TỤC NGỮ, CA DAO, DÂN CA VIỆT NAM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:32' 22-02-2024
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:32' 22-02-2024
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
"Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam"
Vũ Ngọc Phan
Được xuất bản theo hợp đồng trao quyền sử dụng tác phẩm
giữa tác giả và Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của
Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Ngỏ cùng bạn đọc
Từ xưa đến nay, văn học dân gian luôn được xem là nguồn nước trong
lành, nuôi dưỡng, tắm mát tâm hồn người Việt Nam. Trải qua bao thăng
trầm của lịch sử, cùng dòng chảy bất tận của thời gian, vốn văn học dân
gian chẳng những không bị mai một mà còn được nhiều tác gia, nhiều đối
tượng nghiên cứu sưu tầm, biên soạn để làm sống lại nền văn học nước nhà
thời xưa cũ. Trong số các tác gia này phải kể đến nhà văn, nhà nghiên cứu
văn hóa Vũ Ngọc Phan. Ông là người có tầm ảnh hưởng lớn, đã góp phần
làm tỏa sáng hơn vẻ đẹp lấp lánh của những viên ngọc dân gian và tìm tòi
những kiến thức văn hóa luôn được giữ gìn, phát huy và lưu truyền từ đời
này qua đời khác của dân tộc Việt.
Một trong những vốn liếng văn học dân gian được nhân dân yêu thích
nhất là tục ngữ, ca dao, dân ca. Đây là ba thể loại riêng biệt có tính độc lập
rõ ràng nhưng về mặt ngữ điệu lại có liên quan chặt chẽ với nhau, đều là
những thể loại vần vè, dễ khoác với nhau nhờ sự vận dụng tương hợp giữa
lý trí, tình cảm, bao hàm cả nội tâm sâu sắc và kinh nghiệm đúc kết của
nghệ nhân sáng tác. Cũng vì sự hòa quyện này, đôi khi bạn đọc nhầm lẫn
giữa các thể loại văn học và khó định nghĩa, phân biệt giữa tục ngữ, ca dao
và dân ca. Hiểu được điều ấy, Vũ Ngọc Phan đã sưu tầm và biên soạn rõ
ràng, đầy đủ về các mặt nội dung và hình thức nghệ thuật của ba thể loại
này, hướng người đọc đến những suy nghĩ đúng đắn hơn và làm phong phú
hơn mạch nước ngọt ngào của văn học dân gian.
Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật không mệt mỏi, Vũ Ngọc Phan
thành công và được người đọc biết đến nhiều nhất qua bộ sách Nhà văn
hiện đại và Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam. Ông vinh dự được truy tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I (1996) cho hai tác
phẩm: Truyện cổ Việt Namvà Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam.
Hướng đến 115 năm ngày sinh của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, Công
ty Sách Phương Nam xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tuyển tập TỤC
NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM (in lần thứ 9). Tuyển tập bao gồm
những câu, những bài thuộc các thể loại tục ngữ, ca dao, dân ca mà Vũ
Ngọc Phan qua nhiều năm đã sưu tầm, nghiên cứu, chắt chiu được để đúc
kết lại cho đời sau. Đây thực sự là một kho tàng văn học dân gian đồ sộ,
phong phú mà qua đó, bạn đọc có thể chiêm nghiệm và hiểu hơn về đời
sống, phong tục, tập quán, văn hóa, tình cảm… của người xưa. Hi vọng
tuyển tập sẽ đem đến cho bạn đọc những điều thú vị và bổ ích. Trong quá
trình biên tập và soạn thảo, đôi khi có thể xảy ra những sai sót nhỏ, mong
nhận được những góp ý quý báu từ các quý độc giả.
CÔNG TY SÁCH PHƯƠNG NAM
VŨ NGỌC PHAN
(1902-1987)
Ảnh chụp năm 1959.
VŨ NGỌC PHAN - MẤY NÉT VỀ
TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM[1]
Nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan sinh ngày 8
tháng 9 năm 1902 tại Hà Nội. Nguyên quán làng Đông Cảo, huyện Gia
Bình (nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh). Xuất thân
trong một gia đình nho học lâu đời. Phụ thân ông đỗ Tú tài, dạy chữ Hán, là
một vị huấn đạo mẫu mực. Thủa nhỏ Vũ Ngọc Phan học chữ Hán, rồi
chuyển qua học chữ Pháp. Năm 1929, ông đỗ bằng Tú tài Pháp và bắt đầu
hoạt động văn hóa, xã hội. Lúc đầu ông dạy học tư và cộng tác với các báo:
Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà
Nội tân văn, Sông Hương, Công luận… Thời gian này ông dịch và phóng
tác nhiều tác phẩm văn học nước ngoài như: Y Vân Hoa, 2 tập (tức tiểu
thuyết Aivanhô của Waltor Scott); Châu đảo (tiểu thuyết của
R.L.Stevenson); An na Kha Lệ Ninh (tiểu thuyết Anna Karénina của
L.Tônxtôi); Lâu đài họ Hạ (tiểu thuyết của Hoffmann); Tiểu Nhiên Mị Cơ
(phóng tác theo tiểu thuyết T'rităng Izơn, bản của Jozép Bôđiê)… Ông
cũng viết một số bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941); Chuyện Hà Nội
(1944); phóng sự lịch sử (Pháp Nam trong thời kỳ binh hỏa, 1936). Tuy
nhiên trước 1945, Vũ Ngọc Phan thành công hơn cả và được nhiều người
biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (gồm 5 quyển). Đây là một bộ sách
nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên
cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ
ràng, thẳng thắn, dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác
của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó nhiều đánh giá, nhận
định của ông cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Sau Cách mạng tháng Tám, Vũ Ngọc Phan là biên tập viên báo Tiên
phong – Cơ quan ngôn luận của Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến
chống Pháp, ông là Ủy viên thường trực Đoàn Văn hóa kháng chiến Liên
khu IV, sau đó công tác trong ngành Văn nghệ Trung ương ở Việt Bắc, tham
gia viết đều cho các báoChống giặc, Văn hóa, Văn nghệ… Từ 1954, Vũ
Ngọc Phan lần lượt công tác ở Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa và Viện Văn
học. Ông là một trong những sáng lập viên Hội Văn nghệ dân gian Việt
Nam và nhiều năm làm Tổng Thư ký của Hội. Trong thời gian này, ông vẫn
tiếp tục làm công tác biên khảo, nghiên cứu, phê bình và dịch thuật. Những
bài nghiên cứu, phê bình và một số tiểu luận của ông được tập hợp, in trong
cuốn Qua những trang văn (1976).
Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực
sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955); Truyện
cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (chủ biên, 1961); Hợp tuyển văn học Việt
Nam (chủ biên, 1972)… Đáng chú ý hơn cả là tác phẩm Tục ngữ ca dao
dân ca Việt Namcó giá trị sâu sắc nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công
trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập hợp được khá
nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao, dân ca của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam...
Học rộng, biết nhiều, Vũ Ngọc Phan không những là một trí thức yêu
nước, yêu dân tộc mà ông còn là một con người đa năng, đa tài. Gần 60
năm lao động nghệ thuật, hoạt động xã hội bền bỉ, dẻo dai, ở lĩnh vực nào
ông cũng có những đóng góp đáng quý, đáng kể. Ông đã sống trọn vẹn một
cuộc sống có ích, dâng hiến và sự nghiệp của ông thật sự cần thiết cho đất
nước và nhân dân.
Năm 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về
Văn học Nghệ thuật cho hai tác phẩm: Truyện cổ Việt Nam và Tục ngữ ca
dao dân ca Việt Nam.
Vũ Ngọc Phan mất tại Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 1987.
TÁC PHẨM CHÍNH
* 1940: Trên đường nghệ thuật – Tiểu luận, Nhà xuất bản Nguyễn Du.
* 1942: - Tiểu Nhiên Mị Cơ (phóng tác theo tiểu thuyết T'rixtăng Izơn,
bản của Jozép Bôđiê), Nhà xuất bản Mới.
- Lâu đài họ Hạ (dịch tiểu thuyết của Hoffmann), Nhà xuất bản Tân Dân.
- Thi sĩ Trung Nam – Chân dung văn học, Nhà xuất bản Tân Dân.
- Nhà văn hiện đại (hai tập đầu), Nhà xuất bản Tân Dân.
* 1943: - An na Kha Lệ Ninh, (dịch tiểu thuyết Anna Karénina của
L.Tônxtôi), Nhà xuất bản Đời Nay.
- Nhà văn hiện đại, quyển 3, Nhà xuất bản Tân Dân.
* 1944: - Châu đảo (dịch tiểu thuyết của R.L.Stevenson).
- Chuyện Hà Nội – Bút ký, Nhà xuất bản Bách Việt.
- Nhà văn hiện đại, quyển 4 (tập Thượng, tập Hạ), Nhà xuất bản Tân
Dân.
- Những trận đánh Pháp – Ký sự lịch sử, Nhà xuất bản Đại La.
* 1954: Người Xô viết chúng tôi (dịch tập truyện của Bôirits Pôlêvôi),
Nhà xuất bản Văn nghệ.
* 1955: Truyện cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa.
* 1956: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa.
* 1957 - 1960: Tham gia biên soạn bộ sách Sơ thảo văn học Việt Nam
gồm 5 tập.
* 1963 - 1964: Chủ biên và viết giới thiệu công trình tập thể Truyện cổ
dân gian Việt Nam, gồm 4 quyển.
* 1966: Tấm Cám, Nhà xuất bản Kim Đồng (năm 1973, tập truyện này
được dịch và giới thiệu ở Thụy Điển).
* 1976: Qua những trang văn – Phê bình và tiểu luận, Nhà xuất bản Văn
học.
* 1987: Những năm tháng ấy – Hồi ký, Nhà xuất bản Văn học. Đây là
tác phẩm cuối cùng của Vũ Ngọc Phan.
* 2000: Vũ Ngọc Phan – Tác phẩm, gồm 5 tập, Nhà xuất bản Hội Nhà
văn.
* 2008: Vũ Ngọc Phan – Tác phẩm chọn lọc, gồm 4 tập, Nhà xuất bản
Văn học.
[1] Theo “Niên giám Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học
Nghệ thuật”, Bộ Văn hóa – Thông tin, 2003 và “Từ điển Văn học” (Bộ mới), Nhà xuất bản
Thế giới, 2004.
LỜI NÓI ĐẦU[2]
Để biên soạn quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM[3]
chúng tôi bắt đầu thu thập tài liệu từ năm 1953, ở Việt Bắc: một số câu, một
số bài do anh chị em văn nghệ đọc cho nghe, một số câu, một số bài do tôi
sưu tập ở các địa phương và một số câu, một số bài tôi lựa chọn ở sách báo
trong Nam, ngoài Bắc.
Sách ra đời năm 1956 ở Nhà xuất bản Văn Sử Địa, tiền thân của Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội ngày nay. Hồi ấy sách nghiên cứu lý luận văn
học rất thiếu, nên để kịp thời phục vụ nhân dân, phục vụ nghiên cứu văn
học và các ngành khoa học xã hội khác, chúng tôi đã không cầu toàn và
nghĩ rằng: in sách ra đã, rồi sẽ sửa chữa, bổ sung trong những lần in sau.
Được sự đồng ý của các nhà xuất bản, chúng tôi đã thực hiện được những
dự kiến ban đầu đó: trong 21 năm qua, quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN
CA VIỆT NAM được in lại lần này là lần thứ tám, mỗi lần in đều có sửa
chữa và bổ sung. Lần in này, chúng tôi cố gắng sửa và bổ sung kỹ hơn, vì
đất nước đã thống nhất, công việc sưu tầm và tra cứu đã dễ dàng hơn xưa.
Do chỉ đứng trên địa hạt văn học, nên ở phần dân ca, chúng tôi không
lấn sang lĩnh vực âm nhạc, không bàn đến làn điệu và giai điệu. Riêng về
dân ca quan họ Bắc Ninh, một loại dân ca mà thời xưa nhân dân hát không
cần khí nhạc kèm theo, chúng tôi có để tiếng đệm ở một số bài để bạn đọc
tham khảo. Dân ca mà tước đi những tiếng đệm và điệp khúc thì chỉ còn có
lời ca, giống như lời ở ca dao; nhưng nếu trong việc nghiên cứu vẫn phân
tích được nội dung tư tưởng tình cảm, đánh giá được hình thức nghệ thuật
thì công tác nghiên cứu văn học có lẽ cũng không đòi hỏi gì hơn.
Ngoài những đoạn, những bài nghiên cứu và tiểu dẫn, về mặt tư liệu,
quyển sách là một tuyển tập về tục ngữ, ca dao và dân ca Việt Nam, tức một
quyển chọn lọc những câu, những bài trong loại văn vần của văn học dân
gian truyền thống và văn học dân gian sau Cách mạng tháng Tám. Chúng
tôi không thu nhặt tất cả các tục ngữ, ca dao, dân ca một cách xô bồ. Quyển
sách là một tuyển tập về tục ngữ, ca dao, dân ca của dân tộc Việt nên phần
của đồng bào miền núi chỉ là một số tiêu biểu.
Muốn phục vụ tốt công tác nghiên cứu, nếu chỉ tuyển những câu, những
bài hay, những câu, những bài tiêu biểu trong tục ngữ, ca dao, dân ca không
thôi thì không đủ, cần sắp xếp theo nội dung, thì tra cứu mới tiện. Ví dụ
muốn có những câu tục ngữ, những bài ca dao để dẫn chứng cho bài viết
của mình về lao động sản xuất, về đấu tranh chống giai cấp phong kiến, về
đấu tranh chống thực dân quốc tế, hay về tình yêu nam nữ,… bạn đọc có thể
tìm ngay ở những chương mục có những câu tục ngữ, ca dao nói về những
đề tài ấy. Sắp xếp theo nội dung đòi hỏi sự nghiên cứu tỉ mỉ, vì có những
câu tục ngữ, những bài ca dao biểu hiện nhiều khía cạnh của tình cảm. Với
những câu, những bài có tư tưởng chống đối áp bức bóc lột của giai cấp
thống trị thì có thể thấy ngay được, nhưng ở nhiều câu ca dao khó mà phân
biệt đâu là mối tình nhẹ nhàng, có ý nghĩa bỡn cợt của đôi trai gái, đâu là
mối tình thắm thiết của những người muốn cùng nhau nên vợ nên chồng,
đâu là mối tình gắn bó của những người đã là vợ, là chồng. Những tình cảm
ấy rất tinh vi, liều lượng khó mà cân đo, vì nó thể hiện ở nhớ nhung, mong
ước, mơ tưởng, hờn giận, vui buồn, nên sắp xếp ca dao theo nội tâm của
quần chúng nhân dân là rất khó.
Chúng tôi chọn những câu, những bài hay, những câu, những bài tiêu
biểu trong tục ngữ ca dao và dân ca cũng là chọn một cách tương đối.
Những câu tục ngữ, những bài ca dao thật hay thì ai có trình độ thưởng thức
đều nhận thấy là hay. Nhưng làm một tuyển tập mà chỉ chọn những câu,
những bài thật hay thì không thể thành một quyển sách phong phú về nội
dung, nên bên cạnh những câu, những bài thật hay cũng cần có những câu,
những bài chỉ mới trên mức trung bình về hình thức nghệ thuật cũng như về
nội dung và tình cảm. Tình cảm và tư tưởng của nhân dân lao động, những
con người chất phác, không giống tình cảm và tư tưởng của giai cấp phong
kiến thống trị, nên việc sắp xếp theo nội dung cần phải rất thận trọng. Trên
nhận thức thì như vậy, nhưng khi bắt tay vào việc, trước những tài liệu bề
bộn, phức tạp, lại một số chưa chính xác, chúng tôi nhận thấy chúng tôi
cũng chỉ mới đạt tới một trình độ thấp trong việc sắp xếp theo nội dung, vì
đặt một câu, một bài theo đúng nội dung chính của nó, theo đúng khía cạnh
chính của nó là một việc khó.
Tục ngữ, ca dao và dân ca là ba thể loại khác nhau, mỗi thể loại có tính
độc lập của nó, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau, vì trong văn học dân
gian, chúng đều là những thể loại vần vè, dễ khoác với nhau, như chúng ta
thấy trong ca dao có tục ngữ, trong dân ca có cả ca dao lẫn tục ngữ và có
những câu nội dung là tục ngữ nhưng hình thức lại là ca dao. Sở dĩ có tình
hình như vậy là do trong sáng tác, nhân dân – cũng như văn nghệ sĩ – vận
dụng cả lý trí và tình cảm, vừa biểu lộ nội tâm vừa bày tỏ nhận định của
mình về ngoại cảm.
Trong sách này, chúng tôi sắp xếp theo nội dung. Những câu tục ngữ và
những câu ca dao cùng một nội dung, chúng tôi sắp xếp với nhau, để tránh
sự lặp lại, việc tra cứu cũng được thuận tiện. Một khi đã có những định
nghĩa rõ ràng về tục ngữ và ca dao trên các mặt nội dung và hình thức nghệ
thuật, thì không thể có sự lẫn lộn thể loại nọ với thể loại kia được. Còn dân
ca chúng tôi đặt riêng một chương, lý do là phần nhiều dân ca mang tính địa
phương và trong dân ca, có cả tục ngữ, ca dao, như trên chúng tôi đã nói.
Trong quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM (in lần thứ
tám) này, chúng tôi đã viết lại nhiều phần và bổ sung nhiều mục, trong đó
có mục Ca dao chống Mỹ, cứu nước. Quyển sách đã có mục Ca dao kháng
chiến chống Pháp thì phải có mục Ca dao chống Mỹ, cứu nước. Phong trào
sáng tác văn học thường liên tục, tiếp diễn từ thời nọ qua thời kia, ít khi có
sự gián đoạn. “Ca dao chống Mỹ, cứu nước” chẳng qua chỉ là một thể loại
dân gian kế tiếp “Ca dao kháng chiến chống Pháp”, nội dung của cả hai loại
ca dao đều có những điểm giống nhau, vì nó đều ra đời sau Cách mạng
tháng Tám và đều xuất hiện trong thời gian 30 năm chiến tranh chống đế
quốc xâm lược.
Để tiện việc tra cứu, chúng tôi chia quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN
CA VIỆT NAM này làm sáu phần:
Phần thứ nhất: Nội dung và hình thức nghệ thuật của tục ngữ, ca dao,
dân ca, và mối liên quan giữa những thể loại vần vè của văn học dân gian
với văn học thành văn.
Phần thứ hai: Quan hệ thiên nhiên.
Phần thứ ba: Quan hệ xã hội. Ở phần này, chúng tôi chia ra các mục:
“Tình yêu nam nữ”, “Hôn nhân và gia đình”, thái độ của nhân dân đối với
giai cấp phong kiến, đối với thực dân Pháp và tay sai; sau đó, đến các mục:
“Ca dao kháng chiến chống Pháp” và “Ca dao chống Mỹ, cứu nước”.
Phần thứ tư: Dân ca.
Phần thứ năm: Tục ngữ ca dao của đồng bào miền núi (chọn một số tiêu
biểu).
Phần thứ sáu: Kết luận.
Trong quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM in lần này,
chúng tôi đã sửa chữa nhiều đoạn, bổ sung nhiều câu, nhiều bài, nhưng
nước nhà mới thống nhất được hai năm, nên chúng tôi cũng chỉ mới sưu tập
thêm được một số ít ca dao, dân ca miền Nam. Về những ca dao, dân ca
mới tuyển này, chúng tôi chưa kiểm tra được ở địa phương, vì phải có thời
gian và điều kiện mới kiểm tra chu đáo được; tuy vậy, chúng tôi cũng đã
cân nhắc kỹ mới tuyển. Mong được bạn đọc các nơi bổ khuyết cho những
chỗ sai sót.
Hà Nội, ngày 15-2-1977
VŨ NGỌC PHAN
[2] Lời nói đầu ở bản in lần thứ tám.
[3] Trước kia nhan đề sách là Tục ngữ dân ca Việt Nam, từ lần in thứ bảy, chúng tôi
thêm hai chữ ca dao cho đầy đủ hơn. (V.N.P)
I - TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA
VIỆT NAM
1. VÀI NÉT VỀ CÔNG VIỆC SƯU TẬP
NGHIÊN CỨU TỤC NGỮ, CA DAO,
DÂN CA VIỆT NAM TỪ XƯA ÐẾN NAY
Sưu tập văn học dân gian không phải một việc mới. Cách đây trên 3.000
năm, văn học dân gian đã được sưu tập: 305 bài trong Kinh thi là do các
nhạc sư Trung Quốc sưu tập, san định và truyền lại[4]. Những thiên sử thi
Iliát và Ôđixê của Hômerơ ở cổ Hy Lạp cũng là những tác phẩm văn học
dân gian truyền lại từ ngót 3.000 năm nay.
Ở nước ta, những công trình sưu tập văn học dân gian sớm nhất là truyện
dân gian. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII đã có sách ghi những truyền thuyết,
như Báo cực truyện (chưa rõ tác giả) và Ngoại sử ký của Đỗ Thiện. Đến thế
kỷ XIV, Lý Tế Xuyên đã sưu tập biên soạn Việt điện u linh và đến thế kỷ
XV, Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã chỉnh lý và bổ sung Lĩnh Nam chích quái
của Trần Thế Pháp 9 (đời Trần). Về sau, còn nhiều công trình sưu tập, biên
soạn truyện cổ dân gian. Về tục ngữ, ca dao, dân ca thì công việc sưu tập,
biên soạn chỉ mới bắt đầu từ ngót hai trăm năm trở lại đây. Vào nửa cuối thế
kỷ XVIII, Trần Danh Án (hiệu Liễu Am) đã sưu tập và biên soạn Quốc
phong giải trào, và Nam phong nữ ngạn thi. Các soạn giả trên đây đã ghi
chép tục ngữ, ca dao, bằng chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Hán và chú thích, có ý
đem ca dao Việt Nam sánh với thơ “quốc phong” trong Kinh thi của Trung
Quốc.
Vào cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt chân
lên đất nước ta, trong công cuộc bình định của chúng, chúng rất chú ý sưu
tập văn học dân gian, vì chúng biết đây là vũ khí sắc bén của nhân dân
chống giai cấp phong kiến, chống kẻ xâm lược và bọn tay sai. Công tác sưu
tập và biên soạn văn học dân gian của thực dân Pháp đã có bọn quan cai trị
và đám cha cố đảm nhiệm. Bọn này một mặt cấm nhân dân ca hát những
bài có tính chất chống đối “nhà nước bảo hộ” và bọn quan lại; một mặt
xuyên tạc văn học dân gian của ta. Vào thời đó, trước sự suy đốn của bọn
vua quan nhà Nguyễn, nhân dân rất phẫn nộ, nên phong trào yêu nước của
nhân dân ta và của nhà nho ta rất mạnh. Về mặt chính trị đã dấy lên phong
trào Cần Vương và nhiều cuộc khởi nghĩa khác, về mặt văn học, tinh thần
dân tộc đã thể hiện ở những sáng tác dân gian (vè yêu nước) và ở những
công trình sưu tập, biên soạn những vốn văn học truyền thống. Người ta
thấy xuất hiện những sách chữ nôm sưu tập tục ngữ, ca dao: Thanh Hóa
quan phong sử của Vương Duy Trinh (hiệu Đạm Trai); An Nam phong thổ
thoại của Trần Tất Văn (hiệu Thiên Bảo cư sĩ); Quốc phong thi hợp thái của
Nguyễn Đăng Tuyển (hiệu Tiên Phong và Mộng Liên Đình); Việt Nam
phong sử của Nguyễn Văn Mại (tự Tiểu Cao); Đại Nam quốc túy của Ngô
Giáp Đậu (hiệu Tam Thanh); Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục (vô
danh); vân vân.
Sang đầu thế kỷ XX, chúng ta mới có những sách sưu tập tục ngữ, ca
dao bằng chữ quốc ngữ: Nam ngạn trích cẩm của Phạm Quang Sán (hiệu
Ngạc Đình);Gương phong tục của Đoàn Duy Bình (đăng trong Đông
Dương tạp chí); Việt Nam tổ quốc túy ngôn của Nguyễn Hữu Tiến và
Nguyễn Trọng Thuật; Ngạn ngữ phong dao của Nguyễn Can Mộng; Tục
ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, vân vân.
Đây là lần đầu tiên các nhà trí thức Việt Nam nhận rõ được giá trị văn
học của tục ngữ ca dao. Nguyễn Can Mộng đã viết: “Văn vần nước ta phôi
thai từ ngạn ngữ, rồi đến phong dao thì thành điệu, thành chương, có thể
ngâm nga được. Văn lục bát hay song thất sau này đều từ ở đấy cả”[5].
Nhận định của Nguyễn Can Mộng rất xác đáng. Vốn văn học dân gian
truyền thống của ta rất quý, nhưng những sách Hán Nôm ghi chép tục ngữ,
ca dao có làm người đọc thấy được giá trị của những vốn quý đó không?
Nguyễn Văn Ngọc đã đánh giá những sách Hán Nôm ấy như sau:
“Những sách này làm, hoặc không theo trật tự nào, hoặc đối nhau hai
câu một, hoặc chia ra từng mục: trời đất, năm tháng, tiền của, văn học;
từng thiên: Sơn Tây, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thừa Thiên; từng chương:
Tống Sơn, Nga Sơn, Hoàng Mỹ, Hởu Lộc, hoặc xếp lại theo từng thời đại
triều vua… Những câu chép trong sách thường có chú thích, phê bình. Tựu
trung một đôi quyển cũng gọi là có cắt nghĩa qua từng câu, hoặc kê cứu lai
lịch của cả các câu mà ghép cho câu, câu nào cũng có can thiệp đến lịch sử
nước nhà. Kể như thế, những sách tục ngữ phong dao không phải là hiếm.
Nhưng đáng tiếc rằng hiện có nhiều quyển chỉ mới là sách viết, bỏ quên
trong một thư viện nhà nào, chứ chưa từng đem ra công bố, ấn hành… Còn
một hai quyển đã xuất bản, cứ như chúng tôi xem, thì góp nhặt chưa có
phần dồi dào, chắc chắn, mà xếp đặt chưa lấy gì làm tinh tế hoàn hảo”[6].
Từ Cách mạng tháng Tám, với Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943
của Đảng, những hoạt động văn nghệ dân gian mới thật sự được nhen
nhóm, dần dần bùng lên và lan khắp cả nước. Trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, tuy điều kiện ấn loát thiếu thốn, một số bài về văn học dân
gian đã được in trên sách báo, như tập Thơ văn Cách mạng và kháng chiến,
bài Ca dao Nam bộ (đăng trên báo Cứu Quốc), Một ít hò vè mới Bình Trị
Thiên (đăng trong tạp chí Văn nghệ), nhiều ca dao kháng chiến chống Pháp
do nhân dân, cán bộ, bộ đội sáng tác, đăng trên báo Cứu Quốc, vân vân;
những sáng tác dân gian ấy đã phục vụ, trong một chừng mực nhất định,
sản xuất và chiến đấu, được nhân dân ca hát ở nhiều địa phương.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại, các tổ chức văn
hóa văn nghệ của ta mới khôi phục lại các bộ môn văn học nghệ thuật của
cả hai miền Nam Bắc, trong đó có văn học dân gian. Hàng vạn bài dân ca
quan họ Bắc Ninh; hát giặm; hát phường vải Nghệ Tĩnh; hát xoan, hát ghẹo
Phú Thọ, hò sông Mã, hát múa đèn Đông Anh ở Thanh Hóa; dân ca Liên
khu V; dân ca Bình Trị Thiên; dân ca của các dân tộc Thái, Tày, Nùng,
Mường, Mèo, Tây Nguyên…
Tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30-10-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng
tạo. Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất
cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ,
những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng. Các sáng
tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra dây
muống. Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng tác của quần chúng.
Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý. Muốn làm như thế thì cố nhiên
là phải có chính trị, có kỹ thuật, thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt,
khéo và đẹp”[7].
Như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy, những sáng tác của quần chúng nhân
dân rất giầu đẹp. Riêng thơ ca dân gian thì phong phú vô cùng. Mở đầu cho
mùa văn học dân gian nở rộ về ca dao dân ca là tập Tục ngữ, dân ca Việt
Nam, in lần thứ nhất năm 1956, trong đó có những bài thơ ca dân gian tiêu
biểu của ba miền Bắc, Trung, Nam. Tiếp đó, hàng loạt công trình sưu tập,
nghiên cứu nối tiếp nhau ra đời. Không kể những truyện cổ dân gian đủ các
loại, của nhiều dân tộc Việt Nam, riêng về tục ngữ, ca dao, dân ca có: Hát ví
Nghệ Tĩnh, hát phường vải, hát giặm Nghệ Tĩnh, Dân ca Nam Bộ, Dân ca
quan họ Bắc Ninh, Ca dao trước Cách mạng, Ca dao sưu tầm ở Thanh
Hóa, Dân ca miền Nam Trung Bộ, Dân ca Bình Trị Thiên, Trường ca Tây
Nguyên, Dân ca Mường, Dân ca Mèo, Vè thất thủ Kinh đô, Vè Nghệ Tĩnh,
Ca dao kháng chiến, Vè yêu nước chống đế quốc Pháp xâm lược, Ca dao
chống Mỹ, Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian
Việt Nam, Văn học dân gian (Lịch sử văn học Việt Nam), Tục ngữ Việt
Nam, Tục ngữ ca dao dân ca Hà Tây, ca dao chọn lọc, Ca dao ngoại
thành(Hà Nội), Ca dao sưu tầm, Hát ghẹo Vĩnh Phú, Ca dao lao động, Thơ
ca nhân dân chống Mỹ, cứu nước, Mái đẩy sông Hiền, Ca dao Thanh Hóa
(1945-1975), Cối gạo đêm trăng (Quảng Bình), v.v…
Quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM này chú trọng về
chất lượng hơn là về số lượng trong việc chọn những câu, những bài sáng
tác của nhân dân. Công việc sưu tập còn nhiều vấn đề phải giải quyết như
những bài có tên tác giả đã được “quần chúng hóa” từ lâu: những bài bị
chắp thêm câu mới, hoặc chắp câu lấy ở bài khác: một số câu, một số bài bị
sửa đôi ba chữ, rồi coi là “dị bản”, v.v… Những vấn đề ấy sẽ tồn tại với đời
sống của văn học dân gian, chúng tôi chưa đề cập đến trong quyển này.
Điều rõ nhất mà chúng ta đều thấy được là chưa một thời kỳ nào trong
lịch sử dân tộc, vốn văn hóa văn nghệ cổ truyền, trong đó có văn học dân
gian, lại được quý trọng và bảo vệ như dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
[4] Theo nhà nghiên cứu văn học cổ đại Trung Quốc, 305 bài trong Kinh thi là do các
nhạc sư đời Chu san định (thế kỷ XI đến thế kỷ VI trước Công nguyên) chứ không phải do
Khổng Tử san định. Thời Khổng Tử còn nhỏ, đã có 305 bài ấy rồi. (V.N.P)
[5] Bài tựa Ngạn ngữ phong dao (15-2-1936).
[6] Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, quyển I, tr.10 và 11, NXB Bốn Phương,
1925, Sài Gòn.
[7] Bàn về văn hóa văn nghệ, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1972.
2. CÓ THỂ TÌM XEM TỤC NGỮ, CA
DAO, DÂN CA CỦA TA XUẤT HIỆN
VÀO NHỮNG THỜI KỲ NHẤT ÐỊNH
NÀO KHÔNG?
So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ
tưởng như mới hơn và cao hơn. Nhưng tục ngữ ca dao, theo ý chúng tôi,
cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Theo nhận định
của Lỗ Tấn, khi đẩy được một vật gì nặng, một người hò lên mấy tiếng “Dô
ta” nhịp nhàng, thì đó cũng là sáng tác, và nếu tất cả mọi người khác cũng
hò “Dô ta” thì đó là một cách “xuất bản”. Như vậy, ca hát có rất sớm, nó
xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ và hình thức thô sơ của nó đã được
sửa đổi qua các thế hệ của loài người.
Văn học phản ánh kinh tế và chính trị của một thời đại. Như vậy, văn học
nào cũng thế, dù là văn học dân gian, đều có nói lên trong một chừng mực
nhất định, những tình cảm, tư tưởng của tác giả trong hoàn cảnh xã hội mà
tác giả đã sống.
Vậy đối với cái rừng tục ngữ ca dao của ta, chúng ta làm thế nào biết
được những câu và những bài xuất hiện vào một thời cổ nhất.
Nghiên cứu về sử liệu Việt Nam, trong ngôn ngữ, có người đã kể câu:
“Năm cha ba mẹ” và viết: “…Ta có thể ngờ rằng đó là nhắc lại cái tình
trạng tạp giao hay cái tình trạng chồng chung vợ chạ. Đến như: “Sinh con
rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”. Câu này thì rõ ràng
lắm, nó tóm tắt cái quá trình tạp giao từ mẫu hệ, rồi đến phụ hệ. Thời kỳ
tạp giao chỉ biết có mẹ đẻ ra con mà thôi, hoàn toàn không có cái danh từ
cha nữa”[8]. Chúng ta thấy rằng nếu cái từ cha chưa có, thì những câu trên
đây, chỉ có thể xuất hiện vào một thời sau nào đó.
Nhưng thời sau đó là thời nào? Vì tính chất truyền khẩu của những câu
chuyện thời xưa, những câu ca dao nói lên những câu chuyện ấy không cứ
phải xuất hiện vào một thời sát với thời có câu chuyện. Bởi vậy, chỉ riêng
nội dung câu hát không đủ chứng tỏ câu ấy xuất hiện vào một thời cổ nào,
mà cần phải xét đến cả lời nữa, vì về văn học, sự tương quan mật thiết giữa
nội dung tư tưởng và hình thức câu văn rất là quan trọng. Theo ý chúng tôi,
những tục ngữ, ca dao mang một nội dung rất cổ, lại dùng những tiếng cổ
nhất, mộc mạc nhất, có thể là những câu, những bài cổ nhất.
Từ lâu tiếng Việt Nam ta đã là một thứ tiếng độc lập. Sử cũ Trung Quốc
có chép: “Về đời vua Thành Vương nhà Chu (1109 trước Công nguyên) có
nước Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống.
Phải phiên dịch ba lần mới thông hiểu được tiếng nhau”.
Theo các nhà ngôn ngữ học, thứ tiếng nói tối cổ của dân tộc ta, do sự
tiếp xúc giữa các dân tộc, đã chịu ảnh hưởng của các tiếng Ấn Độ, Mã Lai,
Thái, Trung Quốc; còn cụ thể ra, tiếng nói tối cổ ấy như thế nào, nó có
giống tiếng Việt Nam ta nói bây giờ không thì vẫn chưa rõ.
Mãi cuối thế kỷ thứ VIII, sau khi Phùng Hưng chết, nhân dân lập đền thờ
ông và suy tôn là “Bố Cái đại vương”[9], người ta mới căn cứ vào hai chữ
bố cái mà nói: tiếng Việt Nam ta vào thời Phùng Hưng tuy chưa phát triển
mấy, nhưng cũng đã giống như tiếng thông dụng, chỉ có chữ cái bây giờ chỉ
vào loài vật nhiều hơn là chỉ vào người.
Ta vẫn còn câu tục ngữ:
Con dại, cái mang.
Câu này có thể là rất cổ, nói đến thời mẫu hệ: những hành động của con,
người mẹ chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nó không giống câu “Con hư tại mẹ”
chỉ để chỉ vào những đứa con nhỏ được mẹ nuông chiều. Nhưng còn câu
trên này xuất hiện vào thời nào thì chúng ta cũng không ức đoán được, mà
chỉ biết nó là một câu cổ về cả nội dung lẫn hình thức.
Lại có câu: “Con mống, sống mang” chỉ vào thời phụ hệ. Câu này cũng
là một câu cổ, còn nó xuất hiện vào thời nào, chúng ta cũng chưa biết được.
Chữ mốngđấy có nghĩa là nổi lên, làm một việc chống đối gì. Còn sống chỉ
vào cha (sống, mái tức là đực, cái). Câu trên này có nghĩa là: con làm việc
gì thì cha phải chịu trách nhiệm. Gia trưởng có quyền hành trong gia đình,
nên khi trong gia đình xảy ra việc gì thì bọn thống trị tróc vào đầu gia
trưởng.
Vấn đề nhận định những chữ nào là cổ trong lời ca cũng chỉ là một vấn
đề chúng ta có thể giải quyết trong một phạm vi rất hẹp. Nhưng xét cho
cùng, nội dung bài ca vẫn là phần quan trọng. Vì chỉ nội dung mới nói lên
cho ta biết tư tưởng và tình cảm của người lao động. Những bài ca dao: Lạy
ông nắng lên…, Lạy trời mưa xuống…, Tay cầm con dao, làm sao cho sắc,
v.v…, đều là những bài mà nội dung của nó rất cổ. Về hình thức thì những
câu hai chữ một, phần nhiều cũng có thể coi là những câu cổ. Thí dụ: Cơm
no, bò cưỡi; Cơm tẻ, mẹ ruột; Bán vợ, đợ con; Cơm đồ, nhà gác; Nước vác,
lợn thui; Ngày lui, tháng tới… và những câu bốn chữ một, như chúng tôi
vừa dẫn trên đây.
[8] Bài Thử tìm sử liệu Việt Nam ngữ ngôn, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, số 3,
trang 40, năm 1954.
[9] Sách Việt sử thông giám cương mục tiền biên giải thích: tục xưa gọi cha là bố, gọi
mẹ là cái.
3. "CA DAO LỊCH SỬ", THỰC CHẤT
NÓ NHƯ THẾ NÀO?
Trong ca dao của ta, có một số ca dao mà người ta quen gọi là “ca dao
lịch sử”. Sự thật thì văn học nói chung, như chúng tôi đã nói trên, đều phản
ánh chính trị và kinh tế một thời đại, cho nên ca dao của ta, một bộ phận lớn
trong văn học dân gian truyền miệng, cũng có tác dụng phản ánh như văn
học thành văn.
Theo báo cáo của nhà thơ Xuân Diệu, sang thăm Hung-ga-ri trở về,
trong một buổi họp với các nghệ sĩ Việt Nam năm 1956, thì ở nước bạn
chúng ta, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã sưu tập được tám vạn bài
dân ca, và trong số này, sáu vạn bài đã có đủ lý lịch, nghĩa là người ta đã
biết nó xuất hiện vào thời nào, do nhân dân ở những địa phương nào ca hát
vào trường hợp nào. Lẽ tự nhiên là các dân ca của ta cũng xuất hiện vào
những thời kỳ khác nhau trong lịch sử, nhưng hiện nay chúng ta chưa làm
được như nước bạn, vì những lý do sau đây:
• Tục ngữ, ca dao của ta ít nói đến tên người, tên đất, ít nói đến những
biến chuyển lớn trong xã hội.
• Tục ngữ, ca dao của ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến
gia đình, đến lao động và sản xuất. Suốt tro...
Vũ Ngọc Phan
Được xuất bản theo hợp đồng trao quyền sử dụng tác phẩm
giữa tác giả và Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của
Công ty TNHH Sách Phương Nam.
Ngỏ cùng bạn đọc
Từ xưa đến nay, văn học dân gian luôn được xem là nguồn nước trong
lành, nuôi dưỡng, tắm mát tâm hồn người Việt Nam. Trải qua bao thăng
trầm của lịch sử, cùng dòng chảy bất tận của thời gian, vốn văn học dân
gian chẳng những không bị mai một mà còn được nhiều tác gia, nhiều đối
tượng nghiên cứu sưu tầm, biên soạn để làm sống lại nền văn học nước nhà
thời xưa cũ. Trong số các tác gia này phải kể đến nhà văn, nhà nghiên cứu
văn hóa Vũ Ngọc Phan. Ông là người có tầm ảnh hưởng lớn, đã góp phần
làm tỏa sáng hơn vẻ đẹp lấp lánh của những viên ngọc dân gian và tìm tòi
những kiến thức văn hóa luôn được giữ gìn, phát huy và lưu truyền từ đời
này qua đời khác của dân tộc Việt.
Một trong những vốn liếng văn học dân gian được nhân dân yêu thích
nhất là tục ngữ, ca dao, dân ca. Đây là ba thể loại riêng biệt có tính độc lập
rõ ràng nhưng về mặt ngữ điệu lại có liên quan chặt chẽ với nhau, đều là
những thể loại vần vè, dễ khoác với nhau nhờ sự vận dụng tương hợp giữa
lý trí, tình cảm, bao hàm cả nội tâm sâu sắc và kinh nghiệm đúc kết của
nghệ nhân sáng tác. Cũng vì sự hòa quyện này, đôi khi bạn đọc nhầm lẫn
giữa các thể loại văn học và khó định nghĩa, phân biệt giữa tục ngữ, ca dao
và dân ca. Hiểu được điều ấy, Vũ Ngọc Phan đã sưu tầm và biên soạn rõ
ràng, đầy đủ về các mặt nội dung và hình thức nghệ thuật của ba thể loại
này, hướng người đọc đến những suy nghĩ đúng đắn hơn và làm phong phú
hơn mạch nước ngọt ngào của văn học dân gian.
Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật không mệt mỏi, Vũ Ngọc Phan
thành công và được người đọc biết đến nhiều nhất qua bộ sách Nhà văn
hiện đại và Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam. Ông vinh dự được truy tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật đợt I (1996) cho hai tác
phẩm: Truyện cổ Việt Namvà Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam.
Hướng đến 115 năm ngày sinh của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, Công
ty Sách Phương Nam xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc tuyển tập TỤC
NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM (in lần thứ 9). Tuyển tập bao gồm
những câu, những bài thuộc các thể loại tục ngữ, ca dao, dân ca mà Vũ
Ngọc Phan qua nhiều năm đã sưu tầm, nghiên cứu, chắt chiu được để đúc
kết lại cho đời sau. Đây thực sự là một kho tàng văn học dân gian đồ sộ,
phong phú mà qua đó, bạn đọc có thể chiêm nghiệm và hiểu hơn về đời
sống, phong tục, tập quán, văn hóa, tình cảm… của người xưa. Hi vọng
tuyển tập sẽ đem đến cho bạn đọc những điều thú vị và bổ ích. Trong quá
trình biên tập và soạn thảo, đôi khi có thể xảy ra những sai sót nhỏ, mong
nhận được những góp ý quý báu từ các quý độc giả.
CÔNG TY SÁCH PHƯƠNG NAM
VŨ NGỌC PHAN
(1902-1987)
Ảnh chụp năm 1959.
VŨ NGỌC PHAN - MẤY NÉT VỀ
TIỂU SỬ VÀ TÁC PHẨM[1]
Nhà văn, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan sinh ngày 8
tháng 9 năm 1902 tại Hà Nội. Nguyên quán làng Đông Cảo, huyện Gia
Bình (nay là xã Đông Cứu, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh). Xuất thân
trong một gia đình nho học lâu đời. Phụ thân ông đỗ Tú tài, dạy chữ Hán, là
một vị huấn đạo mẫu mực. Thủa nhỏ Vũ Ngọc Phan học chữ Hán, rồi
chuyển qua học chữ Pháp. Năm 1929, ông đỗ bằng Tú tài Pháp và bắt đầu
hoạt động văn hóa, xã hội. Lúc đầu ông dạy học tư và cộng tác với các báo:
Nhật Tân, Trung Bắc tân văn, Pháp Việt, Văn học, Trung Bắc chủ nhật, Hà
Nội tân văn, Sông Hương, Công luận… Thời gian này ông dịch và phóng
tác nhiều tác phẩm văn học nước ngoài như: Y Vân Hoa, 2 tập (tức tiểu
thuyết Aivanhô của Waltor Scott); Châu đảo (tiểu thuyết của
R.L.Stevenson); An na Kha Lệ Ninh (tiểu thuyết Anna Karénina của
L.Tônxtôi); Lâu đài họ Hạ (tiểu thuyết của Hoffmann); Tiểu Nhiên Mị Cơ
(phóng tác theo tiểu thuyết T'rităng Izơn, bản của Jozép Bôđiê)… Ông
cũng viết một số bút ký: Nhìn sang láng giềng (1941); Chuyện Hà Nội
(1944); phóng sự lịch sử (Pháp Nam trong thời kỳ binh hỏa, 1936). Tuy
nhiên trước 1945, Vũ Ngọc Phan thành công hơn cả và được nhiều người
biết tiếng qua bộ sách Nhà văn hiện đại (gồm 5 quyển). Đây là một bộ sách
nghiên cứu khá đồ sộ, công phu và nghiêm túc. Bằng phương pháp nghiên
cứu khoa học, căn cứ vào những bằng chứng xác thực, thái độ khen chê rõ
ràng, thẳng thắn, dứt khoát, Vũ Ngọc Phan đã bước đầu tổng kết sáng tác
của 79 nhà thơ, nhà văn Việt Nam hiện đại, trong đó nhiều đánh giá, nhận
định của ông cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Sau Cách mạng tháng Tám, Vũ Ngọc Phan là biên tập viên báo Tiên
phong – Cơ quan ngôn luận của Hội Văn hóa cứu quốc. Trong kháng chiến
chống Pháp, ông là Ủy viên thường trực Đoàn Văn hóa kháng chiến Liên
khu IV, sau đó công tác trong ngành Văn nghệ Trung ương ở Việt Bắc, tham
gia viết đều cho các báoChống giặc, Văn hóa, Văn nghệ… Từ 1954, Vũ
Ngọc Phan lần lượt công tác ở Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa và Viện Văn
học. Ông là một trong những sáng lập viên Hội Văn nghệ dân gian Việt
Nam và nhiều năm làm Tổng Thư ký của Hội. Trong thời gian này, ông vẫn
tiếp tục làm công tác biên khảo, nghiên cứu, phê bình và dịch thuật. Những
bài nghiên cứu, phê bình và một số tiểu luận của ông được tập hợp, in trong
cuốn Qua những trang văn (1976).
Thành tựu chủ yếu của Vũ Ngọc Phan trong giai đoạn này thuộc lĩnh vực
sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian: Truyện cổ Việt Nam (1955); Truyện
cổ dân gian các dân tộc Việt Nam (chủ biên, 1961); Hợp tuyển văn học Việt
Nam (chủ biên, 1972)… Đáng chú ý hơn cả là tác phẩm Tục ngữ ca dao
dân ca Việt Namcó giá trị sâu sắc nhiều mặt, được tái bản nhiều lần. Công
trình này là kết quả của nhiều năm sưu tầm, nghiên cứu, tập hợp được khá
nhiều tinh hoa tục ngữ, ca dao, dân ca của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam...
Học rộng, biết nhiều, Vũ Ngọc Phan không những là một trí thức yêu
nước, yêu dân tộc mà ông còn là một con người đa năng, đa tài. Gần 60
năm lao động nghệ thuật, hoạt động xã hội bền bỉ, dẻo dai, ở lĩnh vực nào
ông cũng có những đóng góp đáng quý, đáng kể. Ông đã sống trọn vẹn một
cuộc sống có ích, dâng hiến và sự nghiệp của ông thật sự cần thiết cho đất
nước và nhân dân.
Năm 1996, Vũ Ngọc Phan được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về
Văn học Nghệ thuật cho hai tác phẩm: Truyện cổ Việt Nam và Tục ngữ ca
dao dân ca Việt Nam.
Vũ Ngọc Phan mất tại Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 1987.
TÁC PHẨM CHÍNH
* 1940: Trên đường nghệ thuật – Tiểu luận, Nhà xuất bản Nguyễn Du.
* 1942: - Tiểu Nhiên Mị Cơ (phóng tác theo tiểu thuyết T'rixtăng Izơn,
bản của Jozép Bôđiê), Nhà xuất bản Mới.
- Lâu đài họ Hạ (dịch tiểu thuyết của Hoffmann), Nhà xuất bản Tân Dân.
- Thi sĩ Trung Nam – Chân dung văn học, Nhà xuất bản Tân Dân.
- Nhà văn hiện đại (hai tập đầu), Nhà xuất bản Tân Dân.
* 1943: - An na Kha Lệ Ninh, (dịch tiểu thuyết Anna Karénina của
L.Tônxtôi), Nhà xuất bản Đời Nay.
- Nhà văn hiện đại, quyển 3, Nhà xuất bản Tân Dân.
* 1944: - Châu đảo (dịch tiểu thuyết của R.L.Stevenson).
- Chuyện Hà Nội – Bút ký, Nhà xuất bản Bách Việt.
- Nhà văn hiện đại, quyển 4 (tập Thượng, tập Hạ), Nhà xuất bản Tân
Dân.
- Những trận đánh Pháp – Ký sự lịch sử, Nhà xuất bản Đại La.
* 1954: Người Xô viết chúng tôi (dịch tập truyện của Bôirits Pôlêvôi),
Nhà xuất bản Văn nghệ.
* 1955: Truyện cổ Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa.
* 1956: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa.
* 1957 - 1960: Tham gia biên soạn bộ sách Sơ thảo văn học Việt Nam
gồm 5 tập.
* 1963 - 1964: Chủ biên và viết giới thiệu công trình tập thể Truyện cổ
dân gian Việt Nam, gồm 4 quyển.
* 1966: Tấm Cám, Nhà xuất bản Kim Đồng (năm 1973, tập truyện này
được dịch và giới thiệu ở Thụy Điển).
* 1976: Qua những trang văn – Phê bình và tiểu luận, Nhà xuất bản Văn
học.
* 1987: Những năm tháng ấy – Hồi ký, Nhà xuất bản Văn học. Đây là
tác phẩm cuối cùng của Vũ Ngọc Phan.
* 2000: Vũ Ngọc Phan – Tác phẩm, gồm 5 tập, Nhà xuất bản Hội Nhà
văn.
* 2008: Vũ Ngọc Phan – Tác phẩm chọn lọc, gồm 4 tập, Nhà xuất bản
Văn học.
[1] Theo “Niên giám Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về Văn học
Nghệ thuật”, Bộ Văn hóa – Thông tin, 2003 và “Từ điển Văn học” (Bộ mới), Nhà xuất bản
Thế giới, 2004.
LỜI NÓI ĐẦU[2]
Để biên soạn quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM[3]
chúng tôi bắt đầu thu thập tài liệu từ năm 1953, ở Việt Bắc: một số câu, một
số bài do anh chị em văn nghệ đọc cho nghe, một số câu, một số bài do tôi
sưu tập ở các địa phương và một số câu, một số bài tôi lựa chọn ở sách báo
trong Nam, ngoài Bắc.
Sách ra đời năm 1956 ở Nhà xuất bản Văn Sử Địa, tiền thân của Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội ngày nay. Hồi ấy sách nghiên cứu lý luận văn
học rất thiếu, nên để kịp thời phục vụ nhân dân, phục vụ nghiên cứu văn
học và các ngành khoa học xã hội khác, chúng tôi đã không cầu toàn và
nghĩ rằng: in sách ra đã, rồi sẽ sửa chữa, bổ sung trong những lần in sau.
Được sự đồng ý của các nhà xuất bản, chúng tôi đã thực hiện được những
dự kiến ban đầu đó: trong 21 năm qua, quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN
CA VIỆT NAM được in lại lần này là lần thứ tám, mỗi lần in đều có sửa
chữa và bổ sung. Lần in này, chúng tôi cố gắng sửa và bổ sung kỹ hơn, vì
đất nước đã thống nhất, công việc sưu tầm và tra cứu đã dễ dàng hơn xưa.
Do chỉ đứng trên địa hạt văn học, nên ở phần dân ca, chúng tôi không
lấn sang lĩnh vực âm nhạc, không bàn đến làn điệu và giai điệu. Riêng về
dân ca quan họ Bắc Ninh, một loại dân ca mà thời xưa nhân dân hát không
cần khí nhạc kèm theo, chúng tôi có để tiếng đệm ở một số bài để bạn đọc
tham khảo. Dân ca mà tước đi những tiếng đệm và điệp khúc thì chỉ còn có
lời ca, giống như lời ở ca dao; nhưng nếu trong việc nghiên cứu vẫn phân
tích được nội dung tư tưởng tình cảm, đánh giá được hình thức nghệ thuật
thì công tác nghiên cứu văn học có lẽ cũng không đòi hỏi gì hơn.
Ngoài những đoạn, những bài nghiên cứu và tiểu dẫn, về mặt tư liệu,
quyển sách là một tuyển tập về tục ngữ, ca dao và dân ca Việt Nam, tức một
quyển chọn lọc những câu, những bài trong loại văn vần của văn học dân
gian truyền thống và văn học dân gian sau Cách mạng tháng Tám. Chúng
tôi không thu nhặt tất cả các tục ngữ, ca dao, dân ca một cách xô bồ. Quyển
sách là một tuyển tập về tục ngữ, ca dao, dân ca của dân tộc Việt nên phần
của đồng bào miền núi chỉ là một số tiêu biểu.
Muốn phục vụ tốt công tác nghiên cứu, nếu chỉ tuyển những câu, những
bài hay, những câu, những bài tiêu biểu trong tục ngữ, ca dao, dân ca không
thôi thì không đủ, cần sắp xếp theo nội dung, thì tra cứu mới tiện. Ví dụ
muốn có những câu tục ngữ, những bài ca dao để dẫn chứng cho bài viết
của mình về lao động sản xuất, về đấu tranh chống giai cấp phong kiến, về
đấu tranh chống thực dân quốc tế, hay về tình yêu nam nữ,… bạn đọc có thể
tìm ngay ở những chương mục có những câu tục ngữ, ca dao nói về những
đề tài ấy. Sắp xếp theo nội dung đòi hỏi sự nghiên cứu tỉ mỉ, vì có những
câu tục ngữ, những bài ca dao biểu hiện nhiều khía cạnh của tình cảm. Với
những câu, những bài có tư tưởng chống đối áp bức bóc lột của giai cấp
thống trị thì có thể thấy ngay được, nhưng ở nhiều câu ca dao khó mà phân
biệt đâu là mối tình nhẹ nhàng, có ý nghĩa bỡn cợt của đôi trai gái, đâu là
mối tình thắm thiết của những người muốn cùng nhau nên vợ nên chồng,
đâu là mối tình gắn bó của những người đã là vợ, là chồng. Những tình cảm
ấy rất tinh vi, liều lượng khó mà cân đo, vì nó thể hiện ở nhớ nhung, mong
ước, mơ tưởng, hờn giận, vui buồn, nên sắp xếp ca dao theo nội tâm của
quần chúng nhân dân là rất khó.
Chúng tôi chọn những câu, những bài hay, những câu, những bài tiêu
biểu trong tục ngữ ca dao và dân ca cũng là chọn một cách tương đối.
Những câu tục ngữ, những bài ca dao thật hay thì ai có trình độ thưởng thức
đều nhận thấy là hay. Nhưng làm một tuyển tập mà chỉ chọn những câu,
những bài thật hay thì không thể thành một quyển sách phong phú về nội
dung, nên bên cạnh những câu, những bài thật hay cũng cần có những câu,
những bài chỉ mới trên mức trung bình về hình thức nghệ thuật cũng như về
nội dung và tình cảm. Tình cảm và tư tưởng của nhân dân lao động, những
con người chất phác, không giống tình cảm và tư tưởng của giai cấp phong
kiến thống trị, nên việc sắp xếp theo nội dung cần phải rất thận trọng. Trên
nhận thức thì như vậy, nhưng khi bắt tay vào việc, trước những tài liệu bề
bộn, phức tạp, lại một số chưa chính xác, chúng tôi nhận thấy chúng tôi
cũng chỉ mới đạt tới một trình độ thấp trong việc sắp xếp theo nội dung, vì
đặt một câu, một bài theo đúng nội dung chính của nó, theo đúng khía cạnh
chính của nó là một việc khó.
Tục ngữ, ca dao và dân ca là ba thể loại khác nhau, mỗi thể loại có tính
độc lập của nó, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau, vì trong văn học dân
gian, chúng đều là những thể loại vần vè, dễ khoác với nhau, như chúng ta
thấy trong ca dao có tục ngữ, trong dân ca có cả ca dao lẫn tục ngữ và có
những câu nội dung là tục ngữ nhưng hình thức lại là ca dao. Sở dĩ có tình
hình như vậy là do trong sáng tác, nhân dân – cũng như văn nghệ sĩ – vận
dụng cả lý trí và tình cảm, vừa biểu lộ nội tâm vừa bày tỏ nhận định của
mình về ngoại cảm.
Trong sách này, chúng tôi sắp xếp theo nội dung. Những câu tục ngữ và
những câu ca dao cùng một nội dung, chúng tôi sắp xếp với nhau, để tránh
sự lặp lại, việc tra cứu cũng được thuận tiện. Một khi đã có những định
nghĩa rõ ràng về tục ngữ và ca dao trên các mặt nội dung và hình thức nghệ
thuật, thì không thể có sự lẫn lộn thể loại nọ với thể loại kia được. Còn dân
ca chúng tôi đặt riêng một chương, lý do là phần nhiều dân ca mang tính địa
phương và trong dân ca, có cả tục ngữ, ca dao, như trên chúng tôi đã nói.
Trong quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM (in lần thứ
tám) này, chúng tôi đã viết lại nhiều phần và bổ sung nhiều mục, trong đó
có mục Ca dao chống Mỹ, cứu nước. Quyển sách đã có mục Ca dao kháng
chiến chống Pháp thì phải có mục Ca dao chống Mỹ, cứu nước. Phong trào
sáng tác văn học thường liên tục, tiếp diễn từ thời nọ qua thời kia, ít khi có
sự gián đoạn. “Ca dao chống Mỹ, cứu nước” chẳng qua chỉ là một thể loại
dân gian kế tiếp “Ca dao kháng chiến chống Pháp”, nội dung của cả hai loại
ca dao đều có những điểm giống nhau, vì nó đều ra đời sau Cách mạng
tháng Tám và đều xuất hiện trong thời gian 30 năm chiến tranh chống đế
quốc xâm lược.
Để tiện việc tra cứu, chúng tôi chia quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN
CA VIỆT NAM này làm sáu phần:
Phần thứ nhất: Nội dung và hình thức nghệ thuật của tục ngữ, ca dao,
dân ca, và mối liên quan giữa những thể loại vần vè của văn học dân gian
với văn học thành văn.
Phần thứ hai: Quan hệ thiên nhiên.
Phần thứ ba: Quan hệ xã hội. Ở phần này, chúng tôi chia ra các mục:
“Tình yêu nam nữ”, “Hôn nhân và gia đình”, thái độ của nhân dân đối với
giai cấp phong kiến, đối với thực dân Pháp và tay sai; sau đó, đến các mục:
“Ca dao kháng chiến chống Pháp” và “Ca dao chống Mỹ, cứu nước”.
Phần thứ tư: Dân ca.
Phần thứ năm: Tục ngữ ca dao của đồng bào miền núi (chọn một số tiêu
biểu).
Phần thứ sáu: Kết luận.
Trong quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM in lần này,
chúng tôi đã sửa chữa nhiều đoạn, bổ sung nhiều câu, nhiều bài, nhưng
nước nhà mới thống nhất được hai năm, nên chúng tôi cũng chỉ mới sưu tập
thêm được một số ít ca dao, dân ca miền Nam. Về những ca dao, dân ca
mới tuyển này, chúng tôi chưa kiểm tra được ở địa phương, vì phải có thời
gian và điều kiện mới kiểm tra chu đáo được; tuy vậy, chúng tôi cũng đã
cân nhắc kỹ mới tuyển. Mong được bạn đọc các nơi bổ khuyết cho những
chỗ sai sót.
Hà Nội, ngày 15-2-1977
VŨ NGỌC PHAN
[2] Lời nói đầu ở bản in lần thứ tám.
[3] Trước kia nhan đề sách là Tục ngữ dân ca Việt Nam, từ lần in thứ bảy, chúng tôi
thêm hai chữ ca dao cho đầy đủ hơn. (V.N.P)
I - TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA
VIỆT NAM
1. VÀI NÉT VỀ CÔNG VIỆC SƯU TẬP
NGHIÊN CỨU TỤC NGỮ, CA DAO,
DÂN CA VIỆT NAM TỪ XƯA ÐẾN NAY
Sưu tập văn học dân gian không phải một việc mới. Cách đây trên 3.000
năm, văn học dân gian đã được sưu tập: 305 bài trong Kinh thi là do các
nhạc sư Trung Quốc sưu tập, san định và truyền lại[4]. Những thiên sử thi
Iliát và Ôđixê của Hômerơ ở cổ Hy Lạp cũng là những tác phẩm văn học
dân gian truyền lại từ ngót 3.000 năm nay.
Ở nước ta, những công trình sưu tập văn học dân gian sớm nhất là truyện
dân gian. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII đã có sách ghi những truyền thuyết,
như Báo cực truyện (chưa rõ tác giả) và Ngoại sử ký của Đỗ Thiện. Đến thế
kỷ XIV, Lý Tế Xuyên đã sưu tập biên soạn Việt điện u linh và đến thế kỷ
XV, Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã chỉnh lý và bổ sung Lĩnh Nam chích quái
của Trần Thế Pháp 9 (đời Trần). Về sau, còn nhiều công trình sưu tập, biên
soạn truyện cổ dân gian. Về tục ngữ, ca dao, dân ca thì công việc sưu tập,
biên soạn chỉ mới bắt đầu từ ngót hai trăm năm trở lại đây. Vào nửa cuối thế
kỷ XVIII, Trần Danh Án (hiệu Liễu Am) đã sưu tập và biên soạn Quốc
phong giải trào, và Nam phong nữ ngạn thi. Các soạn giả trên đây đã ghi
chép tục ngữ, ca dao, bằng chữ Nôm, rồi dịch ra chữ Hán và chú thích, có ý
đem ca dao Việt Nam sánh với thơ “quốc phong” trong Kinh thi của Trung
Quốc.
Vào cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đặt chân
lên đất nước ta, trong công cuộc bình định của chúng, chúng rất chú ý sưu
tập văn học dân gian, vì chúng biết đây là vũ khí sắc bén của nhân dân
chống giai cấp phong kiến, chống kẻ xâm lược và bọn tay sai. Công tác sưu
tập và biên soạn văn học dân gian của thực dân Pháp đã có bọn quan cai trị
và đám cha cố đảm nhiệm. Bọn này một mặt cấm nhân dân ca hát những
bài có tính chất chống đối “nhà nước bảo hộ” và bọn quan lại; một mặt
xuyên tạc văn học dân gian của ta. Vào thời đó, trước sự suy đốn của bọn
vua quan nhà Nguyễn, nhân dân rất phẫn nộ, nên phong trào yêu nước của
nhân dân ta và của nhà nho ta rất mạnh. Về mặt chính trị đã dấy lên phong
trào Cần Vương và nhiều cuộc khởi nghĩa khác, về mặt văn học, tinh thần
dân tộc đã thể hiện ở những sáng tác dân gian (vè yêu nước) và ở những
công trình sưu tập, biên soạn những vốn văn học truyền thống. Người ta
thấy xuất hiện những sách chữ nôm sưu tập tục ngữ, ca dao: Thanh Hóa
quan phong sử của Vương Duy Trinh (hiệu Đạm Trai); An Nam phong thổ
thoại của Trần Tất Văn (hiệu Thiên Bảo cư sĩ); Quốc phong thi hợp thái của
Nguyễn Đăng Tuyển (hiệu Tiên Phong và Mộng Liên Đình); Việt Nam
phong sử của Nguyễn Văn Mại (tự Tiểu Cao); Đại Nam quốc túy của Ngô
Giáp Đậu (hiệu Tam Thanh); Nam quốc phương ngôn tục ngữ bị lục (vô
danh); vân vân.
Sang đầu thế kỷ XX, chúng ta mới có những sách sưu tập tục ngữ, ca
dao bằng chữ quốc ngữ: Nam ngạn trích cẩm của Phạm Quang Sán (hiệu
Ngạc Đình);Gương phong tục của Đoàn Duy Bình (đăng trong Đông
Dương tạp chí); Việt Nam tổ quốc túy ngôn của Nguyễn Hữu Tiến và
Nguyễn Trọng Thuật; Ngạn ngữ phong dao của Nguyễn Can Mộng; Tục
ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, vân vân.
Đây là lần đầu tiên các nhà trí thức Việt Nam nhận rõ được giá trị văn
học của tục ngữ ca dao. Nguyễn Can Mộng đã viết: “Văn vần nước ta phôi
thai từ ngạn ngữ, rồi đến phong dao thì thành điệu, thành chương, có thể
ngâm nga được. Văn lục bát hay song thất sau này đều từ ở đấy cả”[5].
Nhận định của Nguyễn Can Mộng rất xác đáng. Vốn văn học dân gian
truyền thống của ta rất quý, nhưng những sách Hán Nôm ghi chép tục ngữ,
ca dao có làm người đọc thấy được giá trị của những vốn quý đó không?
Nguyễn Văn Ngọc đã đánh giá những sách Hán Nôm ấy như sau:
“Những sách này làm, hoặc không theo trật tự nào, hoặc đối nhau hai
câu một, hoặc chia ra từng mục: trời đất, năm tháng, tiền của, văn học;
từng thiên: Sơn Tây, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thừa Thiên; từng chương:
Tống Sơn, Nga Sơn, Hoàng Mỹ, Hởu Lộc, hoặc xếp lại theo từng thời đại
triều vua… Những câu chép trong sách thường có chú thích, phê bình. Tựu
trung một đôi quyển cũng gọi là có cắt nghĩa qua từng câu, hoặc kê cứu lai
lịch của cả các câu mà ghép cho câu, câu nào cũng có can thiệp đến lịch sử
nước nhà. Kể như thế, những sách tục ngữ phong dao không phải là hiếm.
Nhưng đáng tiếc rằng hiện có nhiều quyển chỉ mới là sách viết, bỏ quên
trong một thư viện nhà nào, chứ chưa từng đem ra công bố, ấn hành… Còn
một hai quyển đã xuất bản, cứ như chúng tôi xem, thì góp nhặt chưa có
phần dồi dào, chắc chắn, mà xếp đặt chưa lấy gì làm tinh tế hoàn hảo”[6].
Từ Cách mạng tháng Tám, với Đề cương văn hóa Việt Nam năm 1943
của Đảng, những hoạt động văn nghệ dân gian mới thật sự được nhen
nhóm, dần dần bùng lên và lan khắp cả nước. Trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, tuy điều kiện ấn loát thiếu thốn, một số bài về văn học dân
gian đã được in trên sách báo, như tập Thơ văn Cách mạng và kháng chiến,
bài Ca dao Nam bộ (đăng trên báo Cứu Quốc), Một ít hò vè mới Bình Trị
Thiên (đăng trong tạp chí Văn nghệ), nhiều ca dao kháng chiến chống Pháp
do nhân dân, cán bộ, bộ đội sáng tác, đăng trên báo Cứu Quốc, vân vân;
những sáng tác dân gian ấy đã phục vụ, trong một chừng mực nhất định,
sản xuất và chiến đấu, được nhân dân ca hát ở nhiều địa phương.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình được lập lại, các tổ chức văn
hóa văn nghệ của ta mới khôi phục lại các bộ môn văn học nghệ thuật của
cả hai miền Nam Bắc, trong đó có văn học dân gian. Hàng vạn bