VÕ VĂN KIỆT TIỂU SỬ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:24' 28-02-2024
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:24' 28-02-2024
Dung lượng: 5.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
4
BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH
TRƯƠNG TẤN SANG
Trưởng ban
TÔ HUY RỨA
Ủy viên
NGÔ VĂN DỤ
Ủy viên
HỒ ĐỨC VIỆT
Ủy viên
LÊ HỮU NGHĨA
Ủy viên
BAN CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH
GS.TS. LÊ HỮU NGHĨA
PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG
Chủ nhiệm
Phó Chủ nhiệm
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THẠO
Ủy viên
GS.TS. MẠCH QUANG THẮNG
Ủy viên
TS. NGUYỄN DUY HÙNG
Ủy viên
BAN BIÊN SOẠN
PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG (Chủ biên)
TS. NGUYỄN THỊ KIM DUNG
TS. TRẦN VĂN HẢI
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đồng chí Võ Văn Kiệt, tên thật là Phan Văn Hòa, sinh
ngày 23-11-1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh
Vĩnh Long trong một gia đình nông dân nghèo đông con.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu
nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm,
chống cường quyền, áp bức, bóc lột... nên khi tuổi đời còn rất
trẻ, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng, từ một thanh niên
yêu nước trở thành một người cộng sản ưu tú. Trong những
ngày đầu tham gia hoạt động cách mạng đầy gian nan, vất
vả, khó khăn, thử thách, hiểm nguy, đồng chí luôn vững
vàng, kiên định, nhiệt tình, năng nổ, sẵn sàng đón nhận mọi
nhiệm vụ cách mạng. Chính vì thế, đồng chí đã nhanh chóng
trưởng thành, trở thành người cán bộ có uy tín với nhân dân.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí tham gia
lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Rạch Giá.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí luôn có mặt tại chiến trường
miền Nam, đảm đương nhiều trọng trách khác nhau, sát
cánh cùng đồng bào, đồng chí và các lực lượng vũ trang vượt
6
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
qua mọi gian lao, ác liệt, hy sinh, làm nên những chiến công
hiển hách. Cũng chính trong những năm tháng ấy, sự nhạy
bén, sáng suốt trong nhận định, đánh giá tình hình; tính táo
bạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
trước Đảng và nhân dân của đồng chí ở chiến trường đã góp
phần để Trung ương đánh giá đúng tình hình, kịp thời có
những chủ trương, sách lược, phương châm đúng đắn cho
cách mạng trong từng giai đoạn, góp phần quan trọng vào
chiến công vĩ đại của dân tộc ta - giải phóng hoàn toàn miền
Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội và trong những năm tháng đất nước bắt đầu đổi mới,
thấm nhuần tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, dù ở bất cứ
cương vị nào, đồng chí cũng luôn trăn trở, nghiên cứu tìm ra
những bước đi thích hợp, dốc lòng, dốc sức phục vụ tốt cho
mục tiêu của cách mạng, của đất nước, hoàn thành trọng
trách trước Đảng, trước nhân dân. Đồng chí là người cộng
sản tiêu biểu cho tinh thần rèn luyện, học hỏi, năng động,
sáng tạo, rất nhạy bén với cái mới, cái tiến bộ. Là nhà lãnh
đạo, nhà hoạt động thực tiễn, đồng chí trực tiếp xuống cơ sở
tìm hiểu tình hình cụ thể, lắng nghe những ý kiến khác nhau
rồi mới quyết định. Luôn bám sát thực tiễn, có năng lực tổng
kết thực tiễn, phát hiện cái mới nên đồng chí đã đóng góp cho
Đảng nhiều chủ trương, chính sách sáng tạo, đáp ứng nhu
cầu đòi hỏi của thực tiễn. Chính bản lĩnh vững vàng, sáng
tạo của đồng chí - người đứng đầu dám quyết định, dám chịu
trách nhiệm - đã góp phần đưa đất nước ta vượt qua thời
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
7
điểm khó khăn để bước vào thời kỳ ổn định và phát triển.
Đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta.
Khi thôi giữ trọng trách đứng đầu Chính phủ và cả khi
không còn làm nhiệm vụ Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, đồng chí vẫn đau đáu nỗi lo cho nước, cho dân, vẫn
theo dõi sát sao tình hình mọi mặt, thường xuyên đóng góp ý
kiến với các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về
những vấn đề hệ trọng của đất nước, vẫn đến với nhân dân
các địa phương có khó khăn để giúp cách tháo gỡ. Và khi giã
từ cuộc đời này, đồng chí mang theo nỗi băn khoăn, lo nghĩ
cùng dự định sang Hà Lan để học hỏi kinh nghiệm, tìm cách
khắc phục những khó khăn, những thách thức của nước biển
dâng khi trái đất nóng lên.
Tám mươi sáu năm tuổi đời, gần 70 năm hoạt động cách
mạng liên tục và vô cùng phong phú, sôi nổi, cuộc đời của
đồng chí Võ Văn Kiệt gắn liền với những chặng đường đấu
tranh đầy hy sinh, gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng, vẻ vang
của Đảng, của dân tộc. Có thể nói, đồng chí là hiện thân tiêu
biểu của lớp các chiến sĩ cách mạng hy sinh cả cuộc đời cho
sự nghiệp của Đảng và dân tộc. Với những cống hiến xuất sắc
cho Đảng, cho cách mạng, cho đất nước, đồng chí Võ Văn Kiệt
mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho cán bộ, đảng viên, các
tầng lớp nhân dân và thế hệ trẻ Việt Nam học tập, noi theo
để xây dựng đất nước vững bước trên con đường hội nhập
phát triển.
8
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
Để ghi nhớ, tôn vinh công lao và những đóng góp to lớn
của đồng chí Võ Văn Kiệt với Đảng và sự nghiệp cách mạng
Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất
bản cuốn sách Võ Văn Kiệt - Tiểu sử thuộc Chương trình
sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối
của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Cuốn sách được thực hiện dựa trên nguồn tư liệu phong
phú, với tinh thần lao động khoa học cẩn trọng, kỹ lưỡng,
khách quan, trung thực, có trách nhiệm trước lịch sử, chắc
chắn sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về những chặng đường đời,
cũng như những hoạt động phong phú, những đóng góp quan
trọng của đồng chí Võ Văn Kiệt để thêm kính trọng và yêu
quý người cộng sản kiên trung, người lãnh đạo tài năng của
Đảng và cách mạng Việt Nam, một nhân cách lớn, một con
người suốt đời vì nước, vì dân.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới bạn đọc.
Tháng 11 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
9
LỜI NÓI ĐẦU
Phan Văn Hòa (tức Võ Văn Kiệt) sinh ngày 23-11-1922
trong một gia đình nông dân nghèo, tại ấp Bình Phụng,
xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng khi mới 16
tuổi và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương
khi chưa đầy 18 tuổi. Trải qua gần 70 năm hoạt động
cách mạng vô cùng sôi nổi, trên nhiều lĩnh vực, nhiều
địa bàn ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam của đất nước,
với những trọng trách được giao ngày càng nặng nề,
bất kỳ ở cương vị nào, từ khi là một thanh niên giác
ngộ lý tưởng cộng sản và tham gia cách mạng ở quê
nhà (năm 1938), cho đến khi đảm nhiệm cương vị
lãnh đạo đứng đầu Chính phủ: Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, Thủ tướng Chính phủ (1991-1997), đồng chí
luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và
nhân dân giao phó.
Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của
đồng chí Võ Văn Kiệt gắn liền với những chặng đường
10
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, song rất đỗi hào
hùng, vẻ vang của Đảng, đất nước và dân tộc. Với đức
độ và tài năng được rèn luyện trong thực tiễn đấu
tranh, với nghị lực, trí tuệ và tinh thần bền bỉ của
người chiến sĩ cách mạng kiên cường, tư duy lãnh đạo
năng động, sáng tạo, đồng chí Võ Văn Kiệt có nhiều
cống hiến xuất sắc và đóng góp to lớn cho Đảng và
cách mạng Việt Nam. Có thể nói, những thắng lợi vĩ
đại mà dân tộc ta đã giành được từ khi có Đảng lãnh
đạo: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược
bảo vệ Tổ quốc, và thống nhất đất nước; thắng lợi của
sự nghiệp đổi mới đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội... in đậm dấu ấn của một thế hệ những nhà
lãnh đạo cách mạng ưu tú, mà đồng chí Võ Văn Kiệt
là một trong những người tiêu biểu, người học trò
xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí được
ghi nhận, đánh giá là một trong những người đi đầu
trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986), là
“tổng công trình sư” nhiều dự án táo bạo của thời kỳ
đổi mới.
Thực hiện Quyết định số 229/QĐ-TW, ngày 9-6-2009
của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc sưu tầm tài
liệu và viết tiểu sử của đồng chí Võ Văn Kiệt, nhằm
LỜI NÓI ĐẦU
11
nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và những hoạt động
vẻ vang của người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo
tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam; đồng thời,
bày tỏ sự tri ân của Đảng và nhân dân ta đối với công
lao, đóng góp xuất sắc của đồng chí Võ Văn Kiệt đối với
Đảng và dân tộc ta.
Trong quá trình sưu tầm tài liệu, hoàn thành cuốn
sách Võ Văn Kiệt - Tiểu sử, Ban biên soạn đã nhận
được sự cộng tác, giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan:
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, Bạc Liêu, Kiên
Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là sự giúp đỡ
của Huyện ủy Vũng Liêm; các đồng chí nguyên là lãnh
đạo của Đảng, Nhà nước, các vị lão thành cách mạng,
các nhà khoa học và thân nhân, gia đình đồng chí Võ
Văn Kiệt... Xin được cám ơn sự cộng tác nhiệt tình, sự
giúp đỡ quý báu đó.
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống
cách mạng vẻ vang của Đảng, khơi dậy niềm tự hào về
lịch sử đấu tranh bất khuất, kiên cường của các thế hệ
cha anh trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế
hệ trẻ; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong
công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Mặc dù đã rất cố gắng, song do khả năng có hạn,
công trình nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi
12
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
những hạn chế thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
được sự thông cảm và ý kiến góp ý của độc giả.
Xin chân thành cảm ơn.
T/M NHÓM BIÊN SOẠN
Chủ biên
PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG
13
Chương I
QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU
(1922 - 1938)
1. Quê hương
Võ Văn Kiệt, tên khai sinh là Phan Văn Hòa, (bí
danh: Sáu Dân, Chín Dũng, Chín Hòa...), sinh ngày 2311-19221, tại thôn Bình Phụng, làng Trung Lương, tổng
Bình Trung, huyện Vĩnh Trị, tỉnh Vĩnh Long, nay là ấp
Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh
Vĩnh Long.
Ấp Bình Phụng là một trong 8 ấp2 của xã Trung
Hiệp, có vị trí kề sát trung tâm huyện Vũng Liêm, cách
thị trấn huyện lỵ Vũng Liêm 2 km về hướng tây, cách
thành phố Vĩnh Long (tỉnh lỵ) khoảng 32 km về phía
đông nam. Vũng Liêm là một huyện đồng bằng trù phú,
_________
1. Về ngày, tháng, năm sinh, theo bản lý lịch tự thuật của đồng
chí Võ Văn Kiệt, chỉ có năm sinh là chính xác, còn ngày, tháng, lấy
theo ngày, tháng của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
2. Xã Trung Hưng có 8 ấp, gồm: ấp Trung Hưng, Rạch Ngay,
Mướp Sát, Bình Phụng, Ruột Ngựa, Trung Trị, Rạch Nưng và
ấp Tư.
14
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
nằm ngay trên bờ sông Cổ Chiên (thuộc hệ thống sông
Cửu Long), hằng năm được bồi đắp bởi nguồn phù sa
màu mỡ của các con sông mang lại.
Vĩnh Long là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ,
nằm giữa hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu),
phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía đông giáp tỉnh Bến
Tre, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp thành
phố Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp. Thành phố Vĩnh Long
là trung tâm kinh tế, văn hóa, là đầu mối giao thông
của tỉnh, từ đây ngược lên phía bắc, khoảng 135 km
theo quốc lộ 1 đến Thành phố Hồ Chí Minh; về phía
nam khoảng gần 30 km, vượt qua sông Hậu bằng cây
cầu hiện đại là đến thành phố Cần Thơ - trung tâm của
miền Tây Nam Bộ.
Tỉnh Vĩnh Long ra đời khá muộn1 (cách đây gần
300 năm), nhưng lịch sử khai phá và quá trình hình
thành đơn vị hành chính và cộng đồng cư dân ở Vĩnh
Long đã có từ trước đó. Vùng đất, con người Vĩnh Long
đã trải qua nhiều thế hệ đấu tranh gian khổ và hào
hùng, gắn liền với lịch sử mở mang bờ cõi về phía Nam
của dân tộc ta.
Theo những ghi chép của nhà thám hiểm Fernard
Mendez Pinto, người Bồ Đào Nha và phụ tá của ông là
Faria, ngay từ đầu thế kỷ XVI, đã có người Việt đến
_________
1. Năm 1732, Chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738), quyết định
thành lập đơn vị hành chính đầu tiên cho vùng đất này là châu
Định Viễn, dinh Long Hồ chính là Vĩnh Long ngày nay (TG).
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
15
sinh sống ở vùng châu thổ sông Mêkông1. Đến đầu thập
niên thứ 3 của thế kỷ XVII, những lưu dân người Việt
đầu tiên đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ2, làng xóm người
Việt đã hình thành: “người Kinh, người Trung Quốc,
người Cao Miên làm nhà ở liền nhau, kết thôn họp chợ,
để đón lợi chằm sông rừng núi”3.
Năm Mậu Dần (1698), Chúa Nguyễn Phúc Chu4 bắt
đầu cho đặt phủ Gia Định... mở đất đai nghìn dặm, dân
được hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ dân lưu tán ở châu Bố
Chính trở vào để ở cho đông. Đặt các xã, thôn, phường,
ấp, chia cắt địa phận, trưng chiếm ruộng đất, chuẩn
định thuế điền, thuế đinh, làm sổ đinh, sổ điền. Đây là
sự kiện lịch sử đánh dấu một mốc rất quan trọng trong
quá trình khai phá, mở mang vùng đất Nam Bộ thời các
_________
1. Theo Nguyễn Đình Đầu: Chế độ công điền, công thổ trong lịch
sử khẩn hoang ở Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh,
1999, tr.31.
2. Theo các nguồn sử liệu: Gia Định thành thông chí (của Trịnh
Hoài Đức); Phủ biên tạp lục (của Lê Quý Đôn); Đại Nam thực lục
(Tiền biên); Đại Nam liệt truyện; Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử
quán triều Nguyễn)... và một số tài liệu khác cho biết, quá trình
khai phá và mở mang ở Đồng Nai và Mô Xoài (sử cũ chép là Mỗi
Xuy), tức vùng đất Nam Bộ nói chung, Vĩnh Long (nói riêng), của
cư dân Việt diễn ra từ đầu thế kỷ XVII.
3. Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội, 1998, tr.51.
4. Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) là vị chúa Nguyễn thứ
sáu của chính quyền Đàng Trong (ở ngôi từ năm 1691 đến năm 1725),
nối ngôi Chúa Nguyễn Phúc Thái.
16
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
chúa Nguyễn. Mặc dù trước đó gần 8 thập kỷ, lưu dân
người Việt đã có mặt ở một số địa bàn nhưng việc khai
phá của lớp cư dân đầu tiên này vẫn mang tính tự phát,
chủ yếu là lo việc mưu sinh chứ không do chính quyền
tổ chức và quản lý. Đến năm 1698, các chúa Nguyễn
chính thức hoạch định miền đất Sài Gòn - Gia Định vào
bản đồ của xứ Đàng Trong, xếp đặt các đơn vị hành
chính và bộ máy quản lý xuống đến tận thôn, xã. Như
vậy, từ thời điểm này các chúa Nguyễn đã khẳng định
được quyền lực thực tế của mình trong việc quản lý
ruộng đất, hộ khẩu và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên
cũng như nguồn thu thuế qua việc trao đổi giao thương
với thương nhân các nước trên vùng đất mới mở. Việc
nhập cư của người Việt và người Hoa vào miền đất Nam
Bộ ngày càng có tổ chức và quy mô hơn. Sau sự kiện thủ
lĩnh người Ai Lao là Sá Tốt đem quân vào cướp phá Gia
Định tháng 4 năm Tân Hợi (1731), bị quân Nguyễn
đánh tan, tháng 4 năm Nhâm Tý (1732), chúa Nguyễn
thấy địa thế Gia Định rộng rãi bèn sai chia đất đặt
châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (tức Vĩnh Long
ngày nay).
Mặc dầu đã lập thành dinh, trấn và có những chính
sách chiêu dân lập ấp, nhưng vùng đất này lúc bấy giờ
vẫn là những cánh đồng hoang vu, dân cư thưa thớt.
Cho đến mãi nửa sau thế kỷ XVII: “Ở phủ Gia Định,
đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa
Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
17
dặm”1. Miền hoang địa gần như vô chủ ấy thực sự được
đánh thức khi lớp lưu dân người Việt đầu tiên đặt chân
đến vào khoảng đầu thế kỷ XVIII.
Những người dân đầu tiên đến khai phá vùng đất
này phần lớn là những nông dân nghèo miền Trung, do
không chịu nổi ách áp bức của chế độ phong kiến đương
thời, hoặc trốn tránh binh dịch, lao dịch trong cuộc
chiến tranh tương tàn giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Họ lần lượt tiến vào miền đất mới bằng đường biển, với
phương tiện chủ yếu là thuyền buồm và ghe bầu. Theo
sử cũ, các điểm cư ngụ đầu tiên của họ là Mỗi Xoài (Bà
Rịa) và Đồng Nai, sau tiến dần xuống Sài Gòn, Mỹ Tho,
Hà Tiên. Trong nửa đầu thế kỷ XVIII, người Việt tiếp
tục di chuyển xuống vùng Long Hồ (Gò Công, Tân An,
Bến Tre, Vĩnh Long), Trà Vinh, Ba Thắc, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Sa Đéc và Châu Đốc.
Quá trình nhập cư của người Việt gắn liền với việc
hình thành những thôn ấp theo mô hình làng xã truyền
thống của người nông dân Việt Nam đồng bằng Bắc Bộ
và Trung Bộ. Trên vùng đất mới với rừng rậm bạt ngàn,
hay sình lầy, chằm phá, lưu dân Việt luôn phải đối mặt
với rất nhiều thử thách khắc nghiệt của tự nhiên. Đó là
nạn thú dữ, rắn độc, bệnh tật, ốm đau. Để sinh tồn, trụ
vững, người dân Việt phải quần tụ gắn bó, giúp đỡ,
_________
1. Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
1964, tr.216.
18
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
tương trợ lẫn nhau trong việc khai hoang vỡ đất, chống
chọi với thiên nhiên. Bằng công sức của nhiều thế hệ
cần cù lao động, chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm, những bãi
lầy hoang vu đã biến thành những vùng đất bằng
phẳng phì nhiêu. Có thể nói, trong công cuộc khai phá
miền đất Nam Bộ nói chung và Vĩnh Long nói riêng, các
thế hệ ông cha ta đã có công lao to lớn trong mở mang
bờ cõi và trong lao động, chiến đấu, giữ gìn từng tấc đất
thấm đượm máu và mồ hôi mới có được.
