Hoá lớp 8, 9 ở trường THCS.
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh học bài theo sơ đồ tư duy.
III. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Thực hiện thường xuyên trong quá trình giảng dạy, từ tháng 9/2021 đến cuối
tháng 4/2022.
IV. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng yêu cầu
phát triển xã hội, để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp
dạy học sử dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học chứa đựng một số vấn đề
cơ bản của hoá học, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho
học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính tích
cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ không
còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc
với giáo viên trong tiết học.
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú và được
sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho
giáo viên trong quá trình giảng dạy. Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương
tiện trực quan và kỹ thuật sẽ góp phần ghi nhớ va hiểu sâu, hiểu mạch lạc kiến thức
có hiệu quả. Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ thuật đòi
hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng. Rõ ràng làm tốt
công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy.
V. TÍNH MỚI MẺ CỦA ĐỀ TÀI
Việc kết hợp sơ đồ tư dạy vào dạy hóa học theo chủ đề nhằm nâng cao kỹ năng
cho người học, bắt buộc người học phải vận dụng nhiều kỉ năng như : sưu tầm, tìm
tòi, vận dụng, hệ thống lại các kiến thức, từ đó xây dựng thành sơ đồ tư duy để vận
dụng vào bài học.
Việc dạy học theo chủ đề không bắt buộc theo thứ tự bài đã phân định mà theo
chủ quan của người dạy, người triên khai bài học nhưng vẫn phải đảm bảo nội dung
như trong SKG, vận dụng kiến thức thực tiễn nhiều hơn, học sinh chủ động tự tìm
tòi nghiên cứu.
PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lý luận:
1. Khái quát về bản đồ tư duy:
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy nhằm tìm tòi,
đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống
hóa một chủ đề … chữ viết. Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ
thông thường như bản đồ địa lý mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép
theo mạch tư duy của mỗi người bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường
nét, màu sắc, chữ viết.
BĐTD là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ
thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp
với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm
năng vô tận của bộ não.
Cơ chế hoạt động của BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lưới liên tưởng (các nhánh). BĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ
với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố
kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,...
.
2. Vai trò của bản đồ tư duy:
- BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp
học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là
mục tiêu dạy học. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học HS sẽ học được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
- BĐTD - giúp HS học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu cho
thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự
suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, là biện pháp hỗ trợ đổi mới
phương pháp dạy học một cách hiệu quả. Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm là phát
huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của HS,
các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng,
cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách
trình bày kiến thức của từng HS.
3. Những điều cần tránh khi thiết kế bản đồ tư duy:
- Ghi lại nguyên cả đọan văn dài dòng: Khi thiết kế BĐTD cẩn chọn lọc những
ý cơ bản, kiến thức cần thiết, ví dụ minh họa để có nhiều thông tin cho bài học.
Thiết kế BĐTD của một bài học phải thể hiện được kiến thức trọng tâm, cơ bản
cần chốt lại của bài học đó.
- Ghi chép quá nhiều ý không cần thiết hoặc quá sơ sài không có thông tin.
- Dành quá nhiều thời gian để vẽ, viết, tô màu… Chỉ nên vẽ những hình ảnh
có liên quan đến chủ đề kiến thức. Tránh khuynh hướng vẽ quá cầu kì những hình
ảnh không cần thiết.
II. Cơ sở thực tiễn:
Trong quá trình giảng dạy môn Hóa học THCS cơ bản ở các lớp đại trà của nhà
trường bản thân tôi nhận thấy phần lớn các em ở các lớp này thì kiến thức và khả
năng tư duy cũng như tính tự giác học tập của các em kém hơn nhiều so với các lớp
mũi nhọn của nhà trường, các em vẫn còn mang tính thụ động, tính ỉ lại và phụ
thuộc vào giáo viên nhiều hơn, khả năng tự tìm tòi, tính tự giác chưa cao.
Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến
thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc
nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật”
trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan
với nhau.
Do đó cần có một phương pháp giúp học sinh khắc phục những hạn chế trên,
và học tập hiệu quả. Đó là hướng dẫn HS học tập bằng SĐTD, hướng dẫn HS ghi
chép và ghi nhớ thông tin hiệu quả.
