Tuần 23. Chiều tối (Mộ)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trí Tâm
Ngày gửi: 23h:31' 19-03-2010
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 1086
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Trí Tâm
Ngày gửi: 23h:31' 19-03-2010
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 1086
Số lượt thích:
0 người
Đề bài: Trong bài Đọc thơ Bác, Hoàng Trung Thông có viết:
“ Vần thơ của Bác, vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Điều đó thể hiện trong bài " Chiếu Tối” như thế nào ?
Bài làm
Hồ Chí Minh – vị cha già muôn vàng kính yêu của dân tộc. Chúng ta kính yêu Bác, không chỉ bởi sự nghiệp Cách mạng lớn lao mà còn bởi những cống hiến to lớn của Bác cho nền văn học nước nhà, với những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc.Giản dị và thực tế như cuộc sống đời thường, các tác phẩm của Bác đi vào lòng người rất nhẹ nhàng, sâu sắc, mà khi đọc, ta không thể nào quên. Và trong các tác phẩm ấy, ta luôn bắt gặp một tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu con người và cuộc sống. Và ở đó, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, con người cũng vượt lên khó khăn, thử thách bằng một ý chí, nghị lực phi thường, một tinh thần thép đáng trân trọng. Nhắc đến những vần thơ của Bác, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã thực sự rung động trước cái hay, cái đẹp của từng bài thơ, lời thơ, ý thơ, để rồi cảm xúc trào dâng, ông đã viết: ” Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình” “ Vần thơ thép”, những vần thơ mang “chất thép” của con người cộng sản Hồ Chí Minh. “Thép” ở đây là ý chí, là nghị lực, là dũng khí lớn để vượt qua bao và khắc phục những hoàn cảnh khó khăn của một con người vĩ đại. Nhưng dù là “thơ thép”, nhưng những vần thơ của Bác không hề khô khan, cứng nhắc. Bên trong cái thép ấy, ẩn chứa những giá trị thẩm mĩ, và nhân đạo sâu sắc. Với cái chất tình từ trong cốt tủy, những vần thơ thép của Bác “ vẫn mênh mông bát ngát tình” cũng là một điều dễ hiểu. Ở trong con người, cũng như mỗi tác phẩm của Bác, chất thép và chất tình luôn hòa quyện vào nhau, tạo nên một sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, để chan hòa với mọi vật, cảm thông cho mọi nỗi đau của nhân loại. Và bài thơ “ Chiều tối” là một dẫn chứng rõ ràng nhất mà chúng ta có thể thấy được.
Bài thơ “ Chiều tối” ghi lại những cảm xúc của Bác trên con đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào một buổi chiều, cuối mùa thu năm 1942. Và ngày ấy, bất chợt, Bác ngước mắt nhìn lên bầu trời và thấy cánh chim bay về tổ, mây chậm chạp bay.
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không ;
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Bài thơ được mở đầu bằng hai câu thơ miêu tả thiên nhiên, vừa gần gũi lại vừa khác lạ. Cũng giống như trong thi ca cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên trong 2 câu thơ đầu được phác họa bằng những nét chấm phá. Bác đã không nghiêng về tả, mà chỉ gợi ra một vài nét dể bắt lấy cái hồn của tạo vật. Toàn bộ khung cảnh miền thiên nhiên sơn cước hiện ra rất đơn sơ: không gian rừng núi âm u hoang vắng, cảnh chim chiều mệt mỏi đang vỗ cánh bay về nơi trú ngụ, những áng mây lẻ loi, lững lỡ trôi giữa tầng không. Thời gian chiều ngả dần về tối là thời gian nghệ thuật quen thuộc trở đi trở lại trong các tác phẩm thi ca. Nghệ sĩ xưa thường mượn thời gian chiều tối để gửi gắm tiếng lòng mình, để nương náu nỗi buồn của mình.
Ca dao xưa có câu :
Chim bay về núi tối rồi
hay trong Truyện Kiều :
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Rồi buổi chiều nghiêng nghiêng xuống theo đôi cánh chim bé nhỏ trong “Tràng giang” của Huy Cận : Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Câu thơ của Bác mà vì thế cũng gợi ý niệm về không gian vừa gợi ý niệm về thời gian. Tuy nhiên, ở đây không phải chim bay trong trạng thái bình thường mà là bay mỏi, bay mải miết cho kịp tới chốn ngủ nơi rừng xanh quen thuộc . Cánh chim mỏi mệt hay nhà thơ mỏi mệt lê bước trên chặng đường đi đày giờ đây không biết đâu là chốn dừng chân ? Sự tương đồng ấy dễ tạo nên sự cảm thông sâu sắc giữa người với cảnh . Câu thơ thứ hai tiếp tục phác họa không gian, thời gian và tâm trạng: “ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
Hình ảnh chòm
“ Vần thơ của Bác, vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Điều đó thể hiện trong bài " Chiếu Tối” như thế nào ?
