Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN Tập làm văn lớp 5

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn iVăn Toi
Ngày gửi: 16h:27' 16-06-2023
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 319
Số lượt thích: 0 người
1

Phßng gi¸o dôc Vµ ®µo t¹o CHÂU PHÚ
Trêng tiÓu häc “B”MỸ PHÚ

BÁO CÁO
THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
“MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP LÀM TỐT BÀI VĂN TẢ NGƯỜI QUA MỘT SỐ
THAO TÁC VÀ KHAI THÁC MÔN HỌC KHÁC ĐỐI VỚI HỌC SINH LỚP 5 ”

Người thực hiện :Nguyễn Văn Tới
Năm học : 2022- 2023

2
MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

I .Sơ lược lý lịch tác giả.

4

II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:

4

Tên sáng kiến.
Lĩnh vực .
III. Mục đích yêu cầu của sáng kiến:

5
5

1.Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến

6
7-18

3. Nội dung sáng kiến
IV. Hiệu quả đạt được

18

V. Mức độ ảnh hưởng:

19

1. Khả năng ứng dụng triển khai.

19

2. Những điều kiện cần thiết để sử dụng các mảnh ghép thời gian , sự kiện và nhân
vật lich sử vào học môn lịch sử lớp 5.

19-20

. VI. Kết luận

20

Lời kết

21

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1. Giáo viên chủ nhiệm
2. Học sinh

: GVCN

: HS

3. Kiến thức, kĩ năng: KT-KN
4. Năng lực, phẩm chất: NL-PC

3

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG TIỂU HỌC B MỸ PHÚ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Mỹ Phú ngày 9 tháng 12 năm 2022

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
“MỘT VÀI KINH NGHIỆM GIÚP LÀM TỐT BÀI VĂN TẢ NGƯỜI QUA MỘT
SỐ THAO TÁC VÀ KHAI THÁC MÔN HỌC KHÁC ĐỐI VỚI HỌC SINH
LỚP 5 ”
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Văn Tới

Nam, nữ: Nam

- Ngày tháng năm sinh: 11/7/1975
- Nơi thường trú: Thị trấn Vĩnh Thạnh Trung – Châu Phú – An Giang
- Đơn vị công tác: Trường Tiểu học B Mỹ Phú
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Lĩnh vực công tác: Giáo viên Tiểu học.
II. Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị:
1. Đặc điểm tình hình:
- Trường tiểu học B Mỹ Phú được thành lập từ năm 1992. Trường có 03 điểm
trường tọa lạc ở 03 Ấp: ấp Mỹ Trung, ấp Mỹ An và ấp Mỹ Phước nằm dọc trục lộ
giao thông liên xã thuộc địa bàn nông thôn, huy động học sinh 4 ấp trong địa bàn
xã Mỹ Phú như: (Ấp Mỹ Trung, ấp Mỹ Thuận, ấp Mỹ An và ấp Mỹ Phước ), ngoài
ra còn thu thêm học sinh các xã lân cận như xã Ô Long vĩ, xã Vĩnh Thạnh Trung...
- Toàn trường có 35 viên chức và người lao động với 609 học sinh gồm 24 lớp. Hằng
năm đều được công nhận công tác PCGD-ĐĐT. Người dân đa số sống bằng nghề
nông, một số ít nghề nuôi cá và buôn bán nhỏ. Trình độ dân trí của người dân còn
thấp so với mặt bằng chung toàn huyện.
2 . Số liệu năm học 2022-2023
2.1. Học sinh:

4

- Tổng số: 24 lớp; 609/298 nữ Chia ra:
Khối

Số lớp

Số học sinh

Kế hoạch

Thực hiện

Kế hoạch

Thực hiện

Nữ

Tỷ lệ

1

5

5

113

122

63

107,96

2

4

4

115

96

39

83,47

3

5

5

129

131

65

101,55

4

5

5

126

124

60

98,41

5

5

5

138

136

71

97,84

Tổng
cộng

24

24

621

609

298

98,07

- Bình quân số HS/lớp: 25,37 em/lớp
(Phụ lục danh sách HS các lớp)
2.2. Số liệu Cán bô, giáo viên, nhân viên
- Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên: 35/17 nữ ; Trong đó:
+ CBQL: 02
+ Giáo viên chủ nhiệm: 23
+ Giáo viên dạy Thể dục 02; giáo viên dạy tiếng Anh: 01; giáo viên dạy Mỹ thuật:
01; giáo viên dạy Âm nhạc: 01; Cán bộ TV-TB: 01.; Nhân viên KT-YTHĐ: 01;
Giáo viên TPT Đội: 01)
Bình quân GV/lớp: 1,2
(Phụ lục bảng phân công CBGVNV)
- Người lao động: 02
3. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
- Tổng số lớp: 24 lớp; tổng số phòng: 22 phòng
- Tỷ lệ phòng học/lớp: 0,92 ; Văn phòng: 01, ; phòng TV-TB: 01
(Phụ lục Sơ đồ bố trí phòng học, phòng chức năng)
- Thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định 1 bộ/ lớp, làm đồ dùng dạy học ít nhất 1
sản phẩm / 01GV/ 01 học kỳ.
3. Thuận lợi, khó khăn

5

3.1 Những thuận lợi
- Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Phòng Giáo dục Đào tạo Châu Phú, cùng
các loại văn bản hướng dẫn của sở, phòng GDĐT Châu Phú trong việc thực hiện
công tác giáo dục.
- Trường tiểu học B Mỹ Phú trong nhiều năm liền duy trì trường đạt danh hiệu
“Trường học văn hóa”, “Trường học thân thiện học sinh tích cực”, Nề nếp giảng
dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh dần đi vào ổn định. Cơ sở vật
chất được quan tâm đầu tư từng bước làm cho cảnh quan sư phạm nhà trường
thêm khang trang so với các năm về trước.
- Đội ngũ GV có tinh thần xây dựng, đoàn kết thống nhất cao, một số Giáo viên
vững về nghiệp vụ sư phạm. Trình độ chuyên môn của GV hằng năm được nâng
dần từ Trung học sư phạm; Cao đẳng lên Đại học, hiện nay GV đạt chuẩn chuyên
môn 28/30 giáo viên đạt chuẩn, đạt tỉ lệ: 93,33% giáo viên đạt chuẩn.
- Đời sống kinh tế của gia đình học sinh từng bước ổn định; phần đông nhận thức,
thái độ quan điểm của quần chúng nhân dân trong việc chăm lo cho sự nghiệp GD
được từng bước nâng lên.
- Chính quyền địa phương đã quan tâm hỗ trợ đúng mức. Công tác XHHGD được
cộng đồng quan tâm thực hiện có hiệu quả trong đó việc chăm lo phát triển CSVC
tạo vẽ mỹ quan trường học được đặt lên hàng đầu.
- Ban đại diện cha mẹ học sinh quan tâm chăm lo đến CSVC, dụng cụ học tập của
học sinh, nhất là học sinh nghèo; cận nghèo, học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
- Lực lương cốt cán của trường vững vàng về tinh thần thái độ và trách nhiệm
trong công tác. Tận tụy đoàn kết nhất trí, thống nhất về quan điểm làm việc.
3.2 Những khó khăn, vướng mắc:
- Phòng học chưa đáp ứng yêu cầu theo tỉ lệ 1/1.
- Một vài giáo viên lớn tuổi khả năng tiếp cận công nghệ thông tin đưa vào công tác
soạn giảng có phần còn hạn chế nên ảnh hưởng một phần đến việc đầu tư giảng
dạy.
- Một bộ phận học sinh gia đình nghèo, phải phụ tiếp gia đình nên ảnh
hưởng không nhỏ đến việc học tập.
- Thiết bị dạy học còn thiếu nên ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học theo
phương pháp đổi mới (đèn chiếu…).
- Đời sống kinh tế của một bộ phận cha mẹ học sinh học còn khó khăn phải đi làm
thuê, mướn khỏi địa phương gửi con cho ông bà chăm sóc nên việc quan tâm việc

6

học của các em chưa thật sự chu đáo. Tư tưởng còn khoán trắng học tập con em
cho nhà trường.
- Tình hình các dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp, trong đó dịch bệnh
Covid-19.
.Tên sáng kiến: Sử dụng“Một vài kinh nghiệm giúp làm tốt bài văn tả người qua
một số thao tác và khai thác môn học khác đối với học sinh lớp 5 ”
. Lĩnh vực: Tập làm văn Tiểu học.
III. Mục đích yêu cầu của sáng kiến:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến
Qua nắm bắt tình hình và trao đổi với đồng nghiệp về việc giảng dạy tập làm văn tả
người có liên quan đến“Một vài kinh nghiệm giúp làm tốt bài văn tả người qua một
số thao tác và khai thác môn học khác đối với học sinh lớp 5” bản thân tôi nhận
thấy:
Từ xa xưa đất nước Việt Nam ta vốn có truyền thống hiếu học. Bao tấm gương hiếu học
và đã trở thành những nhà bác học thiên tài trong nhiều lĩnh vực. Hiện nay truyền thống
đó ngày càng được phát triển và nhân rộng thêm. Việc học tập để lĩnh hội tri thức mới
giúp cho thế hệ trẻ tiếp thu được những tinh hoa văn hóa, khoa học kĩ thuật của nhân
loại, vững vàng hội nhập quốc tế là vấn đề cấp bách đang được toàn đảng toàn dân quan
tâm hàng đầu. Để đáp ứng được vấn đề này hệ thống giáo dục là vấn đề cốt lõi. Trong hệ
thống giáo dục thì giáo dục bậc Tiểu học là rất quan trọng. Trong chương trình Tiểu học,
cùng với môn Toán, môn Tiếng Việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh
các kĩ năng sử dụng Tiếng việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học sinh
những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt
Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần thành hình thành con người Việt Nam
trong thời kì đổi mới.
Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như Tập đọc, Luyện từ và câu, Kể
chuyện, Tập viết, Chính tả, Tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người dạy cũng như
đối với người học là phân môn Tập làm văn.
Tập làm văn là phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu học, nó không
chỉ giúp cho học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe , nói, đọc, viết mà còn rèn cho học
sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành cho học
sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động. Dạy Tập làm
văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong thực tế vốn có của nó
với cảm xúc thực của các em. Đồng thời cũng dạy các em cách ghi lại sự nhìn nhận ấy