B. Nội Dung
I. Cơ sở khoa học
Bản đồ tư duy do Tony buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của
não bộ và ứng dụng vào cuộc sống. Bản đồ tư duy ( còn gọi là sơ đồ tư duy hay
lược đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ
thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,...bằng cách kết hợp việc sử dụng
đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực.
Theo các nhà nghiên cứu, thông thường ở trường phổ thông, HS mới chỉ sử
dụng bán cầu não trái ( thông qua chữ viết, kí tự, chữ số,...) để tiếp thu và ghi nhớ
kiến thức mà chưa sử dụng bán cầu não phải ( nơi ghi nhớ thông tin kiến thức thông
qua hình ảnh, màu sắc...) tức là mới chỉ sử dụng 50% khả năng của não bộ. Kiểu ghi
chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc được trải theo các
hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng nên dễ bổ sung và phát triển ý tưởng.
Vì vậy, việc sử dụng BĐTD là một công cụ hữu ích cả trong giảng dạy của giáo
viên và trong học tập của HS.
Bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :
- Lôgic, mạch lạc.
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ.
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”.
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh.
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức.
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức.
- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức.
- Giúp phân tích, so sánh, tổng hợp năm được tính chất hoá học của từng loại
hợp chất. So sánh được tính chất hoá học khác nhau của các chất trong cùng loại
họp chất.
Điểm mạnh nhất của BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng,
từ đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo.
Với những ưu điểm trên, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức
mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi
chương, mỗi học kì,...cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu
quả nhất mà lại mất ít thời gian.
Từ cơ sở thực tiễn và khoa học nêu trên, tôi chọn tên cho giải pháp khoa học
giáo dục của mình là “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hoá học lớp 8, 9 ''
II. Phương pháp thực hiện.
1. Hướng dẫn chung
1.1. Các bước thực hiện một bản đồ tư duy
- Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên một
mảnh giấy (đặt nằm ngang).
Quy tắc vẽ chủ đề :
+ Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác.
+ Có thể tự do sử dụng tất cả màu sắc mà bạn thích.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được
làm nổi bật dễ nhớ.
+ Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ. Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ
vào chủ đề trung tâm.Quy tắc vẽ tiêu đề phụ :
+ Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh dày để
làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có
thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3 : Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
Quy tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ :
+ Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh.
+ Bất cứ lúc nào có thể, bạn hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết
kiệm không gian vẽ và thời gian. Mọi người ai cũng có cách viết tắt riêng cho
những từ thông dụng. Bạn hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho
riêng bạn.
- Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của bạn bay bổng. Bạn
có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như
giúp lưu chúng vào trí nhớ của bạn tốt hơn.
1.2. Quá trình hướng dẫn HS xây dựng bản đồ tư duy.
- Bước 1: Trước hết GV phải cho HS làm quen với BĐTD. Bởi vì thực tế cho thấy
rằng rất nhiều HS cũng chưa biết BĐTD là cái gì, cấu trúc ra sao và vẽ như thế nào,
vì thế GV trước hết cần phải cho HS làm quen và giới thiệu về BĐTD cho HS. Giáo
viên nên giới thiệu cho HS về nguồn gốc, ý nghĩa hay tác dụng của việc sử dụng
BĐTD trong học tập môn Hoá học. Hiện nay đã có các phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ
tu duy rất đơn giản và dễ sử dụng như Edraw Mind Map, Freeplane, PowerPoint,
….
Giáo viên có thể đưa ra một số BĐTD sau đó yêu cầu HS diễn giải, thuyết
trình về nội dung của BĐTD theo cách hiểu riêng của mình. Với việc thực hiện
bước này sẽ giúp HS bước đầu làm quen và hiểu về BĐTD.
Ví dụ : Trong bài Mở đầu môn hoá học GV sẽ đưa ra hệ thống hoá các nội dung
bài học yêu cầu HS diễn giải sơ đồ
- Bước 2: Sau khi đã làm quen với BĐTD giáo viên có thể giao cho HS hoặc cùng
HS xây dưng lên một BĐTD ngay tại lớp với các bài ôn tập, hệ thống hóa kiến thức
Ví dụ : Trong bài luyện tập tiết 18 hoá 9 GV cùng HS phân loại các hợp chất
vô cơ đã học trong chương I lớp 9
- Bước 3 : Sau khi HS vẽ xong bản đồ tư duy, giáo viên có thể để HS tự trình bày ý
tưởng về bản đồ tư duy mà mình vừa thực hiện được.
1.3. Những điều cần tránh khi ghi chép trên bản đồ tư duy
- Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng.
- Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
- Dành quá nhiều thời gian để ghi chép.
2. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc chuẩn bị bài của học sinh và dạy bài
mới của giáo viên.
2.1. Nhiệm vụ của học sinh chuẩn bị bài ở nhà.
Giáo viên định hướng cho HS chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một BĐTD về
bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới. Điều này sẽ bắt buộc HS phải đọc
bài và nghiên cứu bài trước, giúp HS nắm được một cách khái quát những điều sẽ
có trong bài học mới
Ví dụ : Trước khi học bài “ tinh bột và xenlulozơ“ GV yêu cầu HS về vẽ một
BĐTD về các đề mục có trong bài.
2.2. Sử dụng bản đồ tư duy khi vào tiết học mới.
Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài học lên bảng bằng một
hình vẽ bất kì trên bảng của lớp, cho HS ngồi theo nhóm thảo luận BĐTD của mỗi
HS đã chuẩn bị trước ở nhà đối với BĐTD của các bạn trong nhóm.
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn cấp số
1 (các đề mục có trong bài) và gọi HS lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề, chia thành các
nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
Sau khi HS vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, GV đặt câu hỏi tiếp ở nhánh thứ
nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2... HS sẽ hoàn thành nội dung BĐTD của bài học
mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu
vào BĐTD của từng cá nhân.
Ví dụ 1 : Khi học bài “ Tinh bột và xenlulozơ “ ( tiết 63 theo phân phối chương
trình ), sau khi HS vẽ xong nhánh cấp 1, GV sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi để triển
khai kiến thức và hoàn thiện BĐTD của bài học :
+ Trạng thái tự nhiên của tinh bột và xenlulozơ có gì khác nhau?
+ Tính chất vật lý của tinh bột và xenlulozơ như thế nào?
+ Tính chất hoá học của tinh bột và xenlulozơ giống và khác nhau như thế nào ?
Sơ đồ minh hoạ
Ví dụ 2 : Khi học bài “ Clo “ GV có thể kết hợp với BĐTD đã vẽ trong bài “
Clo“ và thông qua hệ thống câu hỏi để xây dựng BĐTD cho bài học mới, khi đó
việc tiếp thu kiến thức mới của HS trở nên logic và khái quát hơn
Sơ đồ minh hoạ bài “ Clo ”
Sau mỗi bài học, GV hướng dẫn, gợi ý để HS tự hệ thống kiến thức trọng
tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Việc làm này sẽ giúp các
em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
2.3. Sử dụng bản đồ tư duy trong việc dạy bài luyện tập.
Qua thực tế giảng dạy bộ môn tôi thấy rằng loại bài luyện tập là rất quan trọng
nhằm củng cố, hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng vận
dụng giải bài tập hóa học. Cấu trúc bài luyện tập ở SGK có 2 phần :
- Phần 1 : Kiến thức cần nhớ
- Phần 2 : Bài tập
Khi sử dụng BĐTD để hệ thống hóa các kiến thức của một chương lên trên
một tờ giấy trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung kiến thức và được đặt trong mối
liên hệ của chúng nên HS dễ nhớ và có điều kiện nhớ lâu.
Để dạy phần 1 GV có hai phương pháp để triển khai :
+ Cho HS lập một BĐTD ở nhà về nội dung kiến thức cần nhớ, khi dạy phần
này GV tổ chức cho HS nhận xét một vài bản đồ để chọn ra bản đồ hoàn chỉnh nhất
sau đó GV có thể bổ sung ý kiến của mình vào để có một bản đồ chuẩn dùng cho
HS nắm các kiến thức của bài học .
+ Giáo viên đưa ra các từ khoá kiến thức để HS triển khai nội dung.
