Tìm kiếm Giáo án
Tuần 19. Vợ chồng A Phủ (trích)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lữ Hùng
Ngày gửi: 15h:13' 14-01-2024
Dung lượng: 60.2 KB
Số lượt tải: 64
Nguồn:
Người gửi: Lữ Hùng
Ngày gửi: 15h:13' 14-01-2024
Dung lượng: 60.2 KB
Số lượt tải: 64
Số lượt thích:
0 người
Tổ ngữ văn
VỢ CHỒNG A PHỦ – Tô Hoài
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
- Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông sớm
bước vào đời, vào nghề văn và cũng sớm tham gia hoạt động cách mạng.
- Ông viết ở nhiều thể loại và thể loại nào cũng gặt hái được những thành công rực rỡ.
Đặc biệt là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống và con người miền núi Tây Bắc, bởi
ông rất am hiểu về phong tục tập quán cũng như văn hóa nhiều vùng miền khác nhau.
- Tô Hoài luôn có những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật, đó là một
trong những yếu tố góp phần làm nên sự hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa lâu bền ở tác phẩm của
ông đối với đời sống tinh thần của người đọc nhiều thế hệ.
2. Tác phẩm:
- Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được rút trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm là
kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế
dài 8 tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu du kích trên núi cao đến những bản
làng mới giải phóng của nhà văn.
- Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo
miền núi dưới ách áp bức, thống trị dã man của bọn chúa đất phong kiến, vừa là một bài ca về
sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người.
- Truyện có hai phần: Phần đầu kể về cuộc sống đầy tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng
Ngài – nơi bọn thống lý ngự trị độc tôn, người dân cực khổ có đấu tranh nhưng chỉ là đấu tranh
tự phát (chính là đoạn trích trong chương trình Ngữ văn 12); phần sau là thời kì ở Phiềng Sa –
nơi thực dân là kẻ thống trị cao nhất, con người đấu tranh tự giác để tự giải phóng đời mình,
dưới sự giác ngộ và lãnh đạo của Đảng.
3. Lời dẫn:
Đến với “Vợ chồng A Phủ” chúng ta không thể tìm được những cá tính đặc sắc trong
nhân vật như Xuân tóc đỏ trong “Số đỏ”, Tràng trong “Vợ nhặt” hay Chí Phèo trong truyện
cùng tên của nhà văn Nam Cao... Bởi đó không phải là chủ đích của Tô Hoài khi viết thiên
truyện này. Nhà văn muốn dành sự quan tâm cho một vấn đề khác, cấp bách hơn: đó là“vấn đề
số phận” – số phận của con người, số phận của cả một cộng đồng người nông dân lao động
dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến trên những triền núi Tây Bắc heo hút.
Thiên truyện đặc sắc này gồm 2 phần: nửa đầu là ở Hồng Ngài, nửa sau là ở Phiềng Sa.
Đứng về mặt biểu hiện chủ đề, phần ở Phiềng Sa hết sức cần thiết để mang đến cho tác phẩm
màu sắc và hơi thở của thời đại, là “quá trình phát triển cách mạng” khi Mị và A Phủ gặp cán
bộ A Châu rồi trở thành du kích. Thế nhưng, xét trên vẻ đẹp văn chương thì nửa Phiềng Sa
nhất định phải chịu nhường nửa ở Hồng Ngài. Chính nửa ở Hồng Ngài là nơi tập trung những
tinh hoa của ngòi bút Tô Hoài. Nó không chỉ mang hương sắc lạ về cảnh trí, con người mà là
sự kết đọng tình cảm nhân đạo sâu sắc, khả năng phân tích diễn biến tâm lý tinh tế của nhà
văn. Điều mà sau này ông gọi là “một chất thơ vời vợi bay lên từ cảnh vật và nhân vật của núi
rừng thơ mộng Tây Bắc thân yêu”.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Mị
1.1. Người con gái xinh đẹp, tài năng, giàu nhân phẩm (trước khi bị bắt về làm con
dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra)
- Trẻ trung, xinh đẹp:
+ “Biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”
+ “Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị.”
- Thổi sáo giỏi “thổi lá cũng hay như thổi sáo.”
Trang 1
Tổ ngữ văn
- Giàu nhân phẩm:
+ Biết nhà thống lí muốn bắt mình về làm con dâu để gạt nợ, Mị kiên quyết từ
chối và xin bố: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay
cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu” chăm chỉ, siêng năng, yêu lao động, yêu tự do,
giàu lòng tự trọng.
+ Bị A Sử bắt làm vợ, Mị đã nghĩ đến ăn lá ngón tự tử để giải thoát sức phản
kháng quyết liệt, mạnh mẽ, yêu tự do không thể chấp nhận cuộc sống mà như chết.
+ Vì thương bố: “Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày
chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ cho người ta, tao thì ốm yếu quá rồi.
Không được, con ơi!” Mị không đành lòng chết Mị cam chịu, chấp nhận cuộc sống nô lệ
Tấm lòng hiếu thảo. (liên hệ so sánh với hành động bán mình cứu cha và em của Thuý
Kiều)
=> Cô gái giàu phẩm hạnh, xứng đáng được yêu, được hưởng hạnh phúc. Thực tế là Mị cũng
đã có người yêu nhưng bị những hủ tục, bất công, tàn bạo tước đoạt tình yêu đầu đời và quyền
được tự do, quyền được hạnh phúc.
1.2. Mị trong thân phận là con dâu gạt nợ nhà thống lí – cuộc sống thống khổ, bất
hạnh
a. Nguyên nhân Mị trở thành con dâu nhà thống lí
Món nợ truyền kiếp từ đời bố mẹ: Bố mẹ lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới, phải đến vay
nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra. Mỗi năm đem nộp lãi một nương ngô. Đến tận khi hai vợ
chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết cũng chưa trả hết nợ Mị trở
thành con nợ bị A Sử lừa cướp về bị cúng trình ma thống lí con dâu con nợ chung
thân.
Mị là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi, bị cường quyền và thần quyền tước quyền
tự do và hạnh phúc cá nhân: mặc dù không đồng ý nhưng cô vẫn ngang nhiên bị bắt (cường
quyền) về “cúng trình ma” nhà thống lý (thần quyền) và không thể thoát ra được.
b. Phản ứng lúc đầu của Mị khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí
- “Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc” phản động thụ động nhưng tất
yếu.
- Định ăn lá ngón tự tử tìm đến cái chết như một sự giải thoát phản ứng tiêu cực
nhưng tiềm ẩn sức phản kháng mãnh liệt vì Mị muốn thà được chết như một con người còn
hơn là phải sống như một con vật.
- Vì chữ hiếu, Mị phải quay lại cuộc sống tủi cực tại nhà thống lí.
c. Chịu đựng những đày đoạ thống khổ về thể xác
- Bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn:
+ Trở thành công cụ lao động, không có cảm xúc, làm việc mọi lúc, mọi nơi: “Lúc nào
cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy
cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.
+ Bị bóc lột sức lao động đến tận cùng, mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng phải làm đi làm
những việc giống nhau không ngày ngơi nghỉ: “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm
thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào
cũng gài một bó đay trong cánh tay để tướt thành sợi”.
+ Thực chất là một nô lệ, thậm chí còn không bằng con trâu, con ngựa trong nhà thống
lí bởi “Con ngựa, con trâu còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà
con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.”
- Bị đánh đập, hành hạ dã man: Mị và A Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải sống
với nhau. A Sử đối với Mị không phải như một người chồng với vợ mà như đối với một nô lệ:
+ Ngày Tết, Mị không được đi chơi, bị A Sử trói đứng vào cột trong buồng tối bằng cả
thúng dây đay, bằng cả tóc của Mị và bỏ đi chơi không màng Mị sống hay chết.
Trang 2
Tổ ngữ văn
+ Thức suốt đêm ngồi xoa thuốc cho chồng, mệt mỏi, gục đầu thiếp đi thì bị chồng
“đạp chân vào mặt”.
+ Những đêm mùa đông lạnh, Mị trở dậy, sưởi lửa. A Sử chợt về thấy Mị thì lại đánh
Mị “ngã quay xuống của bếp”
c. Mị hoàn toàn bị tê liệt về tinh thần
- Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Mất hết ý thức của sự phản kháng, sống
cam chịu, nhẫn nhục Mị chỉ còn là cái xác trống rỗng, vô hồn.
- Cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào
trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng ngục tù giam hãm tinh
thần, tuổi thanh xuân và cả cuộc đời Mị Mị mất hết ý niệm về cuộc sống, về thời gian. Mị
chỉ đang tồn tại chứ không phải đang sống.
Nguyên nhân:
- “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu,
mình cũng là con ngựa…” Ở lâu trong cái khổ, Mị không còn cảm nhận được nỗi khổ của
chính mình.
- Mị bị bắt về và bị cúng trình ma nhà thống lý Pá Tra, Mĩ nghĩ “nó đã bắt ta về trình
ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…” Mị bị trói chặt bởi sức mạnh
của thần quyền và bị vùi dập bởi sức mạnh của cường quyền nên Mị chưa thể tự giải thoát cho
mình mà chỉ có thể cam chịu cuộc sống chết dần, chết mòn.