Vĩnh Long trong các thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế
kỷ XIX, là vùng đất tụ cư của nhiều cộng đồng người:
Kinh (Việt), Khmer, Hoa,... trong đó bộ phận chính là
người Kinh. Các dân tộc sống xen kẽ với nhau trong các
làng xã, thôn ấp. Theo ghi chép của tác giả Trịnh Hoài
Đức trong quá trình khảo sát về trấn Vĩnh Thanh:
“... tổng Vĩnh Thanh ở bờ đông sông Trà Ôn... chợ búa
đông đúc, là nơi dân Kinh, dân Trung Quốc, dân Cao
Miên hội tụ... Thủ đạo Trấn Di (ở sông Ba Thắc), dân
Kinh, dân Trung Quốc, dân Cao Miên ở lẫn nhau, phố
chợ nối liền... Cửa biển Mỹ Thanh... bờ tây có thủ sở...
người Kinh, người Trung Quốc, người Cao Miên nhà cửa
đông đúc, trồng thuốc lá, dưa quả, phơi tôm khô...”1.
Quá trình khẩn hoang lập ấp trên địa bàn Vĩnh
Long diễn ra liên tục từ khi lưu dân Việt đặt chân tới
_________
1. Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội, 1998, tr.53.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
19
vùng đất này vào giữa thế kỷ XVII. Quá trình khai phá,
mở cõi đầy gian nan và không kém phần hiểm nguy.
Thiên tai, dịch bệnh, thú dữ luôn rình rập con người,
cùng với nạn nhiễu sách dân đen của chức dịch, quan
lại địa phương. Chí sĩ Nguyễn Cư Trinh đã từng mô tả:
“Thiên gia lưu đáo man di thổ
Thùy gia ngạc ngư, lục xà hổ
Tân điều bất túc hại nhân cầu
Lại ốc hướng vi phong ba nô”.
Dịch nghĩa là:
“Nghìn nhà đến vùng đất hoang vu
Dưới sông nhiều sấu, trên đất nhiều rắn hổ
Hoa lợi đất không đủ yêu sách cho bọn sai nha
Nhà đổ còn bị sóng gió”1.
Mặc dầu vậy, với ý chí và niềm tin, những người
dân đi mở đất không bao giờ lùi bước. Vì: “Hãy cực trước
để đời sau cộng hưởng, không trói chân giam hãm mãi
khốn cùng”; mặc cho: “Bệnh tật, ác thú, thiên tai đe
dọa, bao tấm thân vùi xác ven rừng, nắm xương lớp lớp
đáy sông. Tấc đất mở cõi sánh chiều cao gian khổ”2.
Với công sức, mồ hôi và cả xương máu của bao lớp
tiền nhân, đến nửa cuối thế kỷ XVIII, về cơ bản, các
chúa Nguyễn đã khẳng định được quyền lực thực tế của
_________
1, 2. Dẫn theo: Văn bia thành phố Vĩnh Long, lưu tại Bảo tàng
Vĩnh Long.
20
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
mình trên vùng đất mới khai khẩn, thông qua việc thiết
lập hệ thống các đơn vị hành chính từ dinh, trấn xuống
đến tổng, xã và các cấp tương đương. Bộ máy quản lý
các cấp cũng được hoàn thiện từng bước, chịu trách
nhiệm trước phủ chúa trong việc quản lý đinh, điền, tổ
chức sản xuất và thu thuế cho Nhà nước. Sang đầu thế
kỷ XIX, công cuộc khẩn hoang vẫn tiếp tục và được đẩy
mạnh ở các dinh, trấn, đặc biệt là những địa phương
còn nhiều đất hoang, đầm lầy, rừng rậm. Nhiều làng xã
mới được hình thành, theo số liệu sổ sách kê điền thổ
của Nam Kỳ lục tỉnh, số ruộng đất mới khai khẩn cho
đến năm 1839 của Vĩnh Long là hơn 1.900 mẫu.
Nhằm khẳng định và tiến hành thực thi chủ quyền
trên vùng đất mới, các chúa Nguyễn đã thiết lập và
củng cố hệ thống chính quyền địa phương, tổ chức quân
đội và triển khai các hoạt động kinh tế theo mô hình
chung của xứ Đàng Trong. Lãnh thổ Đàng Trong từ sau
khi Nguyễn Phúc Khoát xưng Vương (1744) được chia
làm 12 dinh. Vùng đất Nam Bộ có 3 dinh là Trấn Biên
(Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh
Long). Riêng Hà Tiên đặt làm 1 trấn, có chức Đô đốc
đứng đầu và giao cho dòng họ Mạc (con cháu Mạc Cửu)
quản lý. Dinh Long Hồ, lỵ sở đóng tại châu Định Viễn,
quan thuộc gồm án sát, cai bạ, ký lục, mỗi chức một
người; sở thuộc thì có Ty Tướng thần lại, Ty Xá sai, số
viên chức như dinh Trấn Biên.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
21
Để bảo vệ nhân dân và quản lý các vùng đất mới mở
mang, năm 1779, sau khi lên ngôi Chúa, Nguyễn Ánh
cho đặt công đường ở các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn
và Long Hồ; đóng chiến thuyền, chứa quân lương để đối
phó với nhà Tây Sơn. Đồng thời, phân chia địa giới ba
dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ cho tiện liên
lạc với nhau. Trong đó, dinh Long Hồ đổi làm dinh
Hoằng Trấn, lĩnh một châu là Định Viễn, có ba tổng
(Bình An, Bình Dương và Tân An).
Năm 1802, ngay sau khi đánh bại phong trào Tây
Sơn và lên ngôi, Vua Gia Long sắp xếp lại hệ thống
quan chức ở các dinh trấn trong cả nước. Theo đó, các
trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường đều
đặt ký lục, án sát, cai bạ, Ty Xá sai, Ty Tướng thần lại...
Năm 1808, Vua Gia Long cho đổi dinh Vĩnh Trấn làm
trấn Vĩnh Thanh. Theo ghi chép của sử gia Trịnh Hoài
Đức, đến năm 1816, hệ thống các đơn vị hành chính từ
cấp trấn đến xã thôn ở trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ
(Định Viễn), 4 huyện (Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định,
Tân An), 6 tổng và 353 thôn, phường, ấp, trại, xóm.
Năm 1819, trấn Vĩnh Thanh có số đinh hơn 37.000 người,
điền thổ hơn 9.900 mẫu.
Đến thời Minh Mệnh, xuất phát từ điều kiện thực
tế: ruộng đất khẩn hoang ngày càng nhiều, đinh số hộ
khẩu ngày càng tăng, nhà Nguyễn cho lập thêm nhiều
22
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
đơn vị hành chính mới (tổng nâng lên thành huyện,
huyện thăng thành phủ...). Năm Minh Mệnh thứ 4
(1823) thăng huyện Tân An, trấn Vĩnh Thanh làm phủ
Hoằng An, tổng Tân Minh làm huyện Tân Minh, tổng
An Bảo làm huyện Bảo An. Phủ Hoằng An đặt một tri
phủ (kiêm lý huyện Tân Minh), lấy Hàn lâm Biên tu Lê
Quang thăng bổ chức ấy1. Đến năm 1825, với lý do
huyện Long Xuyên và Kiên Giang (thuộc trấn Hà Tiên)
địa giới cách xa trấn, buôn bán tụ họp, kiện cáo lôi thôi,
huyện Tân Minh thuộc phủ nha Hoằng An công việc
cũng nhiều, nên Minh Mệnh cho đặt thêm chức huyện
thừa2. Tiếp đó, năm 1826, quan thành Gia Định nhận
thấy hai huyện Vĩnh Định và Hoằng An đất rộng, việc
nhiều; ba đạo Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự ở
Vĩnh Thanh, ở địa đầu biên giới là đường các nước
phiên thuộc qua lại, đều là nơi xung yếu, lệ trước huyện
có một tri huyện, đạo có một quản đạo, bèn xin đặt
thêm chức huyện thừa ở hai huyện và chức hiệp thủ ở
ba đạo, được Minh Mệnh ưng cho3.
Trong hai năm (1831-1832), Vua Minh Mệnh tiến
hành cải cách hành chính trên phạm vi cả nước, trước
_________
1, 2, 3. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục
(Chính biên), Đệ nhị kỷ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, t.II,
tr.288, 472, 541.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
23
hết chia đặt lại các tỉnh ở Bắc Thành. Từ Thừa Thiên
trở ra Bắc, đặt làm 18 tỉnh. Tháng 10 năm Nhâm Ngọ
(1832), Vua Minh Mệnh tiến hành chia đặt các tỉnh từ
Thừa Thiên trở về Nam. Trấn Vĩnh Thanh được đổi là
tỉnh Vĩnh Long, có ba phủ là Định Viễn, Hoằng An, Lạc
Hóa và sáu huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh Trị, Tân Minh, Bảo
An, Tuân Nghĩa, Trà Vinh. Phủ Lạc Hóa nguyên thuộc
thành Gia Định nay đổi thuộc Vĩnh Long; huyện Vĩnh
Bình nay chia làm hai huyện Vĩnh Bình và Vĩnh Trị.
Tháng 5-1837, căn cứ vào số đinh, số điền ở tỉnh
Vĩnh Long ngày càng nhiều, địa thế đất đai mở rộng,
Vua Minh Mệnh cho đặt phủ Hoằng Đạo. Trước kia,
hai huyện Tân Minh, Bảo An thuộc phủ Hoằng An, địa
thế rộng rãi, số đinh điền nhiều (huyện Tân Minh số
đinh hơn 9.390 người, điền thổ hơn 35.700 mẫu; huyện
Bảo An số đinh hơn 8.870 người, điền thổ hơn 42.070
mẫu), Vua Minh Mệnh cho chiểu theo địa thế liền
nhau, Tân Minh ở phía nam sông lớn, chia làm hai
huyện là Tân Minh và Duy Minh, vẫn thuộc phủ
Hoằng An kiêm lý huyện Tân Minh, thống hạt huyện
Duy Minh; huyện Bảo An ở phía bắc sông lớn, chia làm
hai huyện Bảo An và Bảo Hựu, lập riêng làm phủ
Hoằng Đạo, kiêm lý huyện Bảo Hựu, thống hạt huyện
Bảo An; hai huyện Duy Minh và Bảo An đều đặt tri
huyện, mà bỏ bớt chức huyện thừa ở Tân Minh, Bảo An
24
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
đặt từ trước. Phủ lỵ Hoằng An đặt tại thôn Phúc Hạnh,
huyện lỵ Duy Minh đặt tại thôn Phúc Khánh, phủ lỵ
Hoằng Đạo đặt tại thôn An Đức, huyện lỵ Bảo An đặt
tại thôn An Lý1.