Bài làm
Hồ Chí Minh – vị cha già muôn vàng kính yêu của dân tộc. Chúng ta kính yêu Bác, không chỉ bởi sự nghiệp Cách mạng lớn lao mà còn bởi những cống hiến to lớn của Bác cho nền văn học nước nhà, với những tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật sâu sắc.Giản dị và thực tế như cuộc sống đời thường, các tác phẩm của Bác đi vào lòng người rất nhẹ nhàng, sâu sắc, mà khi đọc, ta không thể nào quên. Và trong các tác phẩm ấy, ta luôn bắt gặp một tâm hồn lạc quan, yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu con người và cuộc sống. Và ở đó, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, con người cũng vượt lên khó khăn, thử thách bằng một ý chí, nghị lực phi thường, một tinh thần thép đáng trân trọng. Nhắc đến những vần thơ của Bác, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã thực sự rung động trước cái hay, cái đẹp của từng bài thơ, lời thơ, ý thơ, để rồi cảm xúc trào dâng, ông đã viết: ” Vần thơ của Bác vần thơ thép Mà vẫn mênh mông bát ngát tình” “ Vần thơ thép”, những vần thơ mang “chất thép” của con người cộng sản Hồ Chí Minh. “Thép” ở đây là ý chí, là nghị lực, là dũng khí lớn để vượt qua bao và khắc phục những hoàn cảnh khó khăn của một con người vĩ đại. Nhưng dù là “thơ thép”, nhưng những vần thơ của Bác không hề khô khan, cứng nhắc. Bên trong cái thép ấy, ẩn chứa những giá trị thẩm mĩ, và nhân đạo sâu sắc. Với cái chất tình từ trong cốt tủy, những vần thơ thép của Bác “ vẫn mênh mông bát ngát tình” cũng là một điều dễ hiểu. Ở trong con người, cũng như mỗi tác phẩm của Bác, chất thép và chất tình luôn hòa quyện vào nhau, tạo nên một sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, để chan hòa với mọi vật, cảm thông cho mọi nỗi đau của nhân loại. Và bài thơ “ Chiều tối” là một dẫn chứng rõ ràng nhất mà chúng ta có thể thấy được.
Bài thơ “ Chiều tối” ghi lại những cảm xúc của Bác trên con đường chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào một buổi chiều, cuối mùa thu năm 1942. Và ngày ấy, bất chợt, Bác ngước mắt nhìn lên bầu trời và thấy cánh chim bay về tổ, mây chậm chạp bay.
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không ;
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;
Bài thơ được mở đầu bằng hai câu thơ miêu tả thiên nhiên, vừa gần gũi lại vừa khác lạ. Cũng giống như trong thi ca cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên trong 2 câu thơ đầu được phác họa bằng những nét chấm phá. Bác đã không nghiêng về tả, mà chỉ gợi ra một vài nét dể bắt lấy cái hồn của tạo vật. Toàn bộ khung cảnh miền thiên nhiên sơn cước hiện ra rất đơn sơ: không gian rừng núi âm u hoang vắng, cảnh chim chiều mệt mỏi đang vỗ cánh bay về nơi trú ngụ, những áng mây lẻ loi, lững lỡ trôi giữa tầng không. Thời gian chiều ngả dần về tối là thời gian nghệ thuật quen thuộc trở đi trở lại trong các tác phẩm thi ca. Nghệ sĩ xưa thường mượn thời gian chiều tối để gửi gắm tiếng lòng mình, để nương náu nỗi buồn của mình.
Ca dao xưa có câu :
Chim bay về núi tối rồi
hay trong Truyện Kiều :
Chim hôm thoi thót về rừng,
Đoá trà mi đã ngậm trăng nửa vành.
Rồi buổi chiều nghiêng nghiêng xuống theo đôi cánh chim bé nhỏ trong “Tràng giang” của Huy Cận : Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa Câu thơ của Bác mà vì thế cũng gợi ý niệm về không gian vừa gợi ý niệm về thời gian. Tuy nhiên, ở đây không phải chim bay trong trạng thái bình thường mà là bay mỏi, bay mải miết cho kịp tới chốn ngủ nơi rừng xanh quen thuộc . Cánh chim mỏi mệt hay nhà thơ mỏi mệt lê bước trên chặng đường đi đày giờ đây không biết đâu là chốn dừng chân ? Sự tương đồng ấy dễ tạo nên sự cảm thông sâu sắc giữa người với cảnh . Câu thơ thứ hai tiếp tục phác họa không gian, thời gian và tâm trạng: “ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”
Hình ảnh chòm
 








Các ý kiến mới nhất