Sơ kết: Nếu như trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, chị Dậu đã bị bần cùng hoá. Chí
Phèo của Nam Cao thị tha hoá và lưu manh hoá. Đó là những hình tượng điển hình cho bi kịch
của người nông dân làng quê Việt Nam trước CMTT thì Mị lại chịu nỗi thống khổ bị nô lệ hoá,
bị sức mạnh vô hình và hữu hình của chế độ thống trị miền núi huỷ diệt sức xuân và sức sống.
1.3. Sức sống tiềm tàng (Sự hồi sinh của tâm hồn Mị trong đêm tình mùa xuân)
a. Những yếu tố tác động từ ngoại cảnh
- Cảnh sắc mùa xuân:
+ Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa.
+ Gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội.
+ Những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ.
+ Trai gái, trẻ con … tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.
Cảnh sắc mùa xuân rực rỡ, đầy sức sống, rộn ràng, náo nức.
- Tiếng sáo rủ bạn vang vọng khắp núi đồi, bản làng tiếng sáo của tuổi trẻ, tiếng sáo
gợi ước mơ về tình yêu và hạnh phúc.
- Hơi men của rượu giúp Mị quên đi thực tại, sống lại hồi ức trong quá khứ.
=> Nhà văn đã khéo léo đặt nhân vật vào một không gian, thời gian đặc biệt từng chút một
làm sống dậy một tâm hồn chai sạn, nguội lạnh từ lâu.
b. Diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân
- Tiếng sáo rủ bạn đi chơi lấp ló ngoài đầu núi Mị nghe tiếng sáo vọng lại, “thiết
tha bổi hổi” (trạng thái của tiếng sáo và cũng chính là trạng thái tâm hồn Mị đang được hồi
sinh) Mị nhẩm thầm bài hát:
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Không biết bao lâu Mị đã sống trong đau đớn, tủi nhục của một nô lệ như một cái xác vô
hồn, tiếng sáo như một dòng suối diệu kỳ tưới mát và hồi sinh tâm hồn tưởng chừng đã chết
của Mị. Người con gái bao năm câm lặng, lùi lũi như con rùa trong xó cửa giờ đã lại cất tiếng
nhẩm thầm lời bài hát gọi bạn tình quen thuộc của tuổi xuân xa xôi, lời bài hát tưởng chừng Mị
đã quên từ lâu hoặc là Mị chưa từng quên, chỉ là Mị đã chôn chặt nó dưới tầng tầng lớp lớp
Trang 3
Tổ ngữ văn
những nỗi đau. Lòng Mị thiết tha, bổi hổi – những cảm xúc có lẽ lâu lắm rồi Mị chưa từng cảm
nhận được Tiếng sáo là tiếng gọi của tự do, của khát vọng về tình yêu lay động mạnh mẽ
tâm hồn Mị, đánh thức quá khứ và khát vọng tưởng chừng đã bị lãng quên từ lâu.
- Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát” Cách
uống ấy là sự dồn nén của những ẩn ức, phẫn uất nên Mị uống rượu mà cứ như nuốt cay nuốt
hận vào lòng. Rượu làm Mị say “lịm mặt ngồi đấy” nhưng lòng Mị thì đang “sống về ngày
trước”.
- Men rượu + tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng làm Mị nhớ đến ngày trước:
+ Mị thổi sáo giỏi
+ Mùa xuân, Mị cũng uống rượu bên bếp và thổi sáo. Thổi lá cũng hay như thổi
sáo.
+ Biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.
Sống lại quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc và tự do.
(Liên hệ: 1/ Bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng
trăng bóng xế khuyết chưa tròn Người phụ nữ cô đơn, bẽ bàng mượn rượu để tìm quên
nhưng lại chìm sâu hơn vào bế tắc và cái vòng lẩn quẩn “say lại tỉnh”. 2/ Chí Phèo sau khi bị
Thị Nở cự tuyệt, hắn muốn uống rượu cho thật say để trả thù bà cô Thị Nở, nhưng “càng uống
lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn!” Men rượu lại càng làm Chí Phèo thấm thía hơn
bao giờ hết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình.)
- Rượu tan, như một thói quen, Mị quay trở về với căn buồng của mình bởi Mị đã tỉnh
táo, đã quay về với hiện thực phũ phàng: “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết”, “Mị
cũng chẳng buồn đi”.
- Nhưng sự tủi nhục và căn buồng như địa ngục trần gian ấy không thể ngăn được lòng
yêu tự do của Mị. Bởi: “Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng
như những đêm tết ngày trước” Những từ ngữ như “phơi phới”, “đột nhiên vui sướng” …
như diễn tả tận sâu thẳm niềm khao khát và sức sống đang bùng dậy mãnh liệt của Mị Mị
nhận ra “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi” Câu văn sử dụng phép điệp: trẻ lắm,
còn trẻ,…kết hợp kiểu câu đơn ngắn làm nhịp điệu câu văn dồn dập, góp phần cho thấy tình
yêu tự do và ý thức về bản thân chưa bao giờ bị dập tắt trong Mị. Nó giống như hòn than âm ỉ
cháy trong lớp tàn tro giờ có dịp bùng cháy.
- Mị lại tủi thân khi nghĩ về A Sử:
+ Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày tết.
+ A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau
“Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại
nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Ngay trong lúc tâm hồn và khát vọng bùng lên
mạnh mẽ thì Mị lại nghĩ đến cái chết tưởng chừng nghịch lí nhưng thực tế lại hợp lí khi
linh hồn đã trở về, Mị không chỉ ý thức được giá trị của tinh thần mà còn ý thức được hoàn
cảnh sống nghiệt ngã Muốn chết cũng là sự thể hiện rất mãnh liệt sức sống tiềm tàng ẩn
chứa trong tâm hồn cô gái Mèo.
- Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:
“Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi…”
Tiếng sáo đầy mê hoặc, quyến rũ, như lôi kéo Mị, đưa Mị từ vực sâu của tuyệt vọng thăng
hoa trở lại cùng khát vọng tự do thôi thúc Mị biến ước vọng thành hành động:
+ Đến góc nhà, “lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”
phải chăng Mị muốn xua tan đi cái đen tối của thực tại để thắp sáng lên quãng đời còn lại của
mình Tâm hồn Mị đang bừng sáng lên, đầy hy vọng. “ Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi
chơi”.
+ “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa…” sự tinh tế trong miêu tả tâm
Trang 4
Tổ ngữ văn
lí nhân vật: một người con gái sau bao nhiêu vùi dập, đày đoạ về cả thể xác và tinh thần cũng
không mất đi bản năng đầy nữ tính Tâm hồn người còn gái trẻ đã hoàn toàn hồi sinh trong
thể xác héo mòn hành động này là điểm nhấn tinh tế mà sâu sắc trong lần hồi sinh này của
Mị.
Câu văn được ngắt bởi nhiều dấu phẩy, nhịp gấp, nhiều động từ được huy động: lấy, xắn,
bỏ, đi chơi, quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa, rút thêm cái áo… làm cho những hành động
của Mị trở nên mạnh mẽ, cương quyết, táo bạo. Đó là lúc ngọn lửa khao khát tự do đang cháy
lên trong Mị, bất chấp sự hiện diện của A Sử. Trong đầu Mị, giờ chỉ đang rập rờn tiếng sáo.
Giờ đây, bóng đêm của cường quyền bạo ngược và thần quyền đã không thể nào vùi dập được
Mị. Bởi khát vọng tự do trong Mị đang lớn hơn tất cả mọi nỗi sợ hãi.
- A Sử trói đứng lấy Mị: lấy thắt lưng trói hai tay Mị, lấy cả một thúng sợi đay trói đứng
Mị vào cột, quấn luôn tóc Mị lên cột làm Mị “không cúi, không nghiêng đầu được nữa”.
+ Dù thể xác bị trói trong tăm tối và bốn bức tường ngột ngạt, nhưng tâm hồn
vẫn không thôi khát khao tự do: Tiếng sáo vẫn đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám
chơi… Mị như không biết mình bị trói và vùng bước đi cái đau của thể xác kéo Mị trở
về với thực tại phũ phàng.
+ Tiếng sáo biến mất, chỉ còn “tiếng chân ngựa đạp vào vách” Tiếng sáo là
âm thanh của giấc mơ; tiếng chân ngựa là âm thanh đau buồn của thực tại. Thực tại đập vỡ
giấc mộng, làm tiêu tan tiếng sáo. Âm thanh tiếng chân ngựa đánh thức Mị, đập vỡ cả giấc mơ
của Mị, kéo Mị từ thiên đường trở về địa ngục. Nỗi đau thể xác ngay lập tức chuyển hoá thành
nỗi đau tinh thần vì Mị chợt nhận ra: “Mình không bằng con ngựa”.
+ Suốt cả đêm, trong hơi rượu và tiếng sáo, Mị đi về giữa hai miền mê – tỉnh.
+ Buổi sáng hôm sau, Mị bàng hoàng tỉnh, nhớ đến cái thảm cảnh chung của
những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan “một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con
ngựa của chồng”.
+ Chợt nhớ câu chuyện đời trước trong nhà thống lí Pá Tra: một người vợ đã bị
chồng trói cho đến chết “Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết” Mị sợ
chết nghĩa là Mị vẫn khao khát được sống.
Sơ kết: Cuộc trỗi dậy thứ nhất của Mị không thành, Mị không thoát khỏi cảnh ngục tù
trần gian nhưng ít ra Mị cũng đã sống lại những thời khắc tươi đẹp của tuổi trẻ. Sức sống của
Mị, sự hồi sinh của Mị được đặt trong một thử thách khắc nghiệt, một hiện thực phũ phàng
nhưng qua đó lại càng khẳng định một chân lí rằng: sức sống của con người dù bị dẫm đạp, bị
trói chặt nhưng nó không chết mà luôn âm ỉ cháy, chỉ gặp dịp là bùng lên mạnh mẽ. Đúng như
Lỗ Tấn đã từng nói: “Một tia lửa nhỏ hôm nay báo hiệu đám cháy ngày mai”. Hành động của
Mị tuy bột phát nhưng sẽ hứa hẹn một tương lai bừng cháy ở phía trước. Đây cũng chính là giá
trị nhân đạo sâu sắc của nhà văn Tô Hoài.
1.4. Sức phản kháng mạnh mẽ (Đêm mùa đông giải cứu cho A Phủ và tự giải
phóng cho chính mình)
a. Phản ứng lúc đầu của Mị khi thấy A Phủ bị trói đứng vào cột
- Sau đêm tình mùa xuân, Mị trở lại với kiếp sống chai sạn, băng giá, tê liệt về cả thể
xác lẫn tinh thần. Tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện. Kể cả lúc ra sưởi lửa, bị “A Sử
đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp” nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi lửa như đêm trước. Mị chỉ
còn biết, còn sống với ngọn lửa. Mị vô cảm với chính bản thân mình, không còn cảm
nhận được nỗi đau đớn của thể xác, không còn cảm nhận được sự nhục nhã về tinh thần. Thể
xác bị chà đạp, tinh thần bị lăng nhục, nhưng Mị vẫn dửng dưng, không tức giận, tủi hờn hay
sợ hãi.
- Mị vô cảm luôn với cả sự khốn khổ và bi kịch của người khác:
+ Mấy đêm thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn “thản nhiên” thổi lửa, hơ tay.
+ Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, “cũng thế thôi”
Trang 5
Tổ ngữ văn
Các từ ngữ “thản nhiên”, “cũng thế thôi” cho thấy sự thản nhiên, vô tâm đến lạnh
lùng, vô cảm đến tàn nhẫn của Mị. Bi kịch tột cùng của Mị là cô đã đánh mất luôn cả tình
thương, lòng nhân ái của một con người.
b. Phản ứng lúc sau của Mị (từ khi thấy dòng nước mắt của A Phủ)
- Ngọn lửa sáng lên, Mị lé mắt trông sang và thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò
xuống hai hõm má đã xám đen lại” Dòng nước mắt ấy là nước mắt của kẻ đang hấp hối,
nước mắt của một con người đang bất lực, tuyệt vọng trước số phận Dòng nước mắt chạm
vào và làm tan chảy trái tim băng giá của Mị và đánh thức tình thương trong Mị mà bắt đầu từ
sự đồng cảm: “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia.
Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được”. Mị cảm
nhận nỗi đau của A Phủ bằng nỗi đau của chính mình.
- Đoạn độc thoại cho thấy rõ những nhận thức vô cùng tỉnh táo, lý trí của Mị:
+ “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó
bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này” Lần đầu, Mị nhìn thấy rõ và
mạnh mẽ kết án: “Chúng nó thật độc ác”.
+ Mị nhận thức rõ kết cục tất yếu của số phận A Phủ trước sự tàn ác của cha con
nhà thống: “Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”.
+ Mị đặt mình và A Phủ lên bàn cân số phận:
++ Mị là “thân đàn bà”, “đã bị bắt về trình mà nhà nó rồi thì chỉ còn biết
đợi ngày rũ xương ở đây thôi” bị sức mạnh vô hình của thần quyền trói buộc, Mị chỉ có thể
cam chịu và chấp nhận số phận.
++ Nhưng Mị lại nhận thức được việc A Phủ phải chết là một điều phi lý:
“Người kia việc gì mà phải chết thế”
Trên bàn cân số phận, Mị nghiêng hẳn phần sống về cho A Phủ tình thương, lòng nhân
ái bao la của người con gái vùng cao “Đám than đã vạc hẳn lửa” nhưng tâm hồn Mị thì
bừng sống dậy mãnh mẽ, quyết liệt.
- “Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi …
Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này ,
làm sao Mị cũng không thấy sợ…” Mị đã từng sợ chết (trong đêm tình mùa xuân), nhưng
bây giờ Mị không sợ nữa, không phải bởi vì Mị không muốn sống mà vì lòng thương người
trong Mị đã lấn át tất cả mọi nỗi sợ hãi.
- Mị cẩn thận nhưng dứt khoát: “Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây” giải
thoát cho A Phủ, giục A Phủ bằng một chất giọng hốt hoảng, thì thào nhưng quyết liệt “Đi
ngay…”
- Đối mặt với hiểm nguy Mị cũng hốt hoảng “Mị đứng lặng trong bóng tối” Câu văn
tách thành một dòng riêng nằm chơi vơi ở giữa những câu chữ ngổn ngang. Theo “nguyên lý
tảng băng trôi” – hình ảnh Mị đứng lặng chỉ là phần nổi còn ẩn sau những câu chữ và hành
động ấy của Mị là cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội: sống hay là chết; tự do hay nô lệ; đi hay ở?
Cuối cùng tiếng gọi tự do đã vẫy gọi Mị.
- Trong giây phút đối diện với bản án tử hình ấy lòng ham sống mãnh liệt đã thúc giục
Mị chạy theo A Phủ. Đoạn văn tiếp theo miêu tả hành động Mị toàn những động từ mạnh:
“vụt chạy – băng đi – đuổi kịp – đã lăn – chạy – chạy xuống – nói – thở”. Những động từ
mạnh ấy đã giúp Tô Hoài nhìn thấy được nội lực và sức phản kháng mạnh mẽ cháy bùng
trong Mị. Cuối cùng Mị đã có sự lựa chọn đúng đắn khi mà khát vọng sống trỗi dậy thật
mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, cũng có nghĩa là chạy thoát cuộc đời nô lệ, đến với ánh
sáng của tự do. Bước chân Mị như đạp đổ gông xiềng thần quyền lẫn cường quyền của bọn
chúa đất phong kiến bao năm qua đè nặng lên Mị. Mị đã nói trong cơn gió thốc “A Phủ cho tôi
đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là câu nói thể hiện lòng ham sống, khát vọng tự do đến mãnh liệt
trong Mị.
Trang 6
Tổ ngữ văn
Sơ kết: Từ trạng thái vô cảm, Mị đã đồng cảm với nỗi đau thân phận của A Phủ. Từ
đồng cảm, Mị đã đi đến hành động táo bạo, quyết liệt – “cởi trói cho A Phủ”. Đây không phải
là hành động mang tính bản năng. Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy của ký ức, khát vọng sống tự
do, đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu. Mị giải thoát cho A Phủ và giải thoát cho
cả bản thân mình! Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng
khi người con gái yếu ớt dám chống lại cả cường quyền và thần quyền. Đó chính là sức phản
kháng mạnh mẽ của nhân vật và cũng là sự mở đường của nhà văn đưa nhân vật tới chân trời
mới.
Thành công của tác giả Tô Hoài trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Mị đó
là: Thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng nhân vật Mị đó là:
- Nhà văn có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo nhất là những diễn biến tâm trạng
đầy phức tạp của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ.
- Nghệ thuật trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự
nhiên đầy ấn tượng; kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo.
- Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm
chất thơ…nhà văn đã tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; cách miêu tả diễn biến tâm lí
nhân vật tài tình, hợp lí tạo nên sự thay đổi số phận nhân vật một cách thuyết phục.
2. Nhân vật A Phủ
2.1 Cuộc đời đau thương, bất hạnh
a. Lúc nhỏ:
- Mồ côi, không có người thân: Anh, em, bố mẹ chết vì bệnh đậu mùa. Còn sót lại có
một mình A Phủ.
- Bị bắt đem bán cho người Thái dưới cánh đồng thấp.
- Chỉ mới 10 tuổi nhưng A Phủ đã gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp nên
trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài, sống nghèo khổ, tự lập,…
b. Khi trưởng thành:
Tập tục khắc nghiệt, A Phủ không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc nên A Phủ
không lấy nổi vợ sự bất công, vô lý của XH phong kiến vùng cao.
c. Cuộc sống nô lệ trong nhà thống lí:
- Nguyên nhân: Đánh A Sử vì nó đã phá đám những cuộc chơi và gây sự với nhóm
trai làng của A Phủ. Sau cảnh xử kiện quái gở:
+ Kẻ đi kiện là quan tòa.
+ Ngập tràn khói thuốc phiện: “Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút
xanh như khói bếp”, “Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn ra các lỗ của sổ”, “Ngoài nhà vẫn rên
lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kép dài, giữa tiếng người khóc,
tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch”,…
+ Người bị kiện chỉ quỳ chịu tội, chịu đánh đập hết lượt này đến lượt khác,
không được nói lời nào.
Kết quả: A Phủ bị phạt vạ 100 bạc trắng (nộp vạ cho người bị đánh, nộp cho bọn quan làng
và cả người đi gọi quan làng về xử kiện, tiền cho bọn chúng hút thuốc, một con lợn để quan
làng ăn vạ) thống lí cho vay chưa có tiền trả thì đời A Phủ, đời con, đời cháu A Phủ làm
con trâu, con ngựa cho nhà thống lí Trở thành nạn nhân của chính sách cho vay nặng lãi
cùng với sức mạnh bạo ngược của cường quyền A Phủ trở thành nô lệ chung thân ở nhà
thống lí.
- Cuộc sống nô lệ:
+ Bị bóc lột sức lao động nặng nề: Quanh năm, suốt tháng một thân một mình, A
Phủ bôn ba rong ruổi ngoài gò, ngoài rừng. Anh làm phăng phăng tất cả mọi việc: đốt rừng,
cuốc nương, cày nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa,…
Trang 7
Tổ ngữ văn
+ Để hổ bắt mất một con bò, bị trói đứng giữa mùa đông rét buốt, có nguy cơ
“chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”.
Cuộc sống khổ cực, đau thương của A Phủ đã lên án bọn thống trị dã man, tàn bạo; thể hiện
nỗi đau xót của nhà văn trước số phận con người.
2.2. Những phẩm chất tốt đẹp
a. A Phủ có đức tính hiền lành, chăm chỉ, có lòng lạc quan, yêu đời.
- Chăm chỉ, cần cù lao động, thạo đủ mọi nghề: biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày
giỏi, đi săn bò tót rất bạo.
- A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, đương tuổi sức lực, chạy nhanh như ngựa.
- Con gái trong làng nhiều người mê và ao ước: “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được
con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu”.
- Lạc quan, yêu đời: Ngày Tết, chẳng có quần áo mới, chỉ có độc một chiếc vòng vía,
cũng chẳng có cơ hội lấy được vợ, song anh vẫn đem kèn, sáo, con quay, quả pao, quả yến đi
chơi xuân, tìm người yêu.
b. A Phủ có tính cách gan góc, táo bạo, mạnh mẽ.
- Từ khi còn nhỏ, A Phủ đã bộc lộ là một người gan góc, mạnh mẽ, yêu tự do: Khi bị
bán, tìm cách bỏ trốn, một mình sống tự lập và trưởng thành.
- A Phủ đánh A Sử, con trai thống lí Pá Tra. Đây là một hành động động trời, bởi ở
vùng núi cao, bọn thống lí Pá Tra là một thứ trời con, con trai của chúng không ai dám động
đến. Vậy mà A Phủ không sợ. Với anh, A Sử chỉ là đứa phá đám cuộc chơi, cần phải đánh.
Anh đã vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. “Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó
vừa kịp bưng tay lên, A Phủ dã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh
tới tấp.”
- Bị tra tấn, đánh đập dã man nhưng A Phủ không hề van xin “A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ
im như cái tượng đá” gan góc, kiên cường.
- A Phủ không sợ cường quyền, bạo lực, không sợ sự uy hiếp của bất cứ ai, không sợ cả
cái chết. Khi đi rừng, mải mê bẫy nhím để hổ ăn thịt mất bò, anh điềm nhiên vác nửa con bò hổ
ăn dở về, nói chuyện đi bắt hổ thản nhiên như coi đó là một việc dễ dàng:
+ “Tôi về lấy súng. Thế nào cũng bắn được. Con hổ này to lắm”
+ “Tôi được con hổ ấy còn nhiều tiền hơn con bò”
Nhưng A Phủ đã không được đi. Anh phải lẳng lặng đi lấy cọc và dây mây rồi đóng cọc
để người ta trói đứng mình đến chết thế mạng con vật bị mất.
c. A Phủ có sức sống mãnh liệt
- Bị trói đứng, A Phủ không cam chịu: “Đến đêm, A Phủ cúi xuống nhai đứt hai vòng
dây mây, nhích dãn dây trói một bên tay” hành động tự phát của kẻ thế cô nhưng phản ánh
tinh thần mạnh mẽ, kiên cường.
- Bị trói đứng suốt mấy ngày đêm, đau đớn, không ăn, không uống giữa trời mùa đông,
A Phủ đã đứng bên bờ vực của cái chết, hai hõm má đã xám đen lại, chỉ còn lại dòng nước mắt
tuyệt vọng lặng lẽ chảy xuống. Sự bất lực trước hoàn cảnh, là tột đỉnh nỗi đau về thể xác và
tinh thần mà người dân vùng cao phải gánh chịu dưới ách thống trị tàn bạo của bọn chúa đất.
Đồng thời là liều thuốc đánh thức tâm hồn đã chết của Mị, từ dửng dưng vô cảm Mị quyết cắt
dây cởi trói cứu A Phủ.
- Khi được Mị cắt dây trói, dù chân khuỵa xuống, không bước nổi nhưng lòng ham sống
mãnh liệt đã cho A Phủ sức mạnh “quật sức vùng lên, chạy” (sau đó là với Mị cùng đỡ nhau
lao đi) để tìm lấy sự sống, tự do, ánh sáng cho đời mình.
Sơ kết: Tô Hoài đã miêu tả nhân vật A Phủ bằng ngòi bút hiện thực, miêu tả nhân vật
thiên về hành động, nội tâm ít được bộc lộ. Sự vùng lên tự giải thoát cho chính mình của A
Phủ tiêu biểu cho sự vươn lên của đồng bào các dân tộc vùng núi. Tuy đó chỉ là sự tự phát
nhưng nó lại là tiền đề cho sự vươn tới ánh sáng của Đảng ở chặng đường sau của anh.
Trang 8
Tổ ngữ văn
3. Nhân vật cha con thống lý Pá Tra, A Sử - sự hiện thân của cái ác, tay sai của
bọn thực dân phong kiến miền núi.
3.1. Lai lịch: nhiều đời làm thống
lý, uy quyền nhất vùng
- Từ đời bố Pá Tra đã làm thống lý, đến Pa Tra bây giờ cũng làm thống lý – người cai
quản một vùng bản làng miền núi của người dân tộc Mèo.
- Uy quyền nhất đất Hồng Ngài: “Nhà ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về
bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương,
nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng”.
3.2. Tàn ác, tham lam, lợi dụng những hủ tục để bóc lột, khống chế người dân làm
giàu và làm tăng thế lực
a. Cho vay nặng lãi: truyền từ đời bố thống lý Pá Tra đến đời
thống lý Pá Tra
- Món nợ từ đời bố mẹ Mị vay để lấy nhau, mỗi năm nộp lãi một nương ngô, đến khi
mẹ Mị mất cũng chưa trả hết nợ.
- Thống lý Pá Tra bắt phạt vạ A Phủ 100 lạng bạc trắng bằng cách cho vay.
- Thu nợ một cách dã man:
+ Bắt người để gạt nợ: bắt Mị về làm dâu gạt nợ: “Cho tao đứa con gái này về
làm dâu thì tao xóa hết nợ cho”.
+ Bắt người đi ở để trừ nợ: bắt A Phủ làm nô lệ để trừ nợ:“Bao giờ
có tiền
giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao.
Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”
b. Dùng những hủ tục: cường quyền, thần quyền để cai trị người dân nghèo
- Cường quyền (dùng quyền lực của thống lý bắt người một cách vô lý): mặc cho Mị
không
đồng ý về làm dâu nhưng vẫn ngang nhiên bắt cô về cúng trình ma; A Phủ dù đánh
A Sử
do chính bọn A Sử gây sự trước, vẫn ngang nhiên bắt về xử phạt.
- Thần quyền (dùng hủ tục cúng trình ma): gọi con ma về nhận mặt con dâu gạt nợ;
nhận mặt người nô lệ trừ nợ.
c. Bóc lột sức lao động một cách triệt để; tàn ác, vô
nhân tính
- Đàn bà thì luôn tay luôn chân, thân phận không bằng kiếp con trâu, con ngựa. Đàn
ông thì phải làm những công việc nguy hiểm.
- Trói người, đánh người bất cứ đâu, bất cứ khi nào và có khi không vì lý do gì: Mị bị
trói đứng bằng dây đay; A Phủ
bị trói bằng dây mây; người đàn bà đời trước cũng bị trói
đứng đến chết.
Sơ kết: Qua nhân vật cha con thống
lý, nhà văn Tô Hoài đã vạch trần bộ mặt tàn ác
của giai cấp thống trị miền núi lúc ấy giờ, góp phần làm nên giá trị hiện thực của tác phẩm
thông qua
đoạn trích.
4. Giá trị nhân đạo của tác phẩm
Giải thích khái niệm: “Giá trị nhân đạo” là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học
chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người,
đó là sự nâng niu,
trân quý những nét đẹp trong tâm hồn con người và cũng là lòng tin
vào khả ...
VỢ CHỒNG A PHỦ – Tô Hoài
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả:
- Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông sớm
bước vào đời, vào nghề văn và cũng sớm tham gia hoạt động cách mạng.
- Ông viết ở nhiều thể loại và thể loại nào cũng gặt hái được những thành công rực rỡ.
Đặc biệt là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống và con người miền núi Tây Bắc, bởi
ông rất am hiểu về phong tục tập quán cũng như văn hóa nhiều vùng miền khác nhau.
- Tô Hoài luôn có những cố gắng tìm tòi, khám phá trong sáng tạo nghệ thuật, đó là một
trong những yếu tố góp phần làm nên sự hấp dẫn, sức sống và ý nghĩa lâu bền ở tác phẩm của
ông đối với đời sống tinh thần của người đọc nhiều thế hệ.
2. Tác phẩm:
- Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” được rút trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm là
kết quả của chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952. Đây là chuyến đi thực tế
dài 8 tháng sống với đồng bào các dân tộc thiểu số từ khu du kích trên núi cao đến những bản
làng mới giải phóng của nhà văn.
- Tác phẩm vừa là một bức tranh chân thực về số phận bi thảm của người dân nghèo
miền núi dưới ách áp bức, thống trị dã man của bọn chúa đất phong kiến, vừa là một bài ca về
sức sống và khát vọng tự do, hạnh phúc của con người.
- Truyện có hai phần: Phần đầu kể về cuộc sống đầy tủi nhục của Mị và A Phủ ở Hồng
Ngài – nơi bọn thống lý ngự trị độc tôn, người dân cực khổ có đấu tranh nhưng chỉ là đấu tranh
tự phát (chính là đoạn trích trong chương trình Ngữ văn 12); phần sau là thời kì ở Phiềng Sa –
nơi thực dân là kẻ thống trị cao nhất, con người đấu tranh tự giác để tự giải phóng đời mình,
dưới sự giác ngộ và lãnh đạo của Đảng.
3. Lời dẫn:
Đến với “Vợ chồng A Phủ” chúng ta không thể tìm được những cá tính đặc sắc trong
nhân vật như Xuân tóc đỏ trong “Số đỏ”, Tràng trong “Vợ nhặt” hay Chí Phèo trong truyện
cùng tên của nhà văn Nam Cao... Bởi đó không phải là chủ đích của Tô Hoài khi viết thiên
truyện này. Nhà văn muốn dành sự quan tâm cho một vấn đề khác, cấp bách hơn: đó là“vấn đề
số phận” – số phận của con người, số phận của cả một cộng đồng người nông dân lao động
dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến trên những triền núi Tây Bắc heo hút.
Thiên truyện đặc sắc này gồm 2 phần: nửa đầu là ở Hồng Ngài, nửa sau là ở Phiềng Sa.
Đứng về mặt biểu hiện chủ đề, phần ở Phiềng Sa hết sức cần thiết để mang đến cho tác phẩm
màu sắc và hơi thở của thời đại, là “quá trình phát triển cách mạng” khi Mị và A Phủ gặp cán
bộ A Châu rồi trở thành du kích. Thế nhưng, xét trên vẻ đẹp văn chương thì nửa Phiềng Sa
nhất định phải chịu nhường nửa ở Hồng Ngài. Chính nửa ở Hồng Ngài là nơi tập trung những
tinh hoa của ngòi bút Tô Hoài. Nó không chỉ mang hương sắc lạ về cảnh trí, con người mà là
sự kết đọng tình cảm nhân đạo sâu sắc, khả năng phân tích diễn biến tâm lý tinh tế của nhà
văn. Điều mà sau này ông gọi là “một chất thơ vời vợi bay lên từ cảnh vật và nhân vật của núi
rừng thơ mộng Tây Bắc thân yêu”.
II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
1. Nhân vật Mị
1.1. Người con gái xinh đẹp, tài năng, giàu nhân phẩm (trước khi bị bắt về làm con
dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra)
- Trẻ trung, xinh đẹp:
+ “Biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”
+ “Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị.”
- Thổi sáo giỏi “thổi lá cũng hay như thổi sáo.”
Trang 1
Tổ ngữ văn
- Giàu nhân phẩm:
+ Biết nhà thống lí muốn bắt mình về làm con dâu để gạt nợ, Mị kiên quyết từ
chối và xin bố: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay
cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu” chăm chỉ, siêng năng, yêu lao động, yêu tự do,
giàu lòng tự trọng.
+ Bị A Sử bắt làm vợ, Mị đã nghĩ đến ăn lá ngón tự tử để giải thoát sức phản
kháng quyết liệt, mạnh mẽ, yêu tự do không thể chấp nhận cuộc sống mà như chết.
+ Vì thương bố: “Mày chết nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày
chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ cho người ta, tao thì ốm yếu quá rồi.
Không được, con ơi!” Mị không đành lòng chết Mị cam chịu, chấp nhận cuộc sống nô lệ
Tấm lòng hiếu thảo. (liên hệ so sánh với hành động bán mình cứu cha và em của Thuý
Kiều)
=> Cô gái giàu phẩm hạnh, xứng đáng được yêu, được hưởng hạnh phúc. Thực tế là Mị cũng
đã có người yêu nhưng bị những hủ tục, bất công, tàn bạo tước đoạt tình yêu đầu đời và quyền
được tự do, quyền được hạnh phúc.
1.2. Mị trong thân phận là con dâu gạt nợ nhà thống lí – cuộc sống thống khổ, bất
hạnh
a. Nguyên nhân Mị trở thành con dâu nhà thống lí
Món nợ truyền kiếp từ đời bố mẹ: Bố mẹ lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới, phải đến vay
nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra. Mỗi năm đem nộp lãi một nương ngô. Đến tận khi hai vợ
chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết cũng chưa trả hết nợ Mị trở
thành con nợ bị A Sử lừa cướp về bị cúng trình ma thống lí con dâu con nợ chung
thân.
Mị là nạn nhân của chế độ cho vay nặng lãi, bị cường quyền và thần quyền tước quyền
tự do và hạnh phúc cá nhân: mặc dù không đồng ý nhưng cô vẫn ngang nhiên bị bắt (cường
quyền) về “cúng trình ma” nhà thống lý (thần quyền) và không thể thoát ra được.
b. Phản ứng lúc đầu của Mị khi bị bắt về làm dâu nhà thống lí
- “Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc” phản động thụ động nhưng tất
yếu.
- Định ăn lá ngón tự tử tìm đến cái chết như một sự giải thoát phản ứng tiêu cực
nhưng tiềm ẩn sức phản kháng mãnh liệt vì Mị muốn thà được chết như một con người còn
hơn là phải sống như một con vật.
- Vì chữ hiếu, Mị phải quay lại cuộc sống tủi cực tại nhà thống lí.
c. Chịu đựng những đày đoạ thống khổ về thể xác
- Bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn:
+ Trở thành công cụ lao động, không có cảm xúc, làm việc mọi lúc, mọi nơi: “Lúc nào
cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy
cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”.
+ Bị bóc lột sức lao động đến tận cùng, mỗi năm, mỗi mùa, mỗi tháng phải làm đi làm
những việc giống nhau không ngày ngơi nghỉ: “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm
thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào
cũng gài một bó đay trong cánh tay để tướt thành sợi”.
+ Thực chất là một nô lệ, thậm chí còn không bằng con trâu, con ngựa trong nhà thống
lí bởi “Con ngựa, con trâu còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà
con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.”
- Bị đánh đập, hành hạ dã man: Mị và A Sử không có lòng với nhau mà vẫn phải sống
với nhau. A Sử đối với Mị không phải như một người chồng với vợ mà như đối với một nô lệ:
+ Ngày Tết, Mị không được đi chơi, bị A Sử trói đứng vào cột trong buồng tối bằng cả
thúng dây đay, bằng cả tóc của Mị và bỏ đi chơi không màng Mị sống hay chết.
Trang 2
Tổ ngữ văn
+ Thức suốt đêm ngồi xoa thuốc cho chồng, mệt mỏi, gục đầu thiếp đi thì bị chồng
“đạp chân vào mặt”.
+ Những đêm mùa đông lạnh, Mị trở dậy, sưởi lửa. A Sử chợt về thấy Mị thì lại đánh
Mị “ngã quay xuống của bếp”
c. Mị hoàn toàn bị tê liệt về tinh thần
- Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Mất hết ý thức của sự phản kháng, sống
cam chịu, nhẫn nhục Mị chỉ còn là cái xác trống rỗng, vô hồn.
- Cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào
trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng ngục tù giam hãm tinh
thần, tuổi thanh xuân và cả cuộc đời Mị Mị mất hết ý niệm về cuộc sống, về thời gian. Mị
chỉ đang tồn tại chứ không phải đang sống.
Nguyên nhân:
- “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu,
mình cũng là con ngựa…” Ở lâu trong cái khổ, Mị không còn cảm nhận được nỗi khổ của
chính mình.
- Mị bị bắt về và bị cúng trình ma nhà thống lý Pá Tra, Mĩ nghĩ “nó đã bắt ta về trình
ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…” Mị bị trói chặt bởi sức mạnh
của thần quyền và bị vùi dập bởi sức mạnh của cường quyền nên Mị chưa thể tự giải thoát cho
mình mà chỉ có thể cam chịu cuộc sống chết dần, chết mòn.
Sơ kết: Nếu như trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, chị Dậu đã bị bần cùng hoá. Chí
Phèo của Nam Cao thị tha hoá và lưu manh hoá. Đó là những hình tượng điển hình cho bi kịch
của người nông dân làng quê Việt Nam trước CMTT thì Mị lại chịu nỗi thống khổ bị nô lệ hoá,
bị sức mạnh vô hình và hữu hình của chế độ thống trị miền núi huỷ diệt sức xuân và sức sống.
1.3. Sức sống tiềm tàng (Sự hồi sinh của tâm hồn Mị trong đêm tình mùa xuân)
a. Những yếu tố tác động từ ngoại cảnh
- Cảnh sắc mùa xuân:
+ Trẻ con đi hái bí đỏ, tinh nghịch, đã đốt những lều canh nương để sưởi lửa.
+ Gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, gió và rét rất dữ dội.
+ Những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên mỏm đá xoè như con bướm sặc sỡ.
+ Trai gái, trẻ con … tụ tập đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy.
Cảnh sắc mùa xuân rực rỡ, đầy sức sống, rộn ràng, náo nức.
- Tiếng sáo rủ bạn vang vọng khắp núi đồi, bản làng tiếng sáo của tuổi trẻ, tiếng sáo
gợi ước mơ về tình yêu và hạnh phúc.
- Hơi men của rượu giúp Mị quên đi thực tại, sống lại hồi ức trong quá khứ.
=> Nhà văn đã khéo léo đặt nhân vật vào một không gian, thời gian đặc biệt từng chút một
làm sống dậy một tâm hồn chai sạn, nguội lạnh từ lâu.
b. Diễn biến tâm trạng của Mị trong đêm tình mùa xuân
- Tiếng sáo rủ bạn đi chơi lấp ló ngoài đầu núi Mị nghe tiếng sáo vọng lại, “thiết
tha bổi hổi” (trạng thái của tiếng sáo và cũng chính là trạng thái tâm hồn Mị đang được hồi
sinh) Mị nhẩm thầm bài hát:
“Mày có con trai con gái rồi
Mày đi làm nương
Ta không có con trai con gái
Ta đi tìm người yêu”
Không biết bao lâu Mị đã sống trong đau đớn, tủi nhục của một nô lệ như một cái xác vô
hồn, tiếng sáo như một dòng suối diệu kỳ tưới mát và hồi sinh tâm hồn tưởng chừng đã chết
của Mị. Người con gái bao năm câm lặng, lùi lũi như con rùa trong xó cửa giờ đã lại cất tiếng
nhẩm thầm lời bài hát gọi bạn tình quen thuộc của tuổi xuân xa xôi, lời bài hát tưởng chừng Mị
đã quên từ lâu hoặc là Mị chưa từng quên, chỉ là Mị đã chôn chặt nó dưới tầng tầng lớp lớp
Trang 3
Tổ ngữ văn
những nỗi đau. Lòng Mị thiết tha, bổi hổi – những cảm xúc có lẽ lâu lắm rồi Mị chưa từng cảm
nhận được Tiếng sáo là tiếng gọi của tự do, của khát vọng về tình yêu lay động mạnh mẽ
tâm hồn Mị, đánh thức quá khứ và khát vọng tưởng chừng đã bị lãng quên từ lâu.
- Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. “Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát” Cách
uống ấy là sự dồn nén của những ẩn ức, phẫn uất nên Mị uống rượu mà cứ như nuốt cay nuốt
hận vào lòng. Rượu làm Mị say “lịm mặt ngồi đấy” nhưng lòng Mị thì đang “sống về ngày
trước”.
- Men rượu + tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng làm Mị nhớ đến ngày trước:
+ Mị thổi sáo giỏi
+ Mùa xuân, Mị cũng uống rượu bên bếp và thổi sáo. Thổi lá cũng hay như thổi
sáo.
+ Biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.
Sống lại quá khứ tươi đẹp, hạnh phúc và tự do.
(Liên hệ: 1/ Bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương: Chén rượu hương đưa say lại tỉnh/ Vầng
trăng bóng xế khuyết chưa tròn Người phụ nữ cô đơn, bẽ bàng mượn rượu để tìm quên
nhưng lại chìm sâu hơn vào bế tắc và cái vòng lẩn quẩn “say lại tỉnh”. 2/ Chí Phèo sau khi bị
Thị Nở cự tuyệt, hắn muốn uống rượu cho thật say để trả thù bà cô Thị Nở, nhưng “càng uống
lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn!” Men rượu lại càng làm Chí Phèo thấm thía hơn
bao giờ hết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình.)
- Rượu tan, như một thói quen, Mị quay trở về với căn buồng của mình bởi Mị đã tỉnh
táo, đã quay về với hiện thực phũ phàng: “Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết”, “Mị
cũng chẳng buồn đi”.
- Nhưng sự tủi nhục và căn buồng như địa ngục trần gian ấy không thể ngăn được lòng
yêu tự do của Mị. Bởi: “Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng
như những đêm tết ngày trước” Những từ ngữ như “phơi phới”, “đột nhiên vui sướng” …
như diễn tả tận sâu thẳm niềm khao khát và sức sống đang bùng dậy mãnh liệt của Mị Mị
nhận ra “Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi” Câu văn sử dụng phép điệp: trẻ lắm,
còn trẻ,…kết hợp kiểu câu đơn ngắn làm nhịp điệu câu văn dồn dập, góp phần cho thấy tình
yêu tự do và ý thức về bản thân chưa bao giờ bị dập tắt trong Mị. Nó giống như hòn than âm ỉ
cháy trong lớp tàn tro giờ có dịp bùng cháy.
- Mị lại tủi thân khi nghĩ về A Sử:
+ Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày tết.
+ A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau
“Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại
nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra”. Ngay trong lúc tâm hồn và khát vọng bùng lên
mạnh mẽ thì Mị lại nghĩ đến cái chết tưởng chừng nghịch lí nhưng thực tế lại hợp lí khi
linh hồn đã trở về, Mị không chỉ ý thức được giá trị của tinh thần mà còn ý thức được hoàn
cảnh sống nghiệt ngã Muốn chết cũng là sự thể hiện rất mãnh liệt sức sống tiềm tàng ẩn
chứa trong tâm hồn cô gái Mèo.
- Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường:
“Anh ném pao, em không bắt
Em không yêu, quả pao rơi rồi…”
Tiếng sáo đầy mê hoặc, quyến rũ, như lôi kéo Mị, đưa Mị từ vực sâu của tuyệt vọng thăng
hoa trở lại cùng khát vọng tự do thôi thúc Mị biến ước vọng thành hành động:
+ Đến góc nhà, “lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng”
phải chăng Mị muốn xua tan đi cái đen tối của thực tại để thắp sáng lên quãng đời còn lại của
mình Tâm hồn Mị đang bừng sáng lên, đầy hy vọng. “ Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi
chơi”.
+ “Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa…” sự tinh tế trong miêu tả tâm
Trang 4
Tổ ngữ văn
lí nhân vật: một người con gái sau bao nhiêu vùi dập, đày đoạ về cả thể xác và tinh thần cũng
không mất đi bản năng đầy nữ tính Tâm hồn người còn gái trẻ đã hoàn toàn hồi sinh trong
thể xác héo mòn hành động này là điểm nhấn tinh tế mà sâu sắc trong lần hồi sinh này của
Mị.
Câu văn được ngắt bởi nhiều dấu phẩy, nhịp gấp, nhiều động từ được huy động: lấy, xắn,
bỏ, đi chơi, quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa, rút thêm cái áo… làm cho những hành động
của Mị trở nên mạnh mẽ, cương quyết, táo bạo. Đó là lúc ngọn lửa khao khát tự do đang cháy
lên trong Mị, bất chấp sự hiện diện của A Sử. Trong đầu Mị, giờ chỉ đang rập rờn tiếng sáo.
Giờ đây, bóng đêm của cường quyền bạo ngược và thần quyền đã không thể nào vùi dập được
Mị. Bởi khát vọng tự do trong Mị đang lớn hơn tất cả mọi nỗi sợ hãi.
- A Sử trói đứng lấy Mị: lấy thắt lưng trói hai tay Mị, lấy cả một thúng sợi đay trói đứng
Mị vào cột, quấn luôn tóc Mị lên cột làm Mị “không cúi, không nghiêng đầu được nữa”.
+ Dù thể xác bị trói trong tăm tối và bốn bức tường ngột ngạt, nhưng tâm hồn
vẫn không thôi khát khao tự do: Tiếng sáo vẫn đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám
chơi… Mị như không biết mình bị trói và vùng bước đi cái đau của thể xác kéo Mị trở
về với thực tại phũ phàng.
+ Tiếng sáo biến mất, chỉ còn “tiếng chân ngựa đạp vào vách” Tiếng sáo là
âm thanh của giấc mơ; tiếng chân ngựa là âm thanh đau buồn của thực tại. Thực tại đập vỡ
giấc mộng, làm tiêu tan tiếng sáo. Âm thanh tiếng chân ngựa đánh thức Mị, đập vỡ cả giấc mơ
của Mị, kéo Mị từ thiên đường trở về địa ngục. Nỗi đau thể xác ngay lập tức chuyển hoá thành
nỗi đau tinh thần vì Mị chợt nhận ra: “Mình không bằng con ngựa”.
+ Suốt cả đêm, trong hơi rượu và tiếng sáo, Mị đi về giữa hai miền mê – tỉnh.
+ Buổi sáng hôm sau, Mị bàng hoàng tỉnh, nhớ đến cái thảm cảnh chung của
những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan “một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con
ngựa của chồng”.
+ Chợt nhớ câu chuyện đời trước trong nhà thống lí Pá Tra: một người vợ đã bị
chồng trói cho đến chết “Mị sợ quá, Mị cựa quậy, xem mình còn sống hay chết” Mị sợ
chết nghĩa là Mị vẫn khao khát được sống.
Sơ kết: Cuộc trỗi dậy thứ nhất của Mị không thành, Mị không thoát khỏi cảnh ngục tù
trần gian nhưng ít ra Mị cũng đã sống lại những thời khắc tươi đẹp của tuổi trẻ. Sức sống của
Mị, sự hồi sinh của Mị được đặt trong một thử thách khắc nghiệt, một hiện thực phũ phàng
nhưng qua đó lại càng khẳng định một chân lí rằng: sức sống của con người dù bị dẫm đạp, bị
trói chặt nhưng nó không chết mà luôn âm ỉ cháy, chỉ gặp dịp là bùng lên mạnh mẽ. Đúng như
Lỗ Tấn đã từng nói: “Một tia lửa nhỏ hôm nay báo hiệu đám cháy ngày mai”. Hành động của
Mị tuy bột phát nhưng sẽ hứa hẹn một tương lai bừng cháy ở phía trước. Đây cũng chính là giá
trị nhân đạo sâu sắc của nhà văn Tô Hoài.
1.4. Sức phản kháng mạnh mẽ (Đêm mùa đông giải cứu cho A Phủ và tự giải
phóng cho chính mình)
a. Phản ứng lúc đầu của Mị khi thấy A Phủ bị trói đứng vào cột
- Sau đêm tình mùa xuân, Mị trở lại với kiếp sống chai sạn, băng giá, tê liệt về cả thể
xác lẫn tinh thần. Tâm hồn Mị như tê dại trước mọi chuyện. Kể cả lúc ra sưởi lửa, bị “A Sử
đánh Mị ngã ngay xuống cửa bếp” nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi lửa như đêm trước. Mị chỉ
còn biết, còn sống với ngọn lửa. Mị vô cảm với chính bản thân mình, không còn cảm
nhận được nỗi đau đớn của thể xác, không còn cảm nhận được sự nhục nhã về tinh thần. Thể
xác bị chà đạp, tinh thần bị lăng nhục, nhưng Mị vẫn dửng dưng, không tức giận, tủi hờn hay
sợ hãi.
- Mị vô cảm luôn với cả sự khốn khổ và bi kịch của người khác:
+ Mấy đêm thấy A Phủ bị trói, Mị vẫn “thản nhiên” thổi lửa, hơ tay.
+ Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, “cũng thế thôi”
Trang 5
Tổ ngữ văn
Các từ ngữ “thản nhiên”, “cũng thế thôi” cho thấy sự thản nhiên, vô tâm đến lạnh
lùng, vô cảm đến tàn nhẫn của Mị. Bi kịch tột cùng của Mị là cô đã đánh mất luôn cả tình
thương, lòng nhân ái của một con người.
b. Phản ứng lúc sau của Mị (từ khi thấy dòng nước mắt của A Phủ)
- Ngọn lửa sáng lên, Mị lé mắt trông sang và thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò
xuống hai hõm má đã xám đen lại” Dòng nước mắt ấy là nước mắt của kẻ đang hấp hối,
nước mắt của một con người đang bất lực, tuyệt vọng trước số phận Dòng nước mắt chạm
vào và làm tan chảy trái tim băng giá của Mị và đánh thức tình thương trong Mị mà bắt đầu từ
sự đồng cảm: “Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia.
Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được”. Mị cảm
nhận nỗi đau của A Phủ bằng nỗi đau của chính mình.
- Đoạn độc thoại cho thấy rõ những nhận thức vô cùng tỉnh táo, lý trí của Mị:
+ “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó
bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này” Lần đầu, Mị nhìn thấy rõ và
mạnh mẽ kết án: “Chúng nó thật độc ác”.
+ Mị nhận thức rõ kết cục tất yếu của số phận A Phủ trước sự tàn ác của cha con
nhà thống: “Cơ chừng chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”.
+ Mị đặt mình và A Phủ lên bàn cân số phận:
++ Mị là “thân đàn bà”, “đã bị bắt về trình mà nhà nó rồi thì chỉ còn biết
đợi ngày rũ xương ở đây thôi” bị sức mạnh vô hình của thần quyền trói buộc, Mị chỉ có thể
cam chịu và chấp nhận số phận.
++ Nhưng Mị lại nhận thức được việc A Phủ phải chết là một điều phi lý:
“Người kia việc gì mà phải chết thế”
Trên bàn cân số phận, Mị nghiêng hẳn phần sống về cho A Phủ tình thương, lòng nhân
ái bao la của người con gái vùng cao “Đám than đã vạc hẳn lửa” nhưng tâm hồn Mị thì
bừng sống dậy mãnh mẽ, quyết liệt.
- “Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi …
Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này ,
làm sao Mị cũng không thấy sợ…” Mị đã từng sợ chết (trong đêm tình mùa xuân), nhưng
bây giờ Mị không sợ nữa, không phải bởi vì Mị không muốn sống mà vì lòng thương người
trong Mị đã lấn át tất cả mọi nỗi sợ hãi.
- Mị cẩn thận nhưng dứt khoát: “Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây” giải
thoát cho A Phủ, giục A Phủ bằng một chất giọng hốt hoảng, thì thào nhưng quyết liệt “Đi
ngay…”
- Đối mặt với hiểm nguy Mị cũng hốt hoảng “Mị đứng lặng trong bóng tối” Câu văn
tách thành một dòng riêng nằm chơi vơi ở giữa những câu chữ ngổn ngang. Theo “nguyên lý
tảng băng trôi” – hình ảnh Mị đứng lặng chỉ là phần nổi còn ẩn sau những câu chữ và hành
động ấy của Mị là cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội: sống hay là chết; tự do hay nô lệ; đi hay ở?
Cuối cùng tiếng gọi tự do đã vẫy gọi Mị.
- Trong giây phút đối diện với bản án tử hình ấy lòng ham sống mãnh liệt đã thúc giục
Mị chạy theo A Phủ. Đoạn văn tiếp theo miêu tả hành động Mị toàn những động từ mạnh:
“vụt chạy – băng đi – đuổi kịp – đã lăn – chạy – chạy xuống – nói – thở”. Những động từ
mạnh ấy đã giúp Tô Hoài nhìn thấy được nội lực và sức phản kháng mạnh mẽ cháy bùng
trong Mị. Cuối cùng Mị đã có sự lựa chọn đúng đắn khi mà khát vọng sống trỗi dậy thật
mãnh liệt, Mị vụt chạy theo A Phủ, cũng có nghĩa là chạy thoát cuộc đời nô lệ, đến với ánh
sáng của tự do. Bước chân Mị như đạp đổ gông xiềng thần quyền lẫn cường quyền của bọn
chúa đất phong kiến bao năm qua đè nặng lên Mị. Mị đã nói trong cơn gió thốc “A Phủ cho tôi
đi! Ở đây thì chết mất”. Đó là câu nói thể hiện lòng ham sống, khát vọng tự do đến mãnh liệt
trong Mị.
Trang 6
Tổ ngữ văn
Sơ kết: Từ trạng thái vô cảm, Mị đã đồng cảm với nỗi đau thân phận của A Phủ. Từ
đồng cảm, Mị đã đi đến hành động táo bạo, quyết liệt – “cởi trói cho A Phủ”. Đây không phải
là hành động mang tính bản năng. Đúng hơn, cùng với sự trỗi dậy của ký ức, khát vọng sống tự
do, đã khiến Mị chạy theo người mà mình vừa cứu. Mị giải thoát cho A Phủ và giải thoát cho
cả bản thân mình! Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sức sống tiềm tàng
khi người con gái yếu ớt dám chống lại cả cường quyền và thần quyền. Đó chính là sức phản
kháng mạnh mẽ của nhân vật và cũng là sự mở đường của nhà văn đưa nhân vật tới chân trời
mới.
Thành công của tác giả Tô Hoài trong việc xây dựng hình tượng nhân vật Mị đó
là: Thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng nhân vật Mị đó là:
- Nhà văn có biệt tài miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo nhất là những diễn biến tâm trạng
đầy phức tạp của Mị trong đêm cởi trói cho A Phủ.
- Nghệ thuật trần thuật uyển chuyển, linh hoạt; cách giới thiệu nhân vật đầy bất ngờ, tự
nhiên đầy ấn tượng; kể chuyện ngắn gọn, dẫn dắt tình tiết khéo léo.
- Ngôn ngữ sinh động, chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm
chất thơ…nhà văn đã tạo tình huống truyện độc đáo, hấp dẫn; cách miêu tả diễn biến tâm lí
nhân vật tài tình, hợp lí tạo nên sự thay đổi số phận nhân vật một cách thuyết phục.
2. Nhân vật A Phủ
2.1 Cuộc đời đau thương, bất hạnh
a. Lúc nhỏ:
- Mồ côi, không có người thân: Anh, em, bố mẹ chết vì bệnh đậu mùa. Còn sót lại có
một mình A Phủ.
- Bị bắt đem bán cho người Thái dưới cánh đồng thấp.
- Chỉ mới 10 tuổi nhưng A Phủ đã gan bướng, không chịu ở dưới cánh đồng thấp nên
trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài, sống nghèo khổ, tự lập,…
b. Khi trưởng thành:
Tập tục khắc nghiệt, A Phủ không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc nên A Phủ
không lấy nổi vợ sự bất công, vô lý của XH phong kiến vùng cao.
c. Cuộc sống nô lệ trong nhà thống lí:
- Nguyên nhân: Đánh A Sử vì nó đã phá đám những cuộc chơi và gây sự với nhóm
trai làng của A Phủ. Sau cảnh xử kiện quái gở:
+ Kẻ đi kiện là quan tòa.
+ Ngập tràn khói thuốc phiện: “Khói thuốc phiện tuôn ra các lỗ cửa sổ tun hút
xanh như khói bếp”, “Khói thuốc phiện ngào ngạt tuôn ra các lỗ của sổ”, “Ngoài nhà vẫn rên
lên từng cơn kéo thuốc phiện, như những con mọt nghiến gỗ kép dài, giữa tiếng người khóc,
tiếng người kể lào xào, và tiếng đấm đánh huỳnh huỵch”,…
+ Người bị kiện chỉ quỳ chịu tội, chịu đánh đập hết lượt này đến lượt khác,
không được nói lời nào.
Kết quả: A Phủ bị phạt vạ 100 bạc trắng (nộp vạ cho người bị đánh, nộp cho bọn quan làng
và cả người đi gọi quan làng về xử kiện, tiền cho bọn chúng hút thuốc, một con lợn để quan
làng ăn vạ) thống lí cho vay chưa có tiền trả thì đời A Phủ, đời con, đời cháu A Phủ làm
con trâu, con ngựa cho nhà thống lí Trở thành nạn nhân của chính sách cho vay nặng lãi
cùng với sức mạnh bạo ngược của cường quyền A Phủ trở thành nô lệ chung thân ở nhà
thống lí.
- Cuộc sống nô lệ:
+ Bị bóc lột sức lao động nặng nề: Quanh năm, suốt tháng một thân một mình, A
Phủ bôn ba rong ruổi ngoài gò, ngoài rừng. Anh làm phăng phăng tất cả mọi việc: đốt rừng,
cuốc nương, cày nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa,…
Trang 7
Tổ ngữ văn
+ Để hổ bắt mất một con bò, bị trói đứng giữa mùa đông rét buốt, có nguy cơ
“chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”.
Cuộc sống khổ cực, đau thương của A Phủ đã lên án bọn thống trị dã man, tàn bạo; thể hiện
nỗi đau xót của nhà văn trước số phận con người.
2.2. Những phẩm chất tốt đẹp
a. A Phủ có đức tính hiền lành, chăm chỉ, có lòng lạc quan, yêu đời.
- Chăm chỉ, cần cù lao động, thạo đủ mọi nghề: biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày
giỏi, đi săn bò tót rất bạo.
- A Phủ là một chàng trai khỏe mạnh, đương tuổi sức lực, chạy nhanh như ngựa.
- Con gái trong làng nhiều người mê và ao ước: “Đứa nào được A Phủ cũng bằng được
con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu”.
- Lạc quan, yêu đời: Ngày Tết, chẳng có quần áo mới, chỉ có độc một chiếc vòng vía,
cũng chẳng có cơ hội lấy được vợ, song anh vẫn đem kèn, sáo, con quay, quả pao, quả yến đi
chơi xuân, tìm người yêu.
b. A Phủ có tính cách gan góc, táo bạo, mạnh mẽ.
- Từ khi còn nhỏ, A Phủ đã bộc lộ là một người gan góc, mạnh mẽ, yêu tự do: Khi bị
bán, tìm cách bỏ trốn, một mình sống tự lập và trưởng thành.
- A Phủ đánh A Sử, con trai thống lí Pá Tra. Đây là một hành động động trời, bởi ở
vùng núi cao, bọn thống lí Pá Tra là một thứ trời con, con trai của chúng không ai dám động
đến. Vậy mà A Phủ không sợ. Với anh, A Sử chỉ là đứa phá đám cuộc chơi, cần phải đánh.
Anh đã vung tay ném con quay rất to vào mặt A Sử. “Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt. Nó
vừa kịp bưng tay lên, A Phủ dã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh
tới tấp.”
- Bị tra tấn, đánh đập dã man nhưng A Phủ không hề van xin “A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ
im như cái tượng đá” gan góc, kiên cường.
- A Phủ không sợ cường quyền, bạo lực, không sợ sự uy hiếp của bất cứ ai, không sợ cả
cái chết. Khi đi rừng, mải mê bẫy nhím để hổ ăn thịt mất bò, anh điềm nhiên vác nửa con bò hổ
ăn dở về, nói chuyện đi bắt hổ thản nhiên như coi đó là một việc dễ dàng:
+ “Tôi về lấy súng. Thế nào cũng bắn được. Con hổ này to lắm”
+ “Tôi được con hổ ấy còn nhiều tiền hơn con bò”
Nhưng A Phủ đã không được đi. Anh phải lẳng lặng đi lấy cọc và dây mây rồi đóng cọc
để người ta trói đứng mình đến chết thế mạng con vật bị mất.
c. A Phủ có sức sống mãnh liệt
- Bị trói đứng, A Phủ không cam chịu: “Đến đêm, A Phủ cúi xuống nhai đứt hai vòng
dây mây, nhích dãn dây trói một bên tay” hành động tự phát của kẻ thế cô nhưng phản ánh
tinh thần mạnh mẽ, kiên cường.
- Bị trói đứng suốt mấy ngày đêm, đau đớn, không ăn, không uống giữa trời mùa đông,
A Phủ đã đứng bên bờ vực của cái chết, hai hõm má đã xám đen lại, chỉ còn lại dòng nước mắt
tuyệt vọng lặng lẽ chảy xuống. Sự bất lực trước hoàn cảnh, là tột đỉnh nỗi đau về thể xác và
tinh thần mà người dân vùng cao phải gánh chịu dưới ách thống trị tàn bạo của bọn chúa đất.
Đồng thời là liều thuốc đánh thức tâm hồn đã chết của Mị, từ dửng dưng vô cảm Mị quyết cắt
dây cởi trói cứu A Phủ.
- Khi được Mị cắt dây trói, dù chân khuỵa xuống, không bước nổi nhưng lòng ham sống
mãnh liệt đã cho A Phủ sức mạnh “quật sức vùng lên, chạy” (sau đó là với Mị cùng đỡ nhau
lao đi) để tìm lấy sự sống, tự do, ánh sáng cho đời mình.
Sơ kết: Tô Hoài đã miêu tả nhân vật A Phủ bằng ngòi bút hiện thực, miêu tả nhân vật
thiên về hành động, nội tâm ít được bộc lộ. Sự vùng lên tự giải thoát cho chính mình của A
Phủ tiêu biểu cho sự vươn lên của đồng bào các dân tộc vùng núi. Tuy đó chỉ là sự tự phát
nhưng nó lại là tiền đề cho sự vươn tới ánh sáng của Đảng ở chặng đường sau của anh.
Trang 8
Tổ ngữ văn
3. Nhân vật cha con thống lý Pá Tra, A Sử - sự hiện thân của cái ác, tay sai của
bọn thực dân phong kiến miền núi.
3.1. Lai lịch: nhiều đời làm thống
lý, uy quyền nhất vùng
- Từ đời bố Pá Tra đã làm thống lý, đến Pa Tra bây giờ cũng làm thống lý – người cai
quản một vùng bản làng miền núi của người dân tộc Mèo.
- Uy quyền nhất đất Hồng Ngài: “Nhà ăn của dân nhiều, đồn Tây lại cho muối về
bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương,
nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng”.
3.2. Tàn ác, tham lam, lợi dụng những hủ tục để bóc lột, khống chế người dân làm
giàu và làm tăng thế lực
a. Cho vay nặng lãi: truyền từ đời bố thống lý Pá Tra đến đời
thống lý Pá Tra
- Món nợ từ đời bố mẹ Mị vay để lấy nhau, mỗi năm nộp lãi một nương ngô, đến khi
mẹ Mị mất cũng chưa trả hết nợ.
- Thống lý Pá Tra bắt phạt vạ A Phủ 100 lạng bạc trắng bằng cách cho vay.
- Thu nợ một cách dã man:
+ Bắt người để gạt nợ: bắt Mị về làm dâu gạt nợ: “Cho tao đứa con gái này về
làm dâu thì tao xóa hết nợ cho”.
+ Bắt người đi ở để trừ nợ: bắt A Phủ làm nô lệ để trừ nợ:“Bao giờ
có tiền
giả thì tao cho mày về, chưa có tiền giả thì tao bắt mày ở làm con trâu, con ngựa cho nhà tao.
Đời mày, đời con, đời cháu mày tao cũng bắt thế, bao giờ hết nợ tao mới thôi”
b. Dùng những hủ tục: cường quyền, thần quyền để cai trị người dân nghèo
- Cường quyền (dùng quyền lực của thống lý bắt người một cách vô lý): mặc cho Mị
không
đồng ý về làm dâu nhưng vẫn ngang nhiên bắt cô về cúng trình ma; A Phủ dù đánh
A Sử
do chính bọn A Sử gây sự trước, vẫn ngang nhiên bắt về xử phạt.
- Thần quyền (dùng hủ tục cúng trình ma): gọi con ma về nhận mặt con dâu gạt nợ;
nhận mặt người nô lệ trừ nợ.
c. Bóc lột sức lao động một cách triệt để; tàn ác, vô
nhân tính
- Đàn bà thì luôn tay luôn chân, thân phận không bằng kiếp con trâu, con ngựa. Đàn
ông thì phải làm những công việc nguy hiểm.
- Trói người, đánh người bất cứ đâu, bất cứ khi nào và có khi không vì lý do gì: Mị bị
trói đứng bằng dây đay; A Phủ
bị trói bằng dây mây; người đàn bà đời trước cũng bị trói
đứng đến chết.
Sơ kết: Qua nhân vật cha con thống
lý, nhà văn Tô Hoài đã vạch trần bộ mặt tàn ác
của giai cấp thống trị miền núi lúc ấy giờ, góp phần làm nên giá trị hiện thực của tác phẩm
thông qua
đoạn trích.
4. Giá trị nhân đạo của tác phẩm
Giải thích khái niệm: “Giá trị nhân đạo” là một giá trị cơ bản của tác phẩm văn học
chân chính. Nó được tạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau khổ của con người,
đó là sự nâng niu,
trân quý những nét đẹp trong tâm hồn con người và cũng là lòng tin
vào khả ...
 









Các ý kiến mới nhất