7

qua các văn bản còn gọi là đoạn văn, bài văn một cách chính xác về đối tượng, về ngữ
pháp Tiếng Việt.
Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính của chương
trình tập làm văn 5 là văn miêu tả nó có hệ thống xây dựng lí thuyết riêng cho từng thể
loại như: Tả người, tả cảnh vật, tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật... và ở từng thể loại đòi
hỏi giáo viên phải có những cách rèn khác nhau để đạt được những kĩ năng cần thiết.
Một bài văn hay, có giá trị không phải chỉ ở chỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu mà quan
trọng hơn đó là sức truyền cảm. Để viết được bài văn hay các em cần rèn luyện năng lực
quan sát, năng lực thu thập thông tin, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích tổng hợp
và các khả năng biểu đạt, bố cục, tạo phong cách. Làm thế nào để cho học sinh làm văn
hay và có hiệu quả là cả một vấn đề rất khó khăn, cần phải suy nghĩ và dày công nghiên
cứu của những người làm công tác giáo dục.
Trong thực tế giảng dạy tập làm văn phần Tả người, bản thân người giáo viên là người
hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy còn lúng túng, bí từ và không biết phải hướng dẫn thế
nào để học sinh có thể viết được bài hay, có hình ảnh, có cảm xúc. Một số tài liệu như
sách giáo khoa, sách giáo viên, sách thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số
sách khác như văn mẫu lại chỉ có các bài văn đã viết sẵn mà không có một sự hướng dẫn
nào để định hướng cho giáo viên cũng như học sinh. Do vậy tôi luôn luôn trăn trở suy
nghĩ làm thế nào để cho học sinh thích làm văn, viết văn chân thật, có cảm xúc và sinh
động. Để nâng cao chất lượng bài dạy và giúp các em rèn luyện kĩ năng sản sinh văn
bản, tạo điều kiện cho học sinh tự tìm và tự thể hiện những ý kiến, suy nghĩ của mình
một cách độc lập, chủ động không máy móc, rập khuôn. Để bạn bè và đồng nghiệp cùng
tham khảo và suy nghĩ, tôi mạnh dạn đề xuất: “Một vài kinh nghiệm giúp làm tốt bài
văn tả người qua một số thao tác và khai thác môn học khác đối với học sinh lớp
5 ” để bạn bè đồng nghiệp cùng tham khảo và suy nghĩ.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến mới.
Trong thực tế giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, tôi đưa ra “Một vài kinh
nghiệm giúp làm tốt bài văn tả người qua một số thao tác và khai thác môn học
khác đối với học sinh lớp 5 ” nhằm mục đích sau:
- Tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế trong quá trình dạy và học của giáo viên và học
sinh.
- Đưa ra một số biện pháp để phát huy các ưu điểm đó và đặc biệt là đề ra biện pháp
khắc phục những hạn chế khi dạy và học văn miêu tả.
- Giúp học sinh có hứng thú với phân môn Tập làm văn và văn Tả người nói riêng.
IV. Nội dung sáng kiến:
1. Tiến trình và thời gian thực hiện:

8

Sau những năm giảng dạy chương trình lớp 5, qua các đợt kiểm tra bài viết của học sinh,
qua dự giờ thăm lớp khối 5 tôi thấy thực trạng dạy Tập làm văn tả người lớp 5 như sau:
1.1.Về giáo viên:
a. Thực trạng dạy những kiến thức thể loại văn Tả người ở lớp 5:
- Giáo viên chỉ có một con đường duy nhất là hình thành các hiểu biết về lí thuyết, thể
loại văn, kĩ năng làm văn...Phần lớn giáo viên lấy sách giá khoa, sách giáo viên làm
chuẩn để dạy. Trong khi đó các lí thuyết về thể loại nhiều khi chưa được sách giáo khoa,
sách giáo viên đề cập đến. Bên cạnh đó cũng có những giáo viên thông hiểu về các thể
loại bài văn thế nhưng vì phải đảm bảo nội dung, yêu cầu của tiết học (tìm ý, làm dàn
bài hay viết một đoạn) cho một đề bài cụ thể nên họ chưa chú trọng đến việc dạy lí
thuyết này. Hầu hết các giáo viên mới chỉ nói qua về các yêu cầu đối với thể loại, kiểu
bài đang học chứ chưa chú ý đến việc dạy cho học sinh có những hiểu biết khái quát về
thể loại, kiểu bài tập làm văn, so sánh, phân biệt sự giống và khác nhau giữa các thể loại,
mối liên quan giữa các kiểu bài đang học với các kiểu bài đã học. Do không được dạy kĩ
về lí thuyết nên nhiều em còn nhầm lẫn giữa các kiểu bài như Tả người với Kể về một
người.
b. Thực trạng dạy tiết tìm ý và lập dàn ý:
Hoạt động của giáo viên bằng lời nói là chủ yếu. Thao tác hoạt động của giáo viên
nhiều: Ghi bảng, gọi học sinh nhận xét. Nhận xét học sinh trả lời. Giáo viên phụ thuộc
vào sách giáo khoa và sách hướng dẫn giảng dạy, trung thành với các tài liệu này nên ít
có biện pháp sáng tạo.
Ví dụ: Khi dạy văn tả người: Tả cụ già, giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh nắm bắt
từ thực tế, nhiều giáo viên còn dạy chay, không hướng dẫn học sinh quan sát thực tế nên
có nhiều trường hợp học sinh trình bày sự quan sát của mình qua tưởng tượng, dẫn đến
sự vô lí không đáng có trong bài văn. Do cách dạy vậy mà học sinh đã tả cụ già như: Bà
em đã già lắm rồi, răng đã rụng hết nhưng bà em vẫn bỏm bẻm nhai trầu. Mắt bà em
sáng rực, tròn như hai hòn bi ve...
c. Thực trạng tiết tập làm văn viết:
Sau khi học xong tiết Tập làm văn miệng hay lập dàn ý. Giáo viên dặn học sinh về nhà
hoàn thiện dàn bài và viết thành bài văn hoàn chỉnh để giờ sau học tiết Tập làm văn viết
và như thế, trong tiết Tập làm văn viết, học sinh chỉ làm nhiệm vụ chép lại bài đã chuẩn
bị vào giấy kiểm tra hoặc vở Tập làm văn và đem nộp, thậm chí có em còn nộp luôn bài
đã viết ở nhà.
d. Thực trạng tiết trả bài viết:
Mặc dù trong chương trình quy định mỗi đề bài Tập làm văn viết đều có tiết trả bài riêng
nhưng thực tế việc trả bài không được dạy thành tiết (đủ 40 phút). Ở tiết này giáo viên

9

trả bài cho các em và nêu 1 số lỗi, chữa bài qua loa. Hầu như học sinh không rút được
kinh nghiệm làm bài.
e. Thực trang của việc dạy Tập làm văn trong các phân môn khác.
Việc dạy phân môn Tiếng việt khác như: Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu... thì
ngoài mục đích giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của từng phân môn còn hướng cho các
em biết vận dụng các kiến thức đó vào Tập làm văn. Nhìn chung giáo viên đã ý thức
được vấn đề này nên biết kết hợp việc dạy Tập làm văn qua các phân môn trên. Tuy vậy,
một số giáo viên vẫn chưa chú ý sâu đến điều đó, dạy tiết nào biết tiết ấy nên đã bỏ qua
nhiều kiến thức cũng như kĩ năng bổ ích, thiết thực cho học sinh trong Tập làm văn.
Tôi đã trực tiếp dạy lớp 5 nhiều năm cùng với việc đi sâu dự giờ thăm lớp môn Tập làm
văn nói chung và văn Tả người lớp 5 nói riêng tôi nhận thấy rằng:
- Giáo viên chưa nắm vững ý đồ, nội dung các bài tập đưa ra trong tiết tập làm văn tả
người.
- Phương pháp giảng dạy còn đơn điệu, rập khuôn máy móc theo sách hướng dẫn.
- Giáo viên chưa làm rõ các bước cần thiết của 1 tiết học, chỉ quan tâm đến việc học sinh
làm được, viết được đoạn, được bài theo ý cô sao cho nhanh để giải quyết các bài tập
đưa ra trong tiết học. Từ đó học sinh tiếp thu bài một cách thụ động.
- Giáo viên chưa quan tâm nhiều đến sửa câu, cách dùng từ trong câu, dùng từ sai của
học sinh.
- Chưa tạo được khí thế cho học sinh mở rộng tầm nhìn, liên hệ sâu sắc trong thực tế
hoàn cảnh làm việc, hành động của người được tả để bài viết thêm phong phú, sinh
động.
1.2.Về phía học sinh:
Do hạn chế của chương trình sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy của giáo viên
như đã nói ở trên, cùng với sự lơ là trong học tập của các em đã dẫn việc dạy và học Tập
làm văn chưa đạt đến kết quả cao. Phần lớn các em chưa thực sự chủ động trong việc
lĩnh hội kiến thức, do đó càng ít có sự sáng tạo. Nhiều khi chưa nắm vững được các kĩ
năng cơ bản để làm bài (tìm hiểu đề, quan sát lập dàn ý, lập dàn bài, triển khai ý, liên kết
ý, liên kết đoạn...) dẫn đến nhiều em còn làm bài lạc đề, sắp xếp ý lộn xộn, rời rạc. Đặc
biệt là có những em chưa phân tích kĩ đề bài nên chưa làm đúng yêu cầu của đề và chưa
có thái độ, tình cảm như đề bài yêu cầu.
Ví dụ: Trong bài văn Tả người thân của em, học sinh chỉ viết được bài văn bằng trình độ
của học sinh lớp 2 và thiên về văn kể: "Bố em là thợ xây, bố em rất cao. Bố em có nước
da ngăm đen, tóc xoăn. Em rất yêu bố.”

10

Hay: "Mẹ có cái tai rất to để nghe em nói cho rõ. Mẹ còn có cái mũi dài để ngửi. Cái
miệng hay cười. Trông mẹ em rất xinh”.
Hệ thống ý trong bài văn của các em còn nghèo nàn. Chỉ rập khuôn theo sách giáo khoa,
theo vở luyện, ít có sáng tạo của bản thân. Số học sinh tìm được ý diễn đạt mới mẻ là rất
hiếm. Khi miêu tả, học sinh chưa biết chọn lọc những nét tiêu biểu để tả nên đã biến bài
văn thành bài kể lan man và cũng ít biết lồng tình cảm, cảm xúc của mình vào bài. Bài
văn của các em đa phần là dùng những câu đơn để diễn đạt nên còn rời rạc, nặng nề về
liệt kê, kể lể. Bài làm còn nhiều nét sơ lược, các chất để làm văn có hồn thì thật là hãn
hữu vì các em chưa thực sự rung động trước đối tượng tả. Một thực trạng rất phổ biến và
dễ thấy ở các em là chưa biết tự lập dàn bài trước khi viết thành bài văn. Do vậy mà
thường thiếu sót, các ý sắp xếp lộn xộn, lủng củng.
Ví dụ: Khi viết bài văn Tả cô giáo (thầy giáo), học sinh viết: "Cô giáo em rất đẹp, hằng
ngày cô giảng bài rất hay, viết chữ rất nhanh, rất đep, rất yêu quý em.
Vậy qua quá trình tìm hiểu thực trạng dạy Tập làm văn lớp 5 tôi thấy có một số vấn đề
đáng lưu ý như sau:
- Tập làm văn là phân môn có tính chất tổng hợp: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chỉnh tả,
Kể chuyện; được thể hiện tập trung ở bài Tập làm văn..
- Việc dạy văn mẫu chưa được chú ý và chưa có phương pháp dạy thích hợp nên học
sinh còn chép văn mẫu.
- Tiết trả bài chưa được giáo viên nhìn nhận với vai trò xứng đáng của nó, dẫn đến việc
nhiều giáo viên còn dạy qua loa tiết này, nên chưa hình thành cho học sinh thói quen rút
kinh nghiệm bài làm.
2.Chương trình tập làm văn lớp 5 và Thời gian thực hiện.       
Chương trình tập làm văn lớp 5 được thiết kế như sau:
Loại văn bản

Học kì I

Học kì II

cẢ NĂM

( Số tiết)

(Số tiết)

(Số tiết)

Kể chuyện (ôn tập)

0

3

3

Miêu tả:

 

- Miêu tả đồ vật (ôn tập)

0

 4

 4

- Miêu tả cây cối (Ôn tập)

0

3

3

- Miêu tả con vật (Ôn tập)

0

3

3

11

- Miêu tả cảnh

14

4

18

- Miêu tả người

8

7

15

Các văn bản khác:

 

 

 

- Báo cáo thống kê

2

 

2

- Đơn

3

 

3

- Thuyết trình, tranh luận

2

 

2

- Biên bản

3

 

3

- Chương trình hoạt động

0

3

3

- Chuyển đoạn văn thành kich.

0

3

3

               Tổng cộng số tiết

        32

         30

           62

Vấn đề 1: Dạy Tập làm văn qua các phân môn khác.
Vấn đề 2: Rèn kĩ năng sử dụng văn tham khảo trong dạy học Tập làm văn.
Vấn đề 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết.
Vấn đề 4: Rèn luyện thao tác kĩ năng làm một bài văn.
- Năm học 2018 – 2019 Học sinh lớp 5D trường Tiểu học B Mỹ Phú ; đầu năm học
khảo sát, điều tra thực trạng giảng dạy và học tập.
- Cuối năm 2018 – 2019 đến năm học 2019 - 2020 tìm hiểu và đề ra những biện pháp
khắc phục và áp dụng vào thực tế giảng dạy.
- Cuối kì I năm học 2020 – 2021 tổng kết đánh giá và rút kinh nghiệm.
- Việc nghiên cứu tìm ra “Một vài kinh nghiệm giúp làm tốt bài văn tả người qua một số
thao tác và khai thác môn học khác đối với học sinh lớp 5” được hoàn thành vào cuối

12

học kì I năm học 2021 – 2022

(Cảnh giáo viên hướng dẫn học sinh trong giờ tập làm văn)
3. Biện pháp tổ chức tiến hành sáng kiến.
3.1 .Mục tiêucủa đề tài
Từ những thực tế giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, việc đưa ra “Một vài
kinh nghiệm giúp làm tốt bài văn tả người qua một số thao tác và khai thác môn học
khác đối với học sinh lớp 5” nhằm mục đích sau:
- Tìm hiểu những ưu điểm, hạn chế trong quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh.

13

- Đưa ra một số biện pháp để phát huy các ưu điểm đó và đặc biệt là đề ra biện pháp
khắc phục những hạn chế khi dạy và học văn miêu tả.
- Giúp học sinh có hứng thú với phân môn Tập làm văn và văn Tả người nói riêng.
3.2. Mô tả giải pháp của đề tài (những vấn đề cần giải quyết)
Đứng trước thực trạng dạy và học hiện nay yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải đổi mới
phương pháp dạy học để học sinh đến với phân môn Tập làm văn thể loại miêu tả một
cách say mê, hứng thú để từ đó có cảm xúc viết văn. Tôi đi sâu vào giải quyết những vấn
đề sau:
Vấn đề 1: Dạy Tập làm văn qua các môn học khác.
Vấn đề 2: Rèn kĩ năng sử dụng văn tham khảo trong dạy học tập làm văn.
Vấn đề 3: Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết.
Vấn đề 4: Rèn luyện thao tác kĩ năng làm một bài văn.
Các vấn đề được nêu ở trên cần được giải quyết đồng thời, xen lẫn vào nhau một cách
nhịp nhàng và linh hoạt thì hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều.
3.3. phương pháp tiến hành
Từ kinh nghiệm dạy học của mình, tôi xin đưa ra một số biện pháp để giải quyết trình
bày các vấn đề được nêu ở trên để học sinh làm tốt bài văn tả người như sau:
1. Giải quyết vấn đề 1: Dạy Tập làm văn qua các phân môn khác.
Tập làm văn mang tính tích hợp cao. Nó góp phần quan trọng trong việc thực
hiện mục đích của môn Tiếng việt, phản ánh kết quả giảng dạy và học tập của các phân
môn khác và được xây dựng trên cơ sở kết quả nghiên cứu của nhiều môn khoa học.
Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc dạy học Tập đọc,
Kể chuyện, Luyện từ và câu và cả Chính tả. Đây là nơi tiếp nhận và đây cũng là nơi
luyện tập ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thức của các phân môn trên. Bài
Tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của
việc học Tập làm văn. Do vậy khi dạy các phân môn của Tiếng việt, giáo viên cần khơi
dạy Tập làm văn cho học sinh.
1.1. Dạy Tập làm văn qua phân môn Luyện từ và câu:
Qua các bài luyện từ và câu, giáo viên giúp các em hiểu biết thêm về sự phong
phú của từ vựng trong cách tạo từ các lớp theo trật tự hoặc trong mối quan hệ về âm, về
ngữ nghĩa. Từ đó các em được củng cố những hiểu biết trong cách dùng từ có chọn lọc
vừa đảm bảo tính chính xác, vừa có tác dụng biểu cảm. Phần kiến thức này ngoài dạy ở
tiết luyện từ và câu, tôi còn củng cố và hệ thống hóa bằng các loại bài tập đưa ra ở tiết

14

luyện. Tôi đã xây dựng một số các bài tập nhằm giúp các em có nhiều vốn từ để vận
dụng trong khi làm bài văn Tả người như sau:
1.1.1. Loại bài tập tìm từ theo chủ đề, đề tài.
a. Dạng 1: Yêu cầu học sinh tìm từ theo chủ đề mở rộng vốn từ:
- Các từ ngữ trong chương trình được sắp xếp theo chủ đề. Khi dạy các bài này,
giáo viên giúp học sinh hệ thống lại các từ ngữ đó và có thể tăng cường mở rộng thêm.
- Ví dụ: Các em đã được học bài mở rộng vốn từ : Nhân hậu – Đoàn kết Tuần 3,
lớp 4, do vậy khi dạy bài Tổng kết vốn từ: Bài1/Tiết 31/ Tuần 16, tôi đưa ra bài tập:
"Tìm những từ nói lên lòng nhân hậu và đoàn kết của con người?”
(Học sinh có thể tìm các từ: yêu quý, kính trọng, trên kính dưới nhường, hiếu
thảo, gần gũi, thân mật, hòa thuận, đầm ấm, gắn bó, thương yêu, đùm bọc, che chở, san
sẻ, chan hòa...)
Hay trong tiết luyện của tuần này tôi đưa thêm cho các em bài tập:
"Tìm các từ miêu tả tính tình vui vẻ của một người?”
(Do đã được học bài mở rộng vốn từ: Lạc quan yêu đời ở lớp 4 nên hầu hết các
em tìm được các từ: Vui vẻ, vui sướng, vui thích, vui tính, vui tươi, vui nhộn...)
Từ đó, tôi đã giúp các em có vốn từ ngữ về miêu tả đặc điểm tính cách của người,
giúp các em vận dụng vào viết văn. Các em dễ dàng viết được như sau:
Bạn Phương là một người vui vẻ, sống chan hòa với mọi người. Phương sẵn sàng
giúp đỡ bạn bè lúc khó khăn. Ở nhà, đối với ông bà, cha mẹ Phương là người cháu rất
hiếu thảo, đối với em Phương là người chị dịu dàng, luôn nhường nhịn các em...
Lưu ý: Đối với đối tượng học sinh có năng khiếu, song song với việc mở rộng
vốn từ, giáo viên có thể cho các em luyện nói câu, nói đoạn.
b. Dạng 2: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức từ loại.
Khi dạy về từ loại, đối với các bài tập: Danh từ - Động từ - Tính từ giáo viên có
thể đưa ra các bài tập để phục vụ trực tiếp cho bài Tập làm văn của các em.
Ví dụ:
* Tìm những từ chỉ hoạt động:
nắn...

- Hoạt động của thầy cô giáo: giảng bài, soạn bài, hướng dẫn, dạy bảo, uốn

- Hoạt động học tập của học sinh: học bài, viết bài, đọc bài, nghe giảng, chăm
chú, luyện tập, thực hành, phát biểu...

15

- Hoạt động nấu ăn của mẹ: Sửa soạn, cặm cụi, tất bật xào, nấu...
* Tìm những từ chỉ hoạt động về:
- Tính tình của một bạn học sinh ngoan: ngoan ngoãn, dịu dàng thân thiện, cởi
mở, vui vẻ, hòa nhã...
- Hình dáng của một em bé: hồn nhiên, ngây thơ, nhí nhảnh, mũm mĩm, trắng
hồng, nũng nịu....
Ngoài các yêu cầu tìm danh từ, động từ, tính từ giáo viên cũng cần chú ý dạy học
sinh bài tập thay thế các danh từ bằng các đại từ chỉ ngôi thích hợp để câu văn không bị
lặp từ. Việc dạy học sinh xác định cách dùng từ đúng với từ loại, tiểu loại của chúng
bằng cách xây dựng các bài tập dựa trên ngữ liệu là các lỗi dùng từ sai của học sinh và
để học sinh tự sửa, giúp các em rút ra được cách dùng từ thế nào cho đúng.
Ví dụ: Sửa đoạn văn sau bằng cách dùng đại từ thay thế.
Bàn tay mềm mại của cô giáo viết ra những dòng chữ thật đều và đẹp. Viết xong,
cô giáo ngắm nhìn bài viết của mình rồi ngắm nhìn chúng em mỉm cười. Cô giáo như
muốn khuyến khích chúng em hãy viết đẹp giống như mình.
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc lại đoạn văn nhiều lần.
- Tìm các từ bị lặp lại trong đoạn văn: cô giáo, chúng em.
- Hãy tìm các đại từ chỉ người hoặc các từ đồng nghĩa với các từ đó để thay thế.
Học sinh đã tìm và sửa lại như sau:
Bàn tay mềm mại của cô giáo viết ra những dòng chữ thật đều và đẹp. Viết xong,
cô ngắm nhìn bài viết của mình rồi ngắm nhìn chúng em mỉm cười. Người mẹ dịu
dàng ấy như muốn khuyến khích đàn con thơ ngây hãy viết đẹp giống như mình.
c. Dạng 3: Yêu cầu học sinh mở rộng vốn từ dựa trên kiến thức cấu tạo từ.
Ví dụ: Khi dạy bài tiết luyện tập làm bài văn Tả người tuần 17, tôi đưa loại bài
tập dựa trên kiến thức từ loại mà các em đã học ở lớp 4. Cụ thể là các bài tập sau:
1). Tìm những tiếng ghép với tiếng hiền để tạo thành từ ghép chỉ tính nết của
người? (hiền lành, hiền hậu, hiền từ, hiền thục...)
2). Tìm những từ chứa tiếng ” xinh” để tả hình dáng của người?
(xinh xinh, xinh xắn, nhỏ xinh...)
3). Tìm nghững từ ghép, từ láy chỉ các hoạt động của người? (nhanh nhẹn, hoạt
bát, cần mẫn, chăm chỉ, thức khuya, dậy sớm, xốc vác...)

16

Tóm lại khi dạy dạng bài tập này giáo viên cần phải khéo léo khi lồng ghép các
bài tập và hướng dẫn đúng mức, hợp lý nhằm giúp học sinh phát hiện ra các từ ngữ xoay
quanh một đề tài nhất định như tả cụ già hay em bé, tả giáo viên hay công nhân, nông
dân...Tả chân dung hay tả hoạt động...Từ đó giúp các em có thể lựa chọn từ thích hợp đã
tìm được ở dạng bài tập này để miêu tả tính cách, hình dáng của một người nhằm phục
vụ trực tiếp đến việc dùng từ đặt câu chính xác phù hợp văn cảnh khi làm văn Tả người
của các em.
1.1.2 Loại bài tập củng cố. Kiểm tra về nghĩa của từ.
Khi được luyện tập trên những bài này, học sinh nắm chắc được nghĩa của từ và
hiểu rằng trong nhiều trường hợp, để diễn đạt một điều gì đó thì không phải chỉ có duy
nhất một từ mà còn bao nhiêu từ khác gần nghĩa, đồng nghĩa có thể thay thế cho nó. Từ
đó mà bài văn của các em có cách diễn đạt phong phú hơn.
Bài 1: Cho các từ sau:
Cao lớn, trung thực, lười nhác, giả dối, nhỏ bé, chăm chỉ, sần sùi, trắng trẻo, mịn
màng, lực lưỡng, mảnh khảnh, đen đủi, mập mạp, còm nhom, gian giảo, nhút nhát, bạo
dạn, chất phác, nhu nhược, hèn yếu, anh dũng, siêng năng, lười biếng...
- Hãy chia các từ trên thành hai nhóm và đặt tên cho mỗi nhóm.
- Tìm những cặp từ trái nghĩa trong cùng nhóm.
Ở bài tập này giúp học sinh có khả năng lựa chọn một từ trong nhóm từ cùng
nghĩa - gần nghĩa - trái nghĩa để diễn đạt chính xác nội dung của một câu văn, đoạn văn
mà mình định viết. Ngoài ra, loại bài tập này không chỉ giúp các em diễn đạt một cách
tinh tế nội dung tư tưởng của mình mà còn cung cấp thêm vốn từ tránh những trường
hợp sử dụng từ nhầm lẫn (về nghĩa và sắc thái biểu cảm).
Bài 2: Hãy gạch chân dưới những từ dùng chưa phù hợp rồi sửa lại cho đúng.
- Cô giáo em có nước da đen sì. Giọng nói của cô oang oang.
- Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc.
- Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái.
- Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng.
Với dạng bài tập này, tôi đã tiến hành làm như sau:
1. Phát hiện từ dùng sai
2. Sửa lại cho đúng

17

Để giải quyết yêu cầu 1, tôi dẫn dắt để học sinh thấy được đối tượng miêu tả là ai,
thái độ của người viết đối với người định tả thế nào, từ dùng ở hoàn cảnh đó đúng
chưa?...
Dựa vào định hướng của cô, học sinh đã xác định được những từ dùng chưa phù
hợp như sau:
- Cô giáo em có nước da đen sì. Giọng nói của cô oang oang.
- Hùng chạy đuổi nhau trên sân trường thở hồng hộc.
- Bạn Hiếu là người có tấm lòng bác ái.
- Bố mẹ em rất được ông bà trọng vọng
Để giải quyết yêu cầu 2, giáo viên cần giúp học sinh nhận ra được các từ gạch
chân ở trên dùng chưa thích hợp với đối tượng và văn cảnh tả:
- Đối tượng được tả trong câu văn trên là ai? (Cô giáo, bạn bè, người thân)
- Họ có mối quan hệ với em ra sao? (là thầy cô dạy mình, là bạn bè, là người
thân....)
- Khi muốn nói về người tốt hoặc người thân, bạn bè, nói về tình cảm của bề trên
với bề dưới mà chúng ta dùng các từ gạch chân như văn cảnh trên đã thể hiện được sự
kính trọng hay tôn trọng chưa? (chưa được).
- Vậy ta phải thay thế chúng như thế nào? (Tìm các từ có cùng nghĩa, trái nghĩa,...
để thay thế)
Giáo viên cho học sinh thi đua tìm từ thay thế và tự sửa lại cho phù hợp văn cảnh.
Nếu học sinh yếu không tìm được thì giáo viên có thể cung cấp nhóm từ cho học
sinh lựa chọn. Như:
- Đen sì: đen nhẻm, da nâu, da bánh mật, da dám nắng...
- Oang oang: vang vang, ông ổng, thánh thót, trầm ấm, trong trẻo....
- Hồng hộc: hổn hển, phì phò....
- Bác ái: nhân hậu, nhân ái, thương người...(Giáo viên lưu ý khi học sinh lựa
chọn từ bác ái, nhân ái là: dùng từ này không sai nhưng chỉ nên dùng khi nói về một
người quan trọng, một vĩ nhân còn nói về người bình thường như chúng ta trong cuộc
sống hằng ngày thì không nên).
- Trọng vọng: tin yêu, tin tưởng, đề cao, đánh giá cao...
Qua đó học sinh đã sửa được câu như sau:

18

- Cô giáo em có nước da bánh mật. Giọng nói của cô trầm ấm (thánh thót).
- Hùng vừa thi chạy xong thở hổn hển.
- Bạn Hiếu có tấm lòng nhân hậu (thương người).
- Bố mẹ em rất được ông bà tin tưởng (tin yêu).
Vậy bài tập này nhằm giúp học sinh nhận biết được lỗi dùng từ sai, biết tìm
từ khác để thay thế, sửa chữa khi dùng từ chưa chính xác. Ngoài ra bài tập còn
cung cấp v...
 
Gửi ý kiến