Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tuần 11. Chữ người tử tù

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Tú Anh
Ngày gửi: 14h:18' 27-02-2023
Dung lượng: 27.2 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích: 0 người
CHỮ
NGƯỜI TỬ

NGUYỄN TUÂN
Khi bàn về văn chương nghệ thuật, nhà văn Lâm Ngữ Đường từng chiêm
nghiệm: “Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ”. Thật vậy, văn học
chân chính xưa nay bất biến với đời là nhờ tạo nên từ máu và nước mắt của người
nghệ sĩ. Trong hành trình khám phá ấy, “anh” đã hoà mình vào cuộc sống của nhân
dân để đồng cảm, sẻ chia và “cho máu”. Rồi từ đó mở ra nấc thang đưa con người
đến ánh sáng của giá trị nhân đạo, để tồn tại khát khao tốt đẹp với đời. Và tác phẩm
“Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân là một tác phẩm như thế. Thông qua
(hình tượng nhân vật Huấn Cao/ cảnh cho chữ xưa nay chưa từng có) đã thể hiện
(sự tôn trọn cái đẹp và người tạo ra cái đẹp của Nguyễn Tuân/ quan niệm sâu xa từ
ngàn xưa: sức mạnh của cái đẹp, cái thiện luôn chiến thắng cái xấu xa, tăm tối).
Khi nhắc tới tác giả Nguyễn Tuân, người ta liền nhớ ngay đến một nhà văn
theo đuổi chủ nghĩa “xê dịch” và suốt đời đi tìm kiếm cái đẹp. Nguyễn Tuân sinh
năm 1910 tại làng Mọc (nay là phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội) và
qua đời năm 1987. Xuất thân trong gia đình nhà Nho khi Hán đã tàn, chịu ảnh
hưởng sâu sắc từ cụ thân sinh Tú Lan (tức Nguyễn An Lan – tú tài khoa thi Hán
học cuối cùng, một nhà Nho tài hoa bất đắc chí), văn phong của ông luôn mang
màu sắc lãng mạn, độc đáo đôi lúc lại phóng túng, tự do kể từ khi viết văn (1930)
đến lúc ông qua đời. Tham gia chiến đấu bằng bút pháp uyên bác, độc đáo và tài
hoa cùng tình yêu nước, yêu nghề văn của một nhà tri thức chính là những tiền tố
1

quan trọng thúc đẩy thể tuỳ bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao như:
“Một chuyến đi” (1938), “Vang bóng một thời” (1940), “Cô Tô” (1965), “Hà Nội
ta đánh Mỹ giỏi” (1972), … Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân của ông phát triển rất
mạnh mẽ, điều đó như một dạng “vân tay” để nhận diện những đứa con tinh thần
của ông.
Xuất bản lần đầu năm 1940 với 11 truyện ngắn, tập truyện “Vang bóng một
thời” diễn tả đầy tài hoa những thú chơi tao nhã của người xưa trước Cách mạng
tháng Tám. Chọn tên “Vang bóng một thời”, Nguyễn Tuân muốn gợi về một thời
đã qua, nay chỉ còn là “vang bóng” với nhân vật là các nhà Nho lỡ vận nhưng vẫn
giữ vững khí tiết, tài năng và đạo sống của người quân tử. Qua đó cũng phần nào
thể hiện được tinh thần yêu nước cùng dấu ấn phong cách đậm chất của Nguyễn
Tuân. Tiêu biểu trong “Vang bóng một thời”, truyện ngắn “Chữ người tử tù” (ban
đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng” khi in trong tạp chí “Tao đàn” năm 1939) với
bối cảnh cuộc gặp gỡ giữa quản ngục đại diện cho quyền lực thống trị, làm việc nơi
ngục tù tăm tối nhưng khao khát ánh sáng của chữ nghĩa thánh hiền, đam mê nghệ
thuật thư pháp và Huấn Cao – một nghệ sĩ tài hoa đứng dậy chống lại triều đình mà
trở thành tử tù, có tài viết chữ đẹp nổi tiếng - trong chốn lao tù đã gây ấn tượng
mạnh mẽ đối với độc giả.
Là nhân vật mà Nguyễn Tuân thể hiện cái nhìn khinh thường với xã hội
đương thời, ông tập trung ngòi bút để tô đậm lên tài năng của Huấn Cao. Ngay từ
những dòng văn mở đầu, khi Huấn Cao chưa bị áp giải đến trại giam thì viên quản
ngục đã trầm trồ thán phục trước tài năng viết chữ thư pháp rất nhanh, rất đẹp, rất
vuông của Huấn Cao. Cái tài trong nghệ thuật thư pháp của ông Huấn nổi khắp cả
vùng tỉnh Sơn, ai cũng biết đến để rồi họ nói với nhau rằng “chữ ông Huấn Cao
đẹp lắm, vuông lắm”. Quản ngục đã hỏi thầy thơ lại về khả năng đặc biệt này của
Huấn Cao: “Có phải đó là cái người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen tài viết chữ rất
nhanh, rất đẹp đó không?”. Từ bao lâu nay rất nhiều nhà trí thức muốn thể hiện tài
năng của mình trong nghệ thuật viết chữ. Tuy nhiên để viết được đẹp đòi hỏi người
viết phải có tài năng nghệ thuật. Điều này chứng tỏ Huấn Cao hội tụ được đầy đủ
cả hai yếu tố đó để rồi những nét chữ của ông viết ra thực sự là một tài sản tinh
thần vô giá “có được chữ ông Huấn mà treo là có vật báu trên đời”. Ngoài cái tài
viết chữ đẹp, Huấn Cao còn có tài bẻ khoá vượt ngục. Có lẽ với khả năng được biệt
này của ông Huấn đã khiến cho bọn lính canh chú ý bảo nhau đề phòng và canh
chừng cẩn thận. Huấn Cao thực sự là một con người văn võ song toàn.
Bên cạnh một con người văn võ song toàn, nhà văn Nguyễn Tuân còn hướng
ngòi bút để làm toả sáng nơi tâm hồn, nhân cách quản ngục qua khí phách hiên
2

ngang như một người anh hùng của Huấn Cao. Khí phách của người tử tù được thể
hiện trong chính lý tưởng, khát vọng, hoài bão cao cả mà suốt đời ông Huấn hay
chính Nguyễn Tuân luôn theo đuổi. Ông đã dám đứng lên dẫn đàu một nhóm
người để đấu tranh chống lại triều đình phong kiến thối nát đương thời. Mặc dù lý
tưởng ấy chưa thành nhưng nó đã chứng tỏ cho người ta thấy được cái bản lĩnh, cái
khí phách hiên ngang của một con người không biết run sợ trước cường quyền avf
bạo ngược. Dùng chiếc gương anh hùng để soi vào thời đại, qua mảng hồn khí
phách của Huấn Cao, Nguyễn Tuân gửi vào đó là tất thảy sự khinh thượng, ngông
ngạo của mình vào cái xã hội phong kiến suy tàn đang chuyển sang hình thái thuộc
địa… Khi mới đặt chân vào đến trại giam, Huấn Cao đã chứng tỏ được bản lĩnh và
khí phách qua chi tiết “dỗ gông”. Mặc cho lời doạ dẫm của lính ấp giải “đứng dậy
không ông lại phết cho mấy hèo bây giờ”, Huẫn Cao lạnh lùng khom mình chúc
mũi gông nặng xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một cái. Hành động này không
đơn giản chi là để rũ rệp mà đằng sau đso, ta như thấy được thái độ của người tử tù
ngay cả khi đến trại giam vẫn không chịu khuất phục, thậm chí còn như thách thức
cả ngục tù và triều đình phong kiến đương thời. Những ngày Huấn Cao ở trại giảm
tỉnh Sơn không phải là sợ hãi vì sắp phải đối mặt với cái chết, ông vẫn sống một
cách đường hoàng và bình tâm để đón nhận những biệt đãi của viên quản ngục.
Huấn Cao thậm chí còn “coi như đó là việc vẫn làm trong cái hướng sinh bình lúc
chưa bị cầm quyền”. Những ngày cuối đời của ông không phải giống như một
ngọn nến sắp tàn lụi, cháy leo lét mà ngược lại, ông toả sáng lung linh, rạng ngời
như “ngôi sao chính vị” sắp từ biệt vũ trụ. Đây chính là vẻ đẹp khiến người tử tù ấy
có thể sống một cuộc đời bình thản cho đến lúc sắp phải ra pháp trường.
Bên cạnh đó, Nguyễn Tuân còn đi sâu khám phá để người đọc thấy được
một Huấn Cao luôn toả sáng qua vẻ đẹp thiên lương trong sáng mà cao quý. Trong
tất thảy quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân, tài năng của những nhà Nho trí
thức phong kiến như Huấn Cao sẽ luôn gắn bó và song hành như một cặp bất diệt
với cái tâm hướng thiện và nhân cách cao cả. Huẫn cao là một con người như thế:
có nhân cách ngay thẳng, liêm khiết, chính trực trong từng lời nói, suy nghĩ đến cả
hành động và chưa bao giờ đánh giá và ý thức quá cao về tài năng của bản thân. Ở
Huấn Cao, ta cảm thấy được của một con người không màng đến danh lợi, tiền tài,
địa vị dù có tài viết chữ mà bao người ao ước muốn có được. Dưới mắt ông, những
kẻ đại diện cho tầng lớp thống trị chỉ là bọn tiểu nhân, hèn hạ. Câu nói của Huấn
Cao với thầy thơ lại đã minh chứng cho tất cả vẻ đẹp ấy “Ta nhất sinh không vì
vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết có hai bộ tứ bình và một bức trung
đường cho ba người bạn thân của ta thôi”. Thẳm sâu trong tâm hồn của một con
người mang vẻ ngoài lạnh lùng của Huấn Cao, lại dễ dàng cảm nhận được cái dễ
3

mềm lòng, dễ rung động trước cái đẹp, trước tấm lòng cao quý của người khác. Có
lẽ, chính vì cái dễ rung động, dễ mềm lòng ấy mà từ thái độ kinh thường ra mặt với
viên quan ngục (thể hiện qua chi tiết “Ta chỉ muốn một điều là ngươi đừng đặt
chân vào đây nữa.”), Huấn Cao đã đồng ý cho chữ “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn
liên tài của các người. Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây lại có sở
thích cao quý đến như vậy, thiếu chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên
hạ.” Thiên lương của Huấn Cao có sức mạnh và khả năng cảm hoá được vẻ đẹp
trong tâm hồn và nhân cách của người khác. Sau khi cho chữ xong, Huấn Cao
muốn viên quản ngục nhân ra những sai lầm trong cuộc đời của mình. Ông không
muốn con người ấy sẽ chìm sâu hơn nữa vào vũng bùn tăm tối “Ở đây lẫn lộn ta
khuyên thầy quản nên chay chốn ở đi. Chỗ này không phải nơi để treo một bức lụa
trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nói lên hoài bão tung hoành của một đời
con người, thầy quản hãy tìm về nhà mà ở. Thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã
rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững, rồi
cũng đến nhem nhuốc, mất cái đời thiên lương đi”. Lời khuyên ấy như ánh sáng
cho đường đi sau này của viên quản ngục. Qua đó thấy được sức mạnh của thiên
lương, của cái đẹp có thể tác động đến những mảng u tối trong con người mạnh mẽ
biết chúng nào.
Xét toàn bộ hình tượng nhân vật Huấn Cao mà nhận xét, nhân vật đó chính
là một bản thể rút ra từ những quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân, là một bản
sao nhân cách của Nguyễn Tuân. Thế nhưng, điều Nguyễn Tuân muốn đặt nặng
không chỉ là một nhân vật vang lên nỗi lòng và tiếng nói tâm can của mình mà là
một khoảnh khắc nhỏ nhưng độc đáo để độc giả phải nhớ mãi, phải nghiền ngẫm
mãi. Dù là trong hoàn cảnh tăm tối nhất của cuộc đời – cảnh ngục tù chết chóc thì
cũng chẳng thể nào vùi lấp được vẻ đẹp tuyệt mỹ trong tâm hồn con người. Cảnh
cho chữ là tiết xuất sắc góp phần to lớn tạo nên giá trị nhân văn cho toàn bộ tác
phẩm. Qua đó, nhà văn khẳng định một chân lý bất diệt: Cái đẹp luôn trường tồn,
thắng thế trước nghịch cảnh éo le của cuộc đời. Thuở xưa, chơi chữ đã trở thành lối
văn hoá tao nhã, thanh cao của người Việt. Những câu đối, bài thơ với nét chữ bay
bổng được treo trong nhà như một thứ vui giúp cho tâm hồn con người thư thái,
bình yên. Thưởng thức cái đẹp thanh cao hay là những thầy nho cho chữ trước nay
đều ở trong những khung cảnh thơ mộng, nhẹ nhàng: “Bao nhiêu người thuê viết/
Tấm tắc ngợi khen tài/ “Hoa tay thảo những nét/ Như phương múa, rồng bay”
(“Ông đồ” – Vũ Đình Liên). Có trong cái thơ mộng, nhẹ nhàng mới có thể để cái
đẹp thoả sức bộc lộ hết những khía cạnh tươi mới của mình. Người ngắm nhâm nhi
tách trà nóng cùng nhau trò chuyện ngâm thơ, đối chữ, thảo nghĩa, luận bàn sự đời,
… Ấy vậy mà trong “Chữ người tử tù”, tác giả Nguyễn Tuân lại tạo ra một cảnh
4

tượng hết sức lạ lùng, vượt ra khỏi những chuẩn mực xưa cũ, tác giả và mọi thế hệ
độc giả gọi là là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Chính chi tiết truyện mới
mẻ này đã làm nên sức lôi cuốn, hấp dẫn cho người đọc.
“Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên võng
canh”, đây là khoảng thời gian buồn tẻ nhất trong ngày dài, tát cả vạn vật dường
như đã chìm sâu vào im lặng nhường chỗ cho bóng tối thống trị, chỉ còn tiếng gõ
mõ đều dều trong canh dài, không một bóng người lai vãng. Khung cảnh nhà giam
hiện lên tù túng, chật hẹp, mệt mỏi với từng tiếng thở dài oán thán “buồng tối chật
hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”. Tác giả
miêu tả thật sinh động, chân thực hoàn cảnh éo le của của người anh hùng Huấn
Cao, một người nghệ sĩ tài hoa, văn võ uyên bác giờ đây phải giam mình trong nhà
tù tăm tối, đấy là nơi chôn vùi cuộc đời chẳng phải nơi mà con người có thể sinh
sống. Thế nhưng chính tại nơi tầm thường, hạ đẳng ấy lại diễn ra một sự việc thật
trọng đại, làm rung đọng trái tim của những người con tài hoa chân chính. Một
không gian tối tăm quanh năm không thấy ánh mặt trời, dù là ngày hay đêm đều
nhuộm lên mình một mày của bóng tối thì giờ đây có ba người “đang chăm chú
trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ”. Buồng giam ngập tràn “khói toả
như đám cháy nhà”, “ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu”. Dường như họ
đang chăm chú với niềm hạnh phúc dâng trào để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật
hoàn mỹ. Sự đối lập giữa tư thế và vị thế của người cho chữ - Huấn Cao và người
nhận chữ - viên quản ngục đã được ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân khắc hoạ
thật sinh động, “một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng” đang dậm tô nét
chữ trên tấm vải lụa trắng tinh; viên quản ngục “khúm núm”; thầy thơ lại “run run
bưng chậu mực”. Có lẽ đứng trước cái đẹp, trái tim con người bỗng rung động, như
có thứ gì đó bóp nghẹt lại, không ai nói với nhau lời nào nhưng đủ để cảm nhận
niềm hạnh phúc đang tuôn trào trong lồng ngực. Từ một viên quản ngục “quyền
cao chức trọng” giờ đây lại cúi đầu trước vẻ đẹp tài hoa, trước người tử tù có tấm
lòng thiên lương. Có tiếng “thở dài, buồn bã” của Huấn Cao khi những nét chữ
cuối cùng đã viết xong, có giọng ông đĩnh đạc giữa không gian ngục tù: “Ở đây lẫn
lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi.” Tấm lòng nhân hậu của Huấn Cao
đã thức tỉnh, cứu rỗi tâm hồn ucar những người lương thiện nhưng lạc vào con
đường tha hoá rối ren. Viên quản ngục cảm động, vái người tử tù một vái “Kẻ mê
muội này xin bái lĩnh”, những giọt nước mắt lăn dài trên má như lời kính trọng sâu
sắc dành cho bị anh hùng Huấn Cao. Một bức tranh mang hai mảng màu đối lập
tưởng sẽ đối chọi gay gắt mà không ngờ lại bù trừ và tôn nhau lên không tưởng.
Qua đó, Nguyễn Tuân cũng nêu cao lên trên tất cả vị thế của cái đẹp thiên lương,
5

nó không đơn độc mà mang một sức mạnh vô hình “nhân đạo hoá” cái ác, cái xấu
xa đi vào con đường chân chính, tươi đẹp.
Nguyên Ngọc nói rằng: “Truyện ngắn mang rất tõ cái chất của từng người
viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột. Viết truyện ngắn phải có nghề lắm. Vả lại
phải viết về những cái mới, những cái không dễ thấy, những cái ở chiều sâu của
nó, cuộc đời đang đặt ra”. Có lẽ nhận định đó của Nguyên Ngọc là dành riêng cho
Nguyễn Tuân cùng “Chữ người tử tù”. Bởi nhờ tình huống truyện độc đáo, thủ
pháp đối lập tương phản cùng ngôn ngữ có tính tạo hình vừa cổ kính lại hiện đại và
tài năng xây dựng hình tượng nhân vật hội tụ trong văn phong và ngòi bút của
Nguyễn Tuân mà truyện ngắn “Chữ người tử tù” đã thành công khẳng định sức
mạnh của cái đẹp, cái thiên lương luôn chiến thắng cái xấu xa, tối tăm. Đồng thời
ngợi ca vẻ đẹp của con người nghệ sĩ tài hoa và có thiên lương.

6
 
Gửi ý kiến