Sau đây là bản đồ tư duy chúng tôi đã cho học sinh xây dựng trong tiết luyện tập :
Bài 6 : Luyện tập các loại hợp chất vô cơ
4/ Sử dụng BĐTD trong bài thực hành:
Trong giờ thực hành, HS cần phải làm một số thí nghiệm theo nhóm, do đó
các em cần phải nắm vững các bước tiến hành để có thể thực hiện thành công các
thí nghiệm. Các bước tiến hành phải đơn giản, ngắn gọn cho HS dễ hiểu và có thể
thực hiện theo được.
Trước giờ thực hành, GV yêu cầu HS nghiên cứu nội dung thực hành, sau đó
vào lớp các nhóm HS vẽ ra BĐTD thể hiện các bước tiến hành cho từng thí
nghiệm và báo cáo trước lớp. Cả lớp chỉnh sửa, bổ sung cho hòan chỉnh sau đó các
nhóm mới tiến hành thí nghiệm.
Ví dụ : BĐTD thí nghiệm 3 – Nhận biết 3 dd HCl, H 2SO4, Na2SO4 trong bài
thực hành “ Tính chất hóa học của oxit và axit”
5/ Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà:
Vì làm bài tập về nhà sẽ có nhiều thời gian và điều kiện để tìm kiếm tài liệu
nên bài tập về nhà mà GV giao cho HS ( hoặc nhóm HS) trước hết phải gắn bó với
nội dung bài học và trong điều kiện cho phép ( trình độ HS, thời gian, kinh tế…).
Yêu cầu đối với bài về nhà cũng không cần khó hơn, phức tạp hơn và cần sự đầu
tư lớn hơn ( cả kênh chữ, kênh hình, màu sắc, lượng thông tin…), qua đó còn thể
hiện cả tính sáng tạo và sự tích cực tìm kiếm tài liệu học tập của HS.
Ví dụ : Sau khi học bài Oxit, GV yêu cầu HS về nhà vẽ bản đồ tư duy thể hiện
các nội dung vừa học.
6/ Sử dụng BĐTD để tổng hợp kiến thức một chương hoặc nhiều bài:
Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn.
Tương tự, GV và HS có thể thể hiện một phần nội dung bài học, một bài học hoặc
nhiều bài học, một chương kiến thức. Vấn đề là các nội dung này có điểm chung
với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa. Tùy theo mục đích sử dụng
mà có thể thiết kế BĐTD trong giờ học thông thường, trong giờ kiểm tra, giờ thực
hành, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chương, một phần kiến thức. Với bài tập
này, GV có thể cùng HS làm tại lớp hoặc bài tập giao về nhà cho HS, nhóm HS.
III. Hiệu quả áp dụng:
Qua hơn 4 tháng thực hiện đề tài “ Sử dụng BĐTD trong dạy học Hóa học
THCS” ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi nhận thấy:
Việc lập BĐTD có thể do từng cá nhân hoặc một nhóm thực hiện. BĐTD vừa
mang đậm dấu ấn cá nhân vừa thể hiện được ý tưởng sáng tạo của tập thể do đó vận
dụng BĐTD vào dạy học đã phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS góp phần tích
cực vào việc đổi mới phương pháp dạy học.
Sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết
quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và phương pháp giảng
dạy của GV:
- Học sinh học được phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và
phát triển tư duy. HS hào hứng trong học tập, dần hình thành cho các em tư duy
mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách tổng thể,
khoa học chứ không phải là học vẹt, học thuộc lòng, HS hiểu bài, nhớ lâu, vận dụng
tốt.
- GV tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, làm cho giờ học
trở nên nhẹ nhàng đối với GV và HS, và đặc biệt là giúp HS nắm được kiến thức
qua một “ sơ đồ” thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức. Sử dụng BĐTD vào dạy
học, GV và HS cùng làm việc tích cực, sáng tạo, huy động một lúc nhiều kiến thức.
* Kết quả khảo sát học sinh:
Kết quả này thu nhận được khi tiến hành khảo sát học sinh vào thời điểm tháng
9 ( chưa thực hiện đề tài) và thực hiện liên tục đến cuối tháng 2 của năm học 2021 –
2022 với tổng số HS tham gia khảo sát là 183 em.
