Tìm kiếm Giáo án
Bài 8. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vi Hanh
Ngày gửi: 11h:06' 31-05-2016
Dung lượng: 95.5 KB
Số lượt tải: 59
Nguồn:
Người gửi: Vi Hanh
Ngày gửi: 11h:06' 31-05-2016
Dung lượng: 95.5 KB
Số lượt tải: 59
Số lượt thích:
0 người
Bảng hệ thống hoá các tác giả văn học (NV 9)
Tác giả
Tiểu sử
Đặc điểm, phong cách sáng tác.
Tác phẩm chính
Nguyễn Dữ
Sống ở thế kỉ 16, thời kì chế độ phong kiến đang từ đỉnh cao của sự thịnh vượng cuối TK 15, bắt đầu lâm vào tình trạng loạn lạc suy yếu. Thi đậu cử nhân, ra làm quan một năm rồi lui về sống ẩn dật ở quê nhà nuôi mẹ già, đóng cửa viết sách.
- Là nhà văn lỗi lạc, là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Là người mở đầu cho dòng văn xuôi Việt Nam, với bút lực già dặn, thông minh và tài hoa.
Truyền kì mạn lục: viết
bằng chữ Hán;
ghi chép tản mạn những
truyện kì lạ được
lưu truyền.
Phạm Đình Hổ
- Sinh 1768, mất 1839; tên chữ là Tùng Niên hoặc Bình Trực, hiệu Đông Dã Tiều. Quê Đan Loan- Đường An- Hải Dương (nay là Nhân Quyền- Bình Giang- Hải Dương); Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, cha từng đỗ cử nhân, làm quan dưới triều Lê.
Là một nho sĩ sống trong thời chế độ phong kiến đã khủng hoảng trầm trọng nên có tư tưởng muốn ẩn cư và sáng
tác những tác phẩm văn chương, khảo cứu về nhiều lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử, địa lí…
-Vũ trung tuỳ bút
(Tuỳ bút viết trong
những ngày mưa)- Tác
phẩm chữ Hán,
được viết đầu thế kỉ 19.
- Tang thương ngẫu lục.
Ngô gia văn phái
Một nhóm các tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây. Trong đó có hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1758- 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống và Ngô Thì Du (1772- 1840) làm quan dưới thời Nguyễn.
Là dòng họ nổi tiếng về khoa bảng và làm quan.
Hoàng Lê nhất thống
chí (tác phẩm viết bằng
chữ Hán ghi chép về sự
thống nhất của vương
triều nhà Lê vào thời
điểm Tây Sơn diệt Trịnh
trả lại Bắc Hà cho vua
Lê)
Nguyễn Du
- Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765- 1820), quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ông sinh ra trong một gia đình quí tộc có nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học, cha ông là Nguyễn Nghiễm làm đến chức tể tướng. Bản thân ông cũng thi đậu tam trường và làm quan dưới triều Lê và Nguyễn. Có cuộc đời từng trải, từng chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh, bị bắt giam rồi được thả. Khi làm quan dưới triều Nguyễn được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc 2 lần, nhưng lần thứ 2 chưa kịp đi thì bị bệnh mất tại Huế.
Là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá
dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng
trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du
một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài
văn học, là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới và là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
- Tác phẩm chữ Hán:
Thanh Hiên thi tập,
Bắc hành tạp lục, Nam
trung tạp ngâm.
- Tác phẩm chữ Nôm:
Truyện Kiều, Văn
chiêu hồn, Văn tế sống
hai cô gái Trường
Lưu…..
Nguyễn Đình Chiểu
Sinh 1822 mất 1888, quê cha ở Phong Điền- Thừa Thiên Huế, quê mẹ ở làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay là TP Hồ Chí Minh). Xuất thân từ một gia đình quan lại nhỏ, cuộc đời ông gặp nhiều bất hạnh, khổ đau nhưng với ý chí và nghị lực mạnh mẽ, sống vươn lên số phận, có ích cho đời.
- Là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và tinh
thần bất khuất chống giặc ngoại xâm. Ông là nhà
thơ lớn của dân tộc, nhà thơ yêu nước.
- Thơ văn của ông mang phong cách của người dân
Nam Bộ, là vũ khí chiến đấu sắc bén.
Dương Từ - Hà Mậu,
Truyện Lục Vân Tiên,
Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc, Văn tế Trương
Định…
Chính Hữu
Tên thật là Trần Đình Đắc (1926- 2007) quê ở Can Lộc- Hà tĩnh. Năm 1946 ông gia nhập trung đoàn thủ đô.
- Là nhà thơ quân đội, tham gia cả hai cuộc
áng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông được nhà
nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật (2000)
-
Tác giả
Tiểu sử
Đặc điểm, phong cách sáng tác.
Tác phẩm chính
Nguyễn Dữ
Sống ở thế kỉ 16, thời kì chế độ phong kiến đang từ đỉnh cao của sự thịnh vượng cuối TK 15, bắt đầu lâm vào tình trạng loạn lạc suy yếu. Thi đậu cử nhân, ra làm quan một năm rồi lui về sống ẩn dật ở quê nhà nuôi mẹ già, đóng cửa viết sách.
- Là nhà văn lỗi lạc, là học trò xuất sắc của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Là người mở đầu cho dòng văn xuôi Việt Nam, với bút lực già dặn, thông minh và tài hoa.
Truyền kì mạn lục: viết
bằng chữ Hán;
ghi chép tản mạn những
truyện kì lạ được
lưu truyền.
Phạm Đình Hổ
- Sinh 1768, mất 1839; tên chữ là Tùng Niên hoặc Bình Trực, hiệu Đông Dã Tiều. Quê Đan Loan- Đường An- Hải Dương (nay là Nhân Quyền- Bình Giang- Hải Dương); Sinh ra trong một gia đình khoa bảng, cha từng đỗ cử nhân, làm quan dưới triều Lê.
Là một nho sĩ sống trong thời chế độ phong kiến đã khủng hoảng trầm trọng nên có tư tưởng muốn ẩn cư và sáng
tác những tác phẩm văn chương, khảo cứu về nhiều lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử, địa lí…
-Vũ trung tuỳ bút
(Tuỳ bút viết trong
những ngày mưa)- Tác
phẩm chữ Hán,
được viết đầu thế kỉ 19.
- Tang thương ngẫu lục.
Ngô gia văn phái
Một nhóm các tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây. Trong đó có hai tác giả chính là Ngô Thì Chí (1758- 1788) làm quan dưới thời Lê Chiêu Thống và Ngô Thì Du (1772- 1840) làm quan dưới thời Nguyễn.
Là dòng họ nổi tiếng về khoa bảng và làm quan.
Hoàng Lê nhất thống
chí (tác phẩm viết bằng
chữ Hán ghi chép về sự
thống nhất của vương
triều nhà Lê vào thời
điểm Tây Sơn diệt Trịnh
trả lại Bắc Hà cho vua
Lê)
Nguyễn Du
- Tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765- 1820), quê ở xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
- Ông sinh ra trong một gia đình quí tộc có nhiều đời làm quan và có truyền thống văn học, cha ông là Nguyễn Nghiễm làm đến chức tể tướng. Bản thân ông cũng thi đậu tam trường và làm quan dưới triều Lê và Nguyễn. Có cuộc đời từng trải, từng chạy vào Nam theo Nguyễn Ánh, bị bắt giam rồi được thả. Khi làm quan dưới triều Nguyễn được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc 2 lần, nhưng lần thứ 2 chưa kịp đi thì bị bệnh mất tại Huế.
Là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hoá
dân tộc và văn chương Trung Quốc. Cuộc đời từng
trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn Du
một vốn sống phong phú và niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ của nhân dân. Nguyễn Du là một thiên tài
văn học, là đại thi hào dân tộc, là danh nhân văn hoá thế giới và là một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn.
- Tác phẩm chữ Hán:
Thanh Hiên thi tập,
Bắc hành tạp lục, Nam
trung tạp ngâm.
- Tác phẩm chữ Nôm:
Truyện Kiều, Văn
chiêu hồn, Văn tế sống
hai cô gái Trường
Lưu…..
Nguyễn Đình Chiểu
Sinh 1822 mất 1888, quê cha ở Phong Điền- Thừa Thiên Huế, quê mẹ ở làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay là TP Hồ Chí Minh). Xuất thân từ một gia đình quan lại nhỏ, cuộc đời ông gặp nhiều bất hạnh, khổ đau nhưng với ý chí và nghị lực mạnh mẽ, sống vươn lên số phận, có ích cho đời.
- Là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước và tinh
thần bất khuất chống giặc ngoại xâm. Ông là nhà
thơ lớn của dân tộc, nhà thơ yêu nước.
- Thơ văn của ông mang phong cách của người dân
Nam Bộ, là vũ khí chiến đấu sắc bén.
Dương Từ - Hà Mậu,
Truyện Lục Vân Tiên,
Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc, Văn tế Trương
Định…
Chính Hữu
Tên thật là Trần Đình Đắc (1926- 2007) quê ở Can Lộc- Hà tĩnh. Năm 1946 ông gia nhập trung đoàn thủ đô.
- Là nhà thơ quân đội, tham gia cả hai cuộc
áng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ông được nhà
nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn
học nghệ thuật (2000)
-
 









Các ý kiến mới nhất