Dưới triều Vua Thiệu Trị và đầu triều Vua Tự Đức2,
diên cách hành chính tỉnh Vĩnh Long chỉ có một vài sự
điều chỉnh nhỏ. Năm 1851, huyện Bảo An và huyện Bảo
Hựu của phủ Hoằng An được sáp nhập vào phủ Hoằng
Trị. Thời điểm này, tỉnh Vĩnh Long có ba phủ, còn các
đơn vị hành chính huyện, tổng, xã vẫn giữ nguyên như
năm 1837 (8 huyện, 47 tổng, 408 xã). Đến thời gian này,
Vĩnh Long đã trở thành vùng đất màu mỡ, dân cư đông
đúc, hoạt động buôn bán tấp nập. Theo Đại Nam nhất
thống chí, vào khoảng giữa thế kỷ XIX, ở Nam Bộ có 83
chợ lớn nhỏ, riêng tỉnh Vĩnh Long có đến 19 chợ. Trong
đó, có một số chợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc
trao đổi, buôn bán hàng hóa ở địa phương, như các chợ
Long Hồ, Sa Đéc, v.v.. Mạng lưới chợ phản ánh mức độ
phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngoài việc phục vụ
_________
1. Tổ chức hành chính tỉnh Vĩnh Long năm 1837 gồm 4 phủ,
8 huyện, 47 tổng, 408 xã, thôn, trong đó: phủ Định Viễn gồm 2 huyện:
Vĩnh Bình (8 tổng, 75 xã) và Vĩnh Trị (6 tổng, 43 xã); phủ Hoằng
Trị gồm 2 huyện: Bảo Hựu (6 tổng, 42 xã) và Bảo An (5 tổng, 27 xã);
phủ Hoằng An gồm 2 huyện: Duy Minh (5 tổng, 34 xã) và Tân Minh
(6 tổng, 41 xã); phủ Lạc Hóa gồm 2 huyện: Tuân Mỹ (5 tổng, 76 xã)
và Trà Vinh (6 tổng, 70 xã).
2. Trước năm 1867, tức là trước khi thực dân Pháp đánh chiếm
Vĩnh Long.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
25
nhu cầu sinh hoạt của nhân dân các địa phương, một
lượng lớn hàng hóa được thương gia tập trung về các
thương cảng để sau đó bán cho thuyền buôn từ Trung
Bộ vào, hoặc bán cho tàu buôn nước ngoài, góp phần
phát triển giao thương kinh tế giữa các vùng.
Về giao thông, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và huyện
Vũng Liêm (quê hương của Phan Văn Hòa), có nhiều
sông rạch, thuận tiện cho giao thông đường thủy. Sông
Mang Thít và kinh xáng Nicôlai nối sông Tiền với sông
Hậu là tuyến vận tải quan trọng, đưa hàng hóa của các
tỉnh đồng bằng phía tây sông Hậu về thành phố Sài Gòn
và ngược lại. Trái với đường thủy, giao thông đường bộ
của Vĩnh Long phát triển chậm hơn, bởi sự chia cắt của
các con sông lớn và hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đến
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giao thông đường bộ mới
được chú ý đầu tư xây dựng. Nhưng sau đó một thời gian
dài, do điều kiện kinh tế, lại trải qua hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, hệ
thống đường bộ của Vĩnh Long và Vũng Liêm không
được đầu tư phát triển. Cho đến khi bước vào thời kỳ đổi
mới, với sự đầu tư mạnh mẽ của Trung ương và của tỉnh,
các tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 53, quốc lộ 54..., các tuyến
đường tỉnh lộ và liên tỉnh, liên huyện, liên xã, cùng với
hàng trăm cây cầu hiện đại đã được đầu tư xây dựng và
hoàn thiện, nối liền mạch máu giao thông, đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và giao thương
khu vực.
26
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
Cho đến đầu thế kỷ XX, thành phần dân cư chủ yếu
ở Vĩnh Long là dân tộc Việt (người Kinh, chiếm 97%),
dân tộc Khmer (chiếm 2%) và dân tộc Hoa (chiếm 1%).
Các dân tộc sống đoàn kết, có sự đan xen, giao lưu văn
hóa với nhau, tạo nên sắc thái văn hóa phong phú, đa
dạng, vừa mang tính truyền thống, vừa có tính đặc thù.
Các loại hình văn học truyền khẩu, văn học dân gian,
dân ca, hò vè, nói thơ Lục Vân Tiên, hát huê tình, ca tài
tử, cải lương, hát bội... được nhân dân tổ chức trong các
dịp lễ, Tết, hoặc trong các dịp sinh hoạt cộng đồng1.
Con người Vĩnh Long vốn có truyền thống cần cù,
hiếu học. Từ thế kỷ XIX, nơi đây đã nổi danh là vùng
“đất học” phía Nam, là quê hương của nhiều trí thức
yêu nước có công lao, đóng góp lớn đối với sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước2.
Về kinh tế - xã hội: Nằm ở giữa hai con sông lớn
nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long nên đất đai, ruộng
vườn của cả tỉnh Vĩnh Long màu mỡ, trù phú, nước ngọt
quanh năm, khí hậu ôn hòa, ít bị ảnh hưởng của thiên
_________
1. Huyện Vũng Liêm có truyền thống hát bội, đến nay vẫn được
con cháu tiếp nối, giữ gìn nghiệp tổ. Nhiều ca sĩ, nghệ sĩ có tiếng
thời nay xuất thân từ vùng đất này như Nghệ sĩ Nhân dân Thành
Tôn, các Nghệ sĩ Ưu tú Thành Lộc, Thanh Hương, Thanh Loan; đặc
biệt có Nghệ sĩ Nhân dân Út Trà Ôn được tôn vinh là “Đệ nhất
danh ca vọng cổ miền Nam”.
2. Các trí thức tiêu biểu như: Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao
động Trần Đại Nghĩa; Giáo sư, Tiến sĩ Trương Công Trung, Bùi Chí
Hiếu; Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, v.v..
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
27
tai, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp, trồng cây ăn
trái và chăn nuôi thủy, hải sản... Tuy nhiên, phần lớn
diện tích ruộng vườn tập trung trong tay một số địa
chủ, còn lại đa số người dân phải cấy mướn, làm thuê,
trở thành những tá điền, bị bóc lột thậm tệ. Ở xã Trung
Hiệp, mảnh đất chôn rau cắt rốn của Phan Văn Hòa,
hầu hết ruộng đất nằm trong tay địa chủ, đại đa số
nhân dân lao động phải làm thuê kiếm sống, vất vả, cực
nhọc mà không đủ cơm ăn hằng ngày.
Vùng đất, con người Vĩnh Long giàu truyền thống
đoàn kết, yêu nước, kiên cường, bất khuất, chống xâm
lược. Dưới thời Nguyễn, tại đây đã diễn ra nhiều cuộc
khởi nghĩa của nông dân chống lại chế độ phong kiến,
chống lại áp bức, cường quyền, trong đó tiêu biểu nhất
là cuộc khởi nghĩa Lạc Hóa (tháng 3-1841).
Lạc Hóa (bao gồm vùng đất Trà Vinh và Mân Thít
xưa), thời các chúa Nguyễn được đặt thành hai phủ.
Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), phủ Mân Thít đổi làm
phủ Tuân Nghĩa, phủ Trà Vinh đổi làm huyện Trà Vinh,
đặt phủ Lạc Hóa thuộc thành Gia Định. Năm Minh
Mạng thứ 13 (1832) chia hạt, đổi thuộc hạt Vĩnh Long1.
Đầu tháng 3 năm Tân Sửu (1841), quân nổi dậy do
thủ lĩnh Lâm Sâm lãnh đạo đánh chiếm phủ lỵ Lạc
Hóa. Tháng 4 năm Tân Sửu (1841), hơn 3.000 quân nổi
_________
1. Xem Nguyễn Văn Siêu: Đại Việt địa dư toàn biên, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1997.
28
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
dậy lại vây đánh đồn Nguyệt Lãng và đánh phá nhiều
đồn trại của quân Nguyễn trên bờ sông Trà Vinh; đồng
thời, hơn 2.000 nghĩa quân kéo lên chiếm giữ Giồng Sang1
để ngăn đường tiến của quân Nguyễn theo sông Cổ Chiên
về cứu viện cho huyện lỵ Trà Vinh. Trước tình thế nguy
cấp, Vua Thiệu Trị ra lệnh cho Tham tán Nguyễn Tiến
Lâm phải trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp, đồng thời điều
động đạo quân của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đến hỗ
trợ. Sau một thời gian, lực lượng của nghĩa quân bị thiệt
hại đáng kể, quân triều đình được tăng cường, chia làm
mấy đạo, kéo vào vây chặt và phá vỡ căn cứ...