Thời gian
TSHS
Tháng 9
8 - 10
5–7
3-4
0–2
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
183
34
18.6
102
55.7
30
16.3
17
9.2
Tháng 10
183
53
28.9
95
51.9
22
12
13
7.1
Tháng 11
183
62
33.8
85
46.4
28
15.3
8
4.3
Tháng 12
183
66
36
89
48.6
22
12
6
3.2
Tháng 1 , 2
183
84
46.4
82
40.9
13
7.1
4
2.1
Với kết quả trên cho thấy tỷ lệ HS đạt điểm từ 5 – 10 ngày càng tăng lên và
tỷ lệ HS từ 0 – 4 điểm giảm xuống rõ rệt. Qua đó cho thấy khả năng ghi nhớ bài của
HS có chuyển biến tích cực so với thời điểm chưa thực hiện đề tài. Dạy học bằng
bản đồ tư duy giúp cho học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu và
chính xác nội dung bài học của mình, khắc phục được tình trạng học sau quên
trước. Đặc biệt, đối với phương pháp này không chỉ phát triển được trí tuệ của học
sinh qua khả năng vẽ và viết ngắn gọn, cô đọng nội dung bài học trên bản đồ tư
duy, mà các em học sinh còn hệ thống được kiến thức khi tổng hợp và chọn lọc ý để
trình bày. Ngoài ra, còn giúp cho học sinh không nhàm chán mà luôn sôi nổi và hào
hứng trong tiết học, từ đó tạo được điều kiện cho học sinh tập trung thảo luận và
cùng tìm ra vấn đề cốt lõi trong nội dung của bài học. Với phương pháp này buộc
học sinh phải chủ động trong việc học của mình, từ đó mà hiệu quả trong việc học
không ngừng được nâng cao.
C. KẾT LUẬN
I. Ý nghĩa của đề tài đối với công tác:
Qua gần 2 năm giảng dạy bộ môn Hóa ở trường THCS Tản Lĩnh, tôi đã áp dụng
nhiều phương pháp dạy học khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy
tính tích cực của HS nhằm mục đích đưa bộ môn Hóa học vào cuộc sống của các
em, làm cho các em không còn tâm lý “ sợ” bộ môn Hóa học. Trong phương pháp
dạy học trước đây tôi đã từng áp dụng việc dạy học bằng bản đồ tư duy như vẽ sơ
đồ hay biểu bảng nhưng ở mức độ đơn giản và áp dụng không thường xuyên. Còn
hiện nay khi thực hiện đề tài này thì tôi áp dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ
tư duy một cách thường xuyên hơn với mức độ cao hơn và kết quả là phát huy tính
chủ động sáng tạo của học sinh trong việc tìm tòi, đào sâu hay mở rộng một ý
tưởng,… HS ngày càng yêu thích bộ môn Hóa học hơn và rất hào hứng trong các
tiết học. Từ đó tạo cho tôi một tâm lý thoải mái, nhiệt tình hơn trong giảng dạy,
chịu khó đầu tư soạn nhiều giáo án có chất lượng góp phần nâng cao chất lượng dạy
học. Áp dụng phương pháp này làm cho tiết dạy của tôi trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh
động hơn, tiết kiệm được thời gian nhưng hiệu quả giảng dạy lại cao hơn. Đây là
phương pháp hỗ trợ tích cực cho tiết dạy, ôn tập kiến thức cho học sinh một cách
khoa học. Qua đó học sinh ghi nhớ sâu sắc kiến thức, tránh được kiểu học vẹt, học
thuộc lòng một cách máy móc.
II. Khả năng áp dụng:
Đề tài: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Hóa học THCS” được áp dụng
đối với bộ môn Hóa học lớp 8, 9 và phù hợp với các loại bài cơ bản như:
Hóa 8 – gồm các loại bài:
+ Nghiên cứu khái niệm, định luật hóa học cơ bản.
+ Tính chất hóa học của các chất cụ thể có nhiều ứng dụng như Oxi, Hiđro, Nước.
+ Bài có nội dung điều chế, ứng dụng.
+ Bài thực hành hóa học.
+ Bài luyện tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm.
Hóa 9 – gồm các loại bài:
+ Nghiên cứu tính chất hóa học chung của các loại chất như: oxit, axit, bazơ,….
+ Nghiên cứu tính chất hóa học các chất cụ thể như canxi oxit, lưu huỳnh đioxit,
axit sunfuric….
+ Bài nghiên cứu tính chất hóa học của các chất hữu cơ.
+ Bài có nội dung sản xuất hóa học.
+ Bài thực hành hóa học.
+ Bài luyện tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm.
Đối với những bài nghiên cứu kiến thức mới thì việc sử dụng BĐTD sẽ giúp
học sinh tiếp thu bài một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng.
Đối với bài nghiên cứu tính chất hóa học thì việc sử dụng BĐTD ngoài tác
dụng giúp học sinh tiếp thu bài nhanh, còn giúp học sinh ghi nhớ hiệu quả hơn và
có thể dễ dàng so sánh với những chất khác.
Đối với bài thực hành thì giúp học sinh nắm được trình tự tiến hành các thí
nghiệm một cách đơn giản, ngắn gọn làm cho thao tác thí nghiệm chính xác, nhẹ
nhàng kết quả là thúc đẩy sự thành công của các thí nghiệm.
Đối với bài ôn tập cuối chương, cuối kỳ, cuối năm thì việc sử dụng BĐTD giúp
học sinh hệ thống hóa các kiến thức đã học một cách nhanh chóng, đồng thời giúp
khắc sâu kiến thức trọng tâm.
Đối với bài có nội dung sản xuất hóa học thì việc sử dụng BĐTD giúp cho HS
nắm được quy trình sản xuất hóa học và thấy rằng nền sản xuất hóa học không chỉ
có vai trò quan trọng trong đời sống, sản xuất mà còn có vai trò to lớn đối với nền
kinh tế.
Việc áp dụng bản đồ tư duy trong dạy học có thể được tiến hành ở bất kỳ thời
điểm nào của tiết học: trước, trong và sau khi học bài mới. Tuy thời điểm thực hiện
có khác nhau nhưng việc sử dụng BĐTD đều nhằm mục đích là củng cố kiến thức,
khắc họa kiến thức một cách sâu sắc,cô đọng nhưng dễ hiểu, dễ tiếp thu và có thể
thực hiện với mọi đối tượng học sinh.
III. Đề xuất, kiến nghị:
- Đối với GVBM: cần tăng cường hoạt động của HS trong các giờ học, tạo
điều kiện tối đa cho các em phát huy tiềm năng trí tuệ và óc sáng tạo của mình.
- Đối với CMHS: cần tạo một không gian học tập thoải mái cho con, dành
nhiều thời gian cho con học tập, luôn có sự theo dõi tình hình học tập của con,
kịp thời khen thưởng, khích lệ hoặc uốn nắn những sai sót của con.
- Đối với HS: cần nổ lực, chuyên cần trong học tập, thường xuyên tự ôn tập
những kiến thức đã học một cách tự giác và hiệu quả.
- Đối với các cấp lãnh đạo:
+ Trang bị phân mềm vẽ BĐTD cho các trường.
+ Tập huấn cách sử dụng phân mềm vẽ BĐTD và phương pháp dạy học có sử
dụng BĐTD cho giáo viên.
Xác nhận của BGH
Ba Vì, ngày 20/02/2022
Người viết
Nguyễn Thuỳ Linh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ( 2009), Văn bản số
242-TB/TW ngày 15/04/2009 thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục
thực hiện Nghị quyêt Trung ương 2 ( khóa VIII), phương hướng phát triển giáo
dục và đào tạo đến năm 2020.
2/ Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Dạy tốt – học tốt các môn học bằng
BĐTD, NXB Giáo dục Việt Nam 2011.
3/ Trần Kiểu, Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS, Viện Khoa học
Giáo dục Việt Nam.
4/ Jan E.Pollock, Các PPDH hiệu quả, ( tài liệu dịch), NXB giáo dục Việt
Nam, 2011.
 








Các ý kiến mới nhất