BAN CHỈ ĐẠO CHƯƠNG TRÌNH
TRƯƠNG TẤN SANG
Trưởng ban
TÔ HUY RỨA
Ủy viên
NGÔ VĂN DỤ
Ủy viên
HỒ ĐỨC VIỆT
Ủy viên
LÊ HỮU NGHĨA
Ủy viên
BAN CHỦ NHIỆM CHƯƠNG TRÌNH
GS.TS. LÊ HỮU NGHĨA
PGS.TS. PHẠM HỒNG CHƯƠNG
Chủ nhiệm
Phó Chủ nhiệm
PGS.TS. NGUYỄN VĂN THẠO
Ủy viên
GS.TS. MẠCH QUANG THẮNG
Ủy viên
TS. NGUYỄN DUY HÙNG
Ủy viên
BAN BIÊN SOẠN
PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG (Chủ biên)
TS. NGUYỄN THỊ KIM DUNG
TS. TRẦN VĂN HẢI
5
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Đồng chí Võ Văn Kiệt, tên thật là Phan Văn Hòa, sinh
ngày 23-11-1922 tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh
Vĩnh Long trong một gia đình nông dân nghèo đông con.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu
nước, đấu tranh kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm,
chống cường quyền, áp bức, bóc lột... nên khi tuổi đời còn rất
trẻ, đồng chí đã sớm giác ngộ cách mạng, từ một thanh niên
yêu nước trở thành một người cộng sản ưu tú. Trong những
ngày đầu tham gia hoạt động cách mạng đầy gian nan, vất
vả, khó khăn, thử thách, hiểm nguy, đồng chí luôn vững
vàng, kiên định, nhiệt tình, năng nổ, sẵn sàng đón nhận mọi
nhiệm vụ cách mạng. Chính vì thế, đồng chí đã nhanh chóng
trưởng thành, trở thành người cán bộ có uy tín với nhân dân.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí tham gia
lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Rạch Giá.
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược, đồng chí luôn có mặt tại chiến trường
miền Nam, đảm đương nhiều trọng trách khác nhau, sát
cánh cùng đồng bào, đồng chí và các lực lượng vũ trang vượt
6
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
qua mọi gian lao, ác liệt, hy sinh, làm nên những chiến công
hiển hách. Cũng chính trong những năm tháng ấy, sự nhạy
bén, sáng suốt trong nhận định, đánh giá tình hình; tính táo
bạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
trước Đảng và nhân dân của đồng chí ở chiến trường đã góp
phần để Trung ương đánh giá đúng tình hình, kịp thời có
những chủ trương, sách lược, phương châm đúng đắn cho
cách mạng trong từng giai đoạn, góp phần quan trọng vào
chiến công vĩ đại của dân tộc ta - giải phóng hoàn toàn miền
Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội và trong những năm tháng đất nước bắt đầu đổi mới,
thấm nhuần tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, dù ở bất cứ
cương vị nào, đồng chí cũng luôn trăn trở, nghiên cứu tìm ra
những bước đi thích hợp, dốc lòng, dốc sức phục vụ tốt cho
mục tiêu của cách mạng, của đất nước, hoàn thành trọng
trách trước Đảng, trước nhân dân. Đồng chí là người cộng
sản tiêu biểu cho tinh thần rèn luyện, học hỏi, năng động,
sáng tạo, rất nhạy bén với cái mới, cái tiến bộ. Là nhà lãnh
đạo, nhà hoạt động thực tiễn, đồng chí trực tiếp xuống cơ sở
tìm hiểu tình hình cụ thể, lắng nghe những ý kiến khác nhau
rồi mới quyết định. Luôn bám sát thực tiễn, có năng lực tổng
kết thực tiễn, phát hiện cái mới nên đồng chí đã đóng góp cho
Đảng nhiều chủ trương, chính sách sáng tạo, đáp ứng nhu
cầu đòi hỏi của thực tiễn. Chính bản lĩnh vững vàng, sáng
tạo của đồng chí - người đứng đầu dám quyết định, dám chịu
trách nhiệm - đã góp phần đưa đất nước ta vượt qua thời
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
7
điểm khó khăn để bước vào thời kỳ ổn định và phát triển.
Đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta.
Khi thôi giữ trọng trách đứng đầu Chính phủ và cả khi
không còn làm nhiệm vụ Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, đồng chí vẫn đau đáu nỗi lo cho nước, cho dân, vẫn
theo dõi sát sao tình hình mọi mặt, thường xuyên đóng góp ý
kiến với các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về
những vấn đề hệ trọng của đất nước, vẫn đến với nhân dân
các địa phương có khó khăn để giúp cách tháo gỡ. Và khi giã
từ cuộc đời này, đồng chí mang theo nỗi băn khoăn, lo nghĩ
cùng dự định sang Hà Lan để học hỏi kinh nghiệm, tìm cách
khắc phục những khó khăn, những thách thức của nước biển
dâng khi trái đất nóng lên.
Tám mươi sáu năm tuổi đời, gần 70 năm hoạt động cách
mạng liên tục và vô cùng phong phú, sôi nổi, cuộc đời của
đồng chí Võ Văn Kiệt gắn liền với những chặng đường đấu
tranh đầy hy sinh, gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng, vẻ vang
của Đảng, của dân tộc. Có thể nói, đồng chí là hiện thân tiêu
biểu của lớp các chiến sĩ cách mạng hy sinh cả cuộc đời cho
sự nghiệp của Đảng và dân tộc. Với những cống hiến xuất sắc
cho Đảng, cho cách mạng, cho đất nước, đồng chí Võ Văn Kiệt
mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho cán bộ, đảng viên, các
tầng lớp nhân dân và thế hệ trẻ Việt Nam học tập, noi theo
để xây dựng đất nước vững bước trên con đường hội nhập
phát triển.
8
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
Để ghi nhớ, tôn vinh công lao và những đóng góp to lớn
của đồng chí Võ Văn Kiệt với Đảng và sự nghiệp cách mạng
Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xuất
bản cuốn sách Võ Văn Kiệt - Tiểu sử thuộc Chương trình
sưu tầm tài liệu, viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo tiền bối
của Đảng và cách mạng Việt Nam.
Cuốn sách được thực hiện dựa trên nguồn tư liệu phong
phú, với tinh thần lao động khoa học cẩn trọng, kỹ lưỡng,
khách quan, trung thực, có trách nhiệm trước lịch sử, chắc
chắn sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về những chặng đường đời,
cũng như những hoạt động phong phú, những đóng góp quan
trọng của đồng chí Võ Văn Kiệt để thêm kính trọng và yêu
quý người cộng sản kiên trung, người lãnh đạo tài năng của
Đảng và cách mạng Việt Nam, một nhân cách lớn, một con
người suốt đời vì nước, vì dân.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách tới bạn đọc.
Tháng 11 năm 2015
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
9
LỜI NÓI ĐẦU
Phan Văn Hòa (tức Võ Văn Kiệt) sinh ngày 23-11-1922
trong một gia đình nông dân nghèo, tại ấp Bình Phụng,
xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng khi mới 16
tuổi và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương
khi chưa đầy 18 tuổi. Trải qua gần 70 năm hoạt động
cách mạng vô cùng sôi nổi, trên nhiều lĩnh vực, nhiều
địa bàn ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam của đất nước,
với những trọng trách được giao ngày càng nặng nề,
bất kỳ ở cương vị nào, từ khi là một thanh niên giác
ngộ lý tưởng cộng sản và tham gia cách mạng ở quê
nhà (năm 1938), cho đến khi đảm nhiệm cương vị
lãnh đạo đứng đầu Chính phủ: Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng, Thủ tướng Chính phủ (1991-1997), đồng chí
luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và
nhân dân giao phó.
Cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của
đồng chí Võ Văn Kiệt gắn liền với những chặng đường
10
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
đấu tranh đầy hy sinh, gian khổ, song rất đỗi hào
hùng, vẻ vang của Đảng, đất nước và dân tộc. Với đức
độ và tài năng được rèn luyện trong thực tiễn đấu
tranh, với nghị lực, trí tuệ và tinh thần bền bỉ của
người chiến sĩ cách mạng kiên cường, tư duy lãnh đạo
năng động, sáng tạo, đồng chí Võ Văn Kiệt có nhiều
cống hiến xuất sắc và đóng góp to lớn cho Đảng và
cách mạng Việt Nam. Có thể nói, những thắng lợi vĩ
đại mà dân tộc ta đã giành được từ khi có Đảng lãnh
đạo: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa;
thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược
bảo vệ Tổ quốc, và thống nhất đất nước; thắng lợi của
sự nghiệp đổi mới đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa
xã hội... in đậm dấu ấn của một thế hệ những nhà
lãnh đạo cách mạng ưu tú, mà đồng chí Võ Văn Kiệt
là một trong những người tiêu biểu, người học trò
xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí được
ghi nhận, đánh giá là một trong những người đi đầu
trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam (từ năm 1986), là
“tổng công trình sư” nhiều dự án táo bạo của thời kỳ
đổi mới.
Thực hiện Quyết định số 229/QĐ-TW, ngày 9-6-2009
của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc sưu tầm tài
liệu và viết tiểu sử của đồng chí Võ Văn Kiệt, nhằm
LỜI NÓI ĐẦU
11
nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và những hoạt động
vẻ vang của người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo
tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam; đồng thời,
bày tỏ sự tri ân của Đảng và nhân dân ta đối với công
lao, đóng góp xuất sắc của đồng chí Võ Văn Kiệt đối với
Đảng và dân tộc ta.
Trong quá trình sưu tầm tài liệu, hoàn thành cuốn
sách Võ Văn Kiệt - Tiểu sử, Ban biên soạn đã nhận
được sự cộng tác, giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan:
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Long, Bạc Liêu, Kiên
Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là sự giúp đỡ
của Huyện ủy Vũng Liêm; các đồng chí nguyên là lãnh
đạo của Đảng, Nhà nước, các vị lão thành cách mạng,
các nhà khoa học và thân nhân, gia đình đồng chí Võ
Văn Kiệt... Xin được cám ơn sự cộng tác nhiệt tình, sự
giúp đỡ quý báu đó.
Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ góp phần
đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống
cách mạng vẻ vang của Đảng, khơi dậy niềm tự hào về
lịch sử đấu tranh bất khuất, kiên cường của các thế hệ
cha anh trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với thế
hệ trẻ; củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong
công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Mặc dù đã rất cố gắng, song do khả năng có hạn,
công trình nghiên cứu chắc chắn không tránh khỏi
12
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
những hạn chế thiếu sót. Ban biên soạn mong nhận
được sự thông cảm và ý kiến góp ý của độc giả.
Xin chân thành cảm ơn.
T/M NHÓM BIÊN SOẠN
Chủ biên
PGS.TS. TRẦN MINH TRƯỞNG
13
Chương I
QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU
(1922 - 1938)
1. Quê hương
Võ Văn Kiệt, tên khai sinh là Phan Văn Hòa, (bí
danh: Sáu Dân, Chín Dũng, Chín Hòa...), sinh ngày 2311-19221, tại thôn Bình Phụng, làng Trung Lương, tổng
Bình Trung, huyện Vĩnh Trị, tỉnh Vĩnh Long, nay là ấp
Bình Phụng, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh
Vĩnh Long.
Ấp Bình Phụng là một trong 8 ấp2 của xã Trung
Hiệp, có vị trí kề sát trung tâm huyện Vũng Liêm, cách
thị trấn huyện lỵ Vũng Liêm 2 km về hướng tây, cách
thành phố Vĩnh Long (tỉnh lỵ) khoảng 32 km về phía
đông nam. Vũng Liêm là một huyện đồng bằng trù phú,
_________
1. Về ngày, tháng, năm sinh, theo bản lý lịch tự thuật của đồng
chí Võ Văn Kiệt, chỉ có năm sinh là chính xác, còn ngày, tháng, lấy
theo ngày, tháng của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.
2. Xã Trung Hưng có 8 ấp, gồm: ấp Trung Hưng, Rạch Ngay,
Mướp Sát, Bình Phụng, Ruột Ngựa, Trung Trị, Rạch Nưng và
ấp Tư.
14
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
nằm ngay trên bờ sông Cổ Chiên (thuộc hệ thống sông
Cửu Long), hằng năm được bồi đắp bởi nguồn phù sa
màu mỡ của các con sông mang lại.
Vĩnh Long là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ,
nằm giữa hai con sông lớn (sông Tiền và sông Hậu),
phía bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía đông giáp tỉnh Bến
Tre, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp thành
phố Cần Thơ và tỉnh Đồng Tháp. Thành phố Vĩnh Long
là trung tâm kinh tế, văn hóa, là đầu mối giao thông
của tỉnh, từ đây ngược lên phía bắc, khoảng 135 km
theo quốc lộ 1 đến Thành phố Hồ Chí Minh; về phía
nam khoảng gần 30 km, vượt qua sông Hậu bằng cây
cầu hiện đại là đến thành phố Cần Thơ - trung tâm của
miền Tây Nam Bộ.
Tỉnh Vĩnh Long ra đời khá muộn1 (cách đây gần
300 năm), nhưng lịch sử khai phá và quá trình hình
thành đơn vị hành chính và cộng đồng cư dân ở Vĩnh
Long đã có từ trước đó. Vùng đất, con người Vĩnh Long
đã trải qua nhiều thế hệ đấu tranh gian khổ và hào
hùng, gắn liền với lịch sử mở mang bờ cõi về phía Nam
của dân tộc ta.
Theo những ghi chép của nhà thám hiểm Fernard
Mendez Pinto, người Bồ Đào Nha và phụ tá của ông là
Faria, ngay từ đầu thế kỷ XVI, đã có người Việt đến
_________
1. Năm 1732, Chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738), quyết định
thành lập đơn vị hành chính đầu tiên cho vùng đất này là châu
Định Viễn, dinh Long Hồ chính là Vĩnh Long ngày nay (TG).
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
15
sinh sống ở vùng châu thổ sông Mêkông1. Đến đầu thập
niên thứ 3 của thế kỷ XVII, những lưu dân người Việt
đầu tiên đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ2, làng xóm người
Việt đã hình thành: “người Kinh, người Trung Quốc,
người Cao Miên làm nhà ở liền nhau, kết thôn họp chợ,
để đón lợi chằm sông rừng núi”3.
Năm Mậu Dần (1698), Chúa Nguyễn Phúc Chu4 bắt
đầu cho đặt phủ Gia Định... mở đất đai nghìn dặm, dân
được hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ dân lưu tán ở châu Bố
Chính trở vào để ở cho đông. Đặt các xã, thôn, phường,
ấp, chia cắt địa phận, trưng chiếm ruộng đất, chuẩn
định thuế điền, thuế đinh, làm sổ đinh, sổ điền. Đây là
sự kiện lịch sử đánh dấu một mốc rất quan trọng trong
quá trình khai phá, mở mang vùng đất Nam Bộ thời các
_________
1. Theo Nguyễn Đình Đầu: Chế độ công điền, công thổ trong lịch
sử khẩn hoang ở Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh,
1999, tr.31.
2. Theo các nguồn sử liệu: Gia Định thành thông chí (của Trịnh
Hoài Đức); Phủ biên tạp lục (của Lê Quý Đôn); Đại Nam thực lục
(Tiền biên); Đại Nam liệt truyện; Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử
quán triều Nguyễn)... và một số tài liệu khác cho biết, quá trình
khai phá và mở mang ở Đồng Nai và Mô Xoài (sử cũ chép là Mỗi
Xuy), tức vùng đất Nam Bộ nói chung, Vĩnh Long (nói riêng), của
cư dân Việt diễn ra từ đầu thế kỷ XVII.
3. Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội, 1998, tr.51.
4. Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1675 - 1725) là vị chúa Nguyễn thứ
sáu của chính quyền Đàng Trong (ở ngôi từ năm 1691 đến năm 1725),
nối ngôi Chúa Nguyễn Phúc Thái.
16
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
chúa Nguyễn. Mặc dù trước đó gần 8 thập kỷ, lưu dân
người Việt đã có mặt ở một số địa bàn nhưng việc khai
phá của lớp cư dân đầu tiên này vẫn mang tính tự phát,
chủ yếu là lo việc mưu sinh chứ không do chính quyền
tổ chức và quản lý. Đến năm 1698, các chúa Nguyễn
chính thức hoạch định miền đất Sài Gòn - Gia Định vào
bản đồ của xứ Đàng Trong, xếp đặt các đơn vị hành
chính và bộ máy quản lý xuống đến tận thôn, xã. Như
vậy, từ thời điểm này các chúa Nguyễn đã khẳng định
được quyền lực thực tế của mình trong việc quản lý
ruộng đất, hộ khẩu và trưng thu các nguồn lợi tự nhiên
cũng như nguồn thu thuế qua việc trao đổi giao thương
với thương nhân các nước trên vùng đất mới mở. Việc
nhập cư của người Việt và người Hoa vào miền đất Nam
Bộ ngày càng có tổ chức và quy mô hơn. Sau sự kiện thủ
lĩnh người Ai Lao là Sá Tốt đem quân vào cướp phá Gia
Định tháng 4 năm Tân Hợi (1731), bị quân Nguyễn
đánh tan, tháng 4 năm Nhâm Tý (1732), chúa Nguyễn
thấy địa thế Gia Định rộng rãi bèn sai chia đất đặt
châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (tức Vĩnh Long
ngày nay).
Mặc dầu đã lập thành dinh, trấn và có những chính
sách chiêu dân lập ấp, nhưng vùng đất này lúc bấy giờ
vẫn là những cánh đồng hoang vu, dân cư thưa thớt.
Cho đến mãi nửa sau thế kỷ XVII: “Ở phủ Gia Định,
đất Đồng Nai từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa
Đại, Cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
17
dặm”1. Miền hoang địa gần như vô chủ ấy thực sự được
đánh thức khi lớp lưu dân người Việt đầu tiên đặt chân
đến vào khoảng đầu thế kỷ XVIII.
Những người dân đầu tiên đến khai phá vùng đất
này phần lớn là những nông dân nghèo miền Trung, do
không chịu nổi ách áp bức của chế độ phong kiến đương
thời, hoặc trốn tránh binh dịch, lao dịch trong cuộc
chiến tranh tương tàn giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Họ lần lượt tiến vào miền đất mới bằng đường biển, với
phương tiện chủ yếu là thuyền buồm và ghe bầu. Theo
sử cũ, các điểm cư ngụ đầu tiên của họ là Mỗi Xoài (Bà
Rịa) và Đồng Nai, sau tiến dần xuống Sài Gòn, Mỹ Tho,
Hà Tiên. Trong nửa đầu thế kỷ XVIII, người Việt tiếp
tục di chuyển xuống vùng Long Hồ (Gò Công, Tân An,
Bến Tre, Vĩnh Long), Trà Vinh, Ba Thắc, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Sa Đéc và Châu Đốc.
Quá trình nhập cư của người Việt gắn liền với việc
hình thành những thôn ấp theo mô hình làng xã truyền
thống của người nông dân Việt Nam đồng bằng Bắc Bộ
và Trung Bộ. Trên vùng đất mới với rừng rậm bạt ngàn,
hay sình lầy, chằm phá, lưu dân Việt luôn phải đối mặt
với rất nhiều thử thách khắc nghiệt của tự nhiên. Đó là
nạn thú dữ, rắn độc, bệnh tật, ốm đau. Để sinh tồn, trụ
vững, người dân Việt phải quần tụ gắn bó, giúp đỡ,
_________
1. Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,
1964, tr.216.
18
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
tương trợ lẫn nhau trong việc khai hoang vỡ đất, chống
chọi với thiên nhiên. Bằng công sức của nhiều thế hệ
cần cù lao động, chặt phá cây cối, cắt cỏ rậm, những bãi
lầy hoang vu đã biến thành những vùng đất bằng
phẳng phì nhiêu. Có thể nói, trong công cuộc khai phá
miền đất Nam Bộ nói chung và Vĩnh Long nói riêng, các
thế hệ ông cha ta đã có công lao to lớn trong mở mang
bờ cõi và trong lao động, chiến đấu, giữ gìn từng tấc đất
thấm đượm máu và mồ hôi mới có được.
Vĩnh Long trong các thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế
kỷ XIX, là vùng đất tụ cư của nhiều cộng đồng người:
Kinh (Việt), Khmer, Hoa,... trong đó bộ phận chính là
người Kinh. Các dân tộc sống xen kẽ với nhau trong các
làng xã, thôn ấp. Theo ghi chép của tác giả Trịnh Hoài
Đức trong quá trình khảo sát về trấn Vĩnh Thanh:
“... tổng Vĩnh Thanh ở bờ đông sông Trà Ôn... chợ búa
đông đúc, là nơi dân Kinh, dân Trung Quốc, dân Cao
Miên hội tụ... Thủ đạo Trấn Di (ở sông Ba Thắc), dân
Kinh, dân Trung Quốc, dân Cao Miên ở lẫn nhau, phố
chợ nối liền... Cửa biển Mỹ Thanh... bờ tây có thủ sở...
người Kinh, người Trung Quốc, người Cao Miên nhà cửa
đông đúc, trồng thuốc lá, dưa quả, phơi tôm khô...”1.
Quá trình khẩn hoang lập ấp trên địa bàn Vĩnh
Long diễn ra liên tục từ khi lưu dân Việt đặt chân tới
_________
1. Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội, 1998, tr.53.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
19
vùng đất này vào giữa thế kỷ XVII. Quá trình khai phá,
mở cõi đầy gian nan và không kém phần hiểm nguy.
Thiên tai, dịch bệnh, thú dữ luôn rình rập con người,
cùng với nạn nhiễu sách dân đen của chức dịch, quan
lại địa phương. Chí sĩ Nguyễn Cư Trinh đã từng mô tả:
“Thiên gia lưu đáo man di thổ
Thùy gia ngạc ngư, lục xà hổ
Tân điều bất túc hại nhân cầu
Lại ốc hướng vi phong ba nô”.
Dịch nghĩa là:
“Nghìn nhà đến vùng đất hoang vu
Dưới sông nhiều sấu, trên đất nhiều rắn hổ
Hoa lợi đất không đủ yêu sách cho bọn sai nha
Nhà đổ còn bị sóng gió”1.
Mặc dầu vậy, với ý chí và niềm tin, những người
dân đi mở đất không bao giờ lùi bước. Vì: “Hãy cực trước
để đời sau cộng hưởng, không trói chân giam hãm mãi
khốn cùng”; mặc cho: “Bệnh tật, ác thú, thiên tai đe
dọa, bao tấm thân vùi xác ven rừng, nắm xương lớp lớp
đáy sông. Tấc đất mở cõi sánh chiều cao gian khổ”2.
Với công sức, mồ hôi và cả xương máu của bao lớp
tiền nhân, đến nửa cuối thế kỷ XVIII, về cơ bản, các
chúa Nguyễn đã khẳng định được quyền lực thực tế của
_________
1, 2. Dẫn theo: Văn bia thành phố Vĩnh Long, lưu tại Bảo tàng
Vĩnh Long.
20
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
mình trên vùng đất mới khai khẩn, thông qua việc thiết
lập hệ thống các đơn vị hành chính từ dinh, trấn xuống
đến tổng, xã và các cấp tương đương. Bộ máy quản lý
các cấp cũng được hoàn thiện từng bước, chịu trách
nhiệm trước phủ chúa trong việc quản lý đinh, điền, tổ
chức sản xuất và thu thuế cho Nhà nước. Sang đầu thế
kỷ XIX, công cuộc khẩn hoang vẫn tiếp tục và được đẩy
mạnh ở các dinh, trấn, đặc biệt là những địa phương
còn nhiều đất hoang, đầm lầy, rừng rậm. Nhiều làng xã
mới được hình thành, theo số liệu sổ sách kê điền thổ
của Nam Kỳ lục tỉnh, số ruộng đất mới khai khẩn cho
đến năm 1839 của Vĩnh Long là hơn 1.900 mẫu.
Nhằm khẳng định và tiến hành thực thi chủ quyền
trên vùng đất mới, các chúa Nguyễn đã thiết lập và
củng cố hệ thống chính quyền địa phương, tổ chức quân
đội và triển khai các hoạt động kinh tế theo mô hình
chung của xứ Đàng Trong. Lãnh thổ Đàng Trong từ sau
khi Nguyễn Phúc Khoát xưng Vương (1744) được chia
làm 12 dinh. Vùng đất Nam Bộ có 3 dinh là Trấn Biên
(Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định) và Long Hồ (Vĩnh
Long). Riêng Hà Tiên đặt làm 1 trấn, có chức Đô đốc
đứng đầu và giao cho dòng họ Mạc (con cháu Mạc Cửu)
quản lý. Dinh Long Hồ, lỵ sở đóng tại châu Định Viễn,
quan thuộc gồm án sát, cai bạ, ký lục, mỗi chức một
người; sở thuộc thì có Ty Tướng thần lại, Ty Xá sai, số
viên chức như dinh Trấn Biên.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
21
Để bảo vệ nhân dân và quản lý các vùng đất mới mở
mang, năm 1779, sau khi lên ngôi Chúa, Nguyễn Ánh
cho đặt công đường ở các dinh Trấn Biên, Phiên Trấn
và Long Hồ; đóng chiến thuyền, chứa quân lương để đối
phó với nhà Tây Sơn. Đồng thời, phân chia địa giới ba
dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ cho tiện liên
lạc với nhau. Trong đó, dinh Long Hồ đổi làm dinh
Hoằng Trấn, lĩnh một châu là Định Viễn, có ba tổng
(Bình An, Bình Dương và Tân An).
Năm 1802, ngay sau khi đánh bại phong trào Tây
Sơn và lên ngôi, Vua Gia Long sắp xếp lại hệ thống
quan chức ở các dinh trấn trong cả nước. Theo đó, các
trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường đều
đặt ký lục, án sát, cai bạ, Ty Xá sai, Ty Tướng thần lại...
Năm 1808, Vua Gia Long cho đổi dinh Vĩnh Trấn làm
trấn Vĩnh Thanh. Theo ghi chép của sử gia Trịnh Hoài
Đức, đến năm 1816, hệ thống các đơn vị hành chính từ
cấp trấn đến xã thôn ở trấn Vĩnh Thanh gồm 1 phủ
(Định Viễn), 4 huyện (Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Định,
Tân An), 6 tổng và 353 thôn, phường, ấp, trại, xóm.
Năm 1819, trấn Vĩnh Thanh có số đinh hơn 37.000 người,
điền thổ hơn 9.900 mẫu.
Đến thời Minh Mệnh, xuất phát từ điều kiện thực
tế: ruộng đất khẩn hoang ngày càng nhiều, đinh số hộ
khẩu ngày càng tăng, nhà Nguyễn cho lập thêm nhiều
22
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
đơn vị hành chính mới (tổng nâng lên thành huyện,
huyện thăng thành phủ...). Năm Minh Mệnh thứ 4
(1823) thăng huyện Tân An, trấn Vĩnh Thanh làm phủ
Hoằng An, tổng Tân Minh làm huyện Tân Minh, tổng
An Bảo làm huyện Bảo An. Phủ Hoằng An đặt một tri
phủ (kiêm lý huyện Tân Minh), lấy Hàn lâm Biên tu Lê
Quang thăng bổ chức ấy1. Đến năm 1825, với lý do
huyện Long Xuyên và Kiên Giang (thuộc trấn Hà Tiên)
địa giới cách xa trấn, buôn bán tụ họp, kiện cáo lôi thôi,
huyện Tân Minh thuộc phủ nha Hoằng An công việc
cũng nhiều, nên Minh Mệnh cho đặt thêm chức huyện
thừa2. Tiếp đó, năm 1826, quan thành Gia Định nhận
thấy hai huyện Vĩnh Định và Hoằng An đất rộng, việc
nhiều; ba đạo Tân Châu, Chiến Sai và Hùng Ngự ở
Vĩnh Thanh, ở địa đầu biên giới là đường các nước
phiên thuộc qua lại, đều là nơi xung yếu, lệ trước huyện
có một tri huyện, đạo có một quản đạo, bèn xin đặt
thêm chức huyện thừa ở hai huyện và chức hiệp thủ ở
ba đạo, được Minh Mệnh ưng cho3.
Trong hai năm (1831-1832), Vua Minh Mệnh tiến
hành cải cách hành chính trên phạm vi cả nước, trước
_________
1, 2, 3. Xem Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục
(Chính biên), Đệ nhị kỷ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, t.II,
tr.288, 472, 541.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
23
hết chia đặt lại các tỉnh ở Bắc Thành. Từ Thừa Thiên
trở ra Bắc, đặt làm 18 tỉnh. Tháng 10 năm Nhâm Ngọ
(1832), Vua Minh Mệnh tiến hành chia đặt các tỉnh từ
Thừa Thiên trở về Nam. Trấn Vĩnh Thanh được đổi là
tỉnh Vĩnh Long, có ba phủ là Định Viễn, Hoằng An, Lạc
Hóa và sáu huyện: Vĩnh Bình, Vĩnh Trị, Tân Minh, Bảo
An, Tuân Nghĩa, Trà Vinh. Phủ Lạc Hóa nguyên thuộc
thành Gia Định nay đổi thuộc Vĩnh Long; huyện Vĩnh
Bình nay chia làm hai huyện Vĩnh Bình và Vĩnh Trị.
Tháng 5-1837, căn cứ vào số đinh, số điền ở tỉnh
Vĩnh Long ngày càng nhiều, địa thế đất đai mở rộng,
Vua Minh Mệnh cho đặt phủ Hoằng Đạo. Trước kia,
hai huyện Tân Minh, Bảo An thuộc phủ Hoằng An, địa
thế rộng rãi, số đinh điền nhiều (huyện Tân Minh số
đinh hơn 9.390 người, điền thổ hơn 35.700 mẫu; huyện
Bảo An số đinh hơn 8.870 người, điền thổ hơn 42.070
mẫu), Vua Minh Mệnh cho chiểu theo địa thế liền
nhau, Tân Minh ở phía nam sông lớn, chia làm hai
huyện là Tân Minh và Duy Minh, vẫn thuộc phủ
Hoằng An kiêm lý huyện Tân Minh, thống hạt huyện
Duy Minh; huyện Bảo An ở phía bắc sông lớn, chia làm
hai huyện Bảo An và Bảo Hựu, lập riêng làm phủ
Hoằng Đạo, kiêm lý huyện Bảo Hựu, thống hạt huyện
Bảo An; hai huyện Duy Minh và Bảo An đều đặt tri
huyện, mà bỏ bớt chức huyện thừa ở Tân Minh, Bảo An
24
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
đặt từ trước. Phủ lỵ Hoằng An đặt tại thôn Phúc Hạnh,
huyện lỵ Duy Minh đặt tại thôn Phúc Khánh, phủ lỵ
Hoằng Đạo đặt tại thôn An Đức, huyện lỵ Bảo An đặt
tại thôn An Lý1.
Dưới triều Vua Thiệu Trị và đầu triều Vua Tự Đức2,
diên cách hành chính tỉnh Vĩnh Long chỉ có một vài sự
điều chỉnh nhỏ. Năm 1851, huyện Bảo An và huyện Bảo
Hựu của phủ Hoằng An được sáp nhập vào phủ Hoằng
Trị. Thời điểm này, tỉnh Vĩnh Long có ba phủ, còn các
đơn vị hành chính huyện, tổng, xã vẫn giữ nguyên như
năm 1837 (8 huyện, 47 tổng, 408 xã). Đến thời gian này,
Vĩnh Long đã trở thành vùng đất màu mỡ, dân cư đông
đúc, hoạt động buôn bán tấp nập. Theo Đại Nam nhất
thống chí, vào khoảng giữa thế kỷ XIX, ở Nam Bộ có 83
chợ lớn nhỏ, riêng tỉnh Vĩnh Long có đến 19 chợ. Trong
đó, có một số chợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc
trao đổi, buôn bán hàng hóa ở địa phương, như các chợ
Long Hồ, Sa Đéc, v.v.. Mạng lưới chợ phản ánh mức độ
phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngoài việc phục vụ
_________
1. Tổ chức hành chính tỉnh Vĩnh Long năm 1837 gồm 4 phủ,
8 huyện, 47 tổng, 408 xã, thôn, trong đó: phủ Định Viễn gồm 2 huyện:
Vĩnh Bình (8 tổng, 75 xã) và Vĩnh Trị (6 tổng, 43 xã); phủ Hoằng
Trị gồm 2 huyện: Bảo Hựu (6 tổng, 42 xã) và Bảo An (5 tổng, 27 xã);
phủ Hoằng An gồm 2 huyện: Duy Minh (5 tổng, 34 xã) và Tân Minh
(6 tổng, 41 xã); phủ Lạc Hóa gồm 2 huyện: Tuân Mỹ (5 tổng, 76 xã)
và Trà Vinh (6 tổng, 70 xã).
2. Trước năm 1867, tức là trước khi thực dân Pháp đánh chiếm
Vĩnh Long.
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
25
nhu cầu sinh hoạt của nhân dân các địa phương, một
lượng lớn hàng hóa được thương gia tập trung về các
thương cảng để sau đó bán cho thuyền buôn từ Trung
Bộ vào, hoặc bán cho tàu buôn nước ngoài, góp phần
phát triển giao thương kinh tế giữa các vùng.
Về giao thông, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và huyện
Vũng Liêm (quê hương của Phan Văn Hòa), có nhiều
sông rạch, thuận tiện cho giao thông đường thủy. Sông
Mang Thít và kinh xáng Nicôlai nối sông Tiền với sông
Hậu là tuyến vận tải quan trọng, đưa hàng hóa của các
tỉnh đồng bằng phía tây sông Hậu về thành phố Sài Gòn
và ngược lại. Trái với đường thủy, giao thông đường bộ
của Vĩnh Long phát triển chậm hơn, bởi sự chia cắt của
các con sông lớn và hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đến
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giao thông đường bộ mới
được chú ý đầu tư xây dựng. Nhưng sau đó một thời gian
dài, do điều kiện kinh tế, lại trải qua hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, hệ
thống đường bộ của Vĩnh Long và Vũng Liêm không
được đầu tư phát triển. Cho đến khi bước vào thời kỳ đổi
mới, với sự đầu tư mạnh mẽ của Trung ương và của tỉnh,
các tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 53, quốc lộ 54..., các tuyến
đường tỉnh lộ và liên tỉnh, liên huyện, liên xã, cùng với
hàng trăm cây cầu hiện đại đã được đầu tư xây dựng và
hoàn thiện, nối liền mạch máu giao thông, đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và giao thương
khu vực.
26
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
Cho đến đầu thế kỷ XX, thành phần dân cư chủ yếu
ở Vĩnh Long là dân tộc Việt (người Kinh, chiếm 97%),
dân tộc Khmer (chiếm 2%) và dân tộc Hoa (chiếm 1%).
Các dân tộc sống đoàn kết, có sự đan xen, giao lưu văn
hóa với nhau, tạo nên sắc thái văn hóa phong phú, đa
dạng, vừa mang tính truyền thống, vừa có tính đặc thù.
Các loại hình văn học truyền khẩu, văn học dân gian,
dân ca, hò vè, nói thơ Lục Vân Tiên, hát huê tình, ca tài
tử, cải lương, hát bội... được nhân dân tổ chức trong các
dịp lễ, Tết, hoặc trong các dịp sinh hoạt cộng đồng1.
Con người Vĩnh Long vốn có truyền thống cần cù,
hiếu học. Từ thế kỷ XIX, nơi đây đã nổi danh là vùng
“đất học” phía Nam, là quê hương của nhiều trí thức
yêu nước có công lao, đóng góp lớn đối với sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước2.
Về kinh tế - xã hội: Nằm ở giữa hai con sông lớn
nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long nên đất đai, ruộng
vườn của cả tỉnh Vĩnh Long màu mỡ, trù phú, nước ngọt
quanh năm, khí hậu ôn hòa, ít bị ảnh hưởng của thiên
_________
1. Huyện Vũng Liêm có truyền thống hát bội, đến nay vẫn được
con cháu tiếp nối, giữ gìn nghiệp tổ. Nhiều ca sĩ, nghệ sĩ có tiếng
thời nay xuất thân từ vùng đất này như Nghệ sĩ Nhân dân Thành
Tôn, các Nghệ sĩ Ưu tú Thành Lộc, Thanh Hương, Thanh Loan; đặc
biệt có Nghệ sĩ Nhân dân Út Trà Ôn được tôn vinh là “Đệ nhất
danh ca vọng cổ miền Nam”.
2. Các trí thức tiêu biểu như: Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao
động Trần Đại Nghĩa; Giáo sư, Tiến sĩ Trương Công Trung, Bùi Chí
Hiếu; Giáo sư, Bác sĩ Nguyễn Văn Thủ, v.v..
Chương I: QUÊ HƯƠNG - GIA ĐÌNH - THỜI NIÊN THIẾU...
27
tai, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp, trồng cây ăn
trái và chăn nuôi thủy, hải sản... Tuy nhiên, phần lớn
diện tích ruộng vườn tập trung trong tay một số địa
chủ, còn lại đa số người dân phải cấy mướn, làm thuê,
trở thành những tá điền, bị bóc lột thậm tệ. Ở xã Trung
Hiệp, mảnh đất chôn rau cắt rốn của Phan Văn Hòa,
hầu hết ruộng đất nằm trong tay địa chủ, đại đa số
nhân dân lao động phải làm thuê kiếm sống, vất vả, cực
nhọc mà không đủ cơm ăn hằng ngày.
Vùng đất, con người Vĩnh Long giàu truyền thống
đoàn kết, yêu nước, kiên cường, bất khuất, chống xâm
lược. Dưới thời Nguyễn, tại đây đã diễn ra nhiều cuộc
khởi nghĩa của nông dân chống lại chế độ phong kiến,
chống lại áp bức, cường quyền, trong đó tiêu biểu nhất
là cuộc khởi nghĩa Lạc Hóa (tháng 3-1841).
Lạc Hóa (bao gồm vùng đất Trà Vinh và Mân Thít
xưa), thời các chúa Nguyễn được đặt thành hai phủ.
Năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), phủ Mân Thít đổi làm
phủ Tuân Nghĩa, phủ Trà Vinh đổi làm huyện Trà Vinh,
đặt phủ Lạc Hóa thuộc thành Gia Định. Năm Minh
Mạng thứ 13 (1832) chia hạt, đổi thuộc hạt Vĩnh Long1.
Đầu tháng 3 năm Tân Sửu (1841), quân nổi dậy do
thủ lĩnh Lâm Sâm lãnh đạo đánh chiếm phủ lỵ Lạc
Hóa. Tháng 4 năm Tân Sửu (1841), hơn 3.000 quân nổi
_________
1. Xem Nguyễn Văn Siêu: Đại Việt địa dư toàn biên, Nxb. Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1997.
28
VÕ VĂN KIỆT - TIỂU SỬ
dậy lại vây đánh đồn Nguyệt Lãng và đánh phá nhiều
đồn trại của quân Nguyễn trên bờ sông Trà Vinh; đồng
thời, hơn 2.000 nghĩa quân kéo lên chiếm giữ Giồng Sang1
để ngăn đường tiến của quân Nguyễn theo sông Cổ Chiên
về cứu viện cho huyện lỵ Trà Vinh. Trước tình thế nguy
cấp, Vua Thiệu Trị ra lệnh cho Tham tán Nguyễn Tiến
Lâm phải trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp, đồng thời điều
động đạo quân của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đến hỗ
trợ. Sau một thời gian, lực lượng của nghĩa quân bị thiệt
hại đáng kể, quân triều đình được tăng cường, chia làm
mấy đạo, kéo vào vây chặt và phá vỡ căn cứ...
 








Các ý kiến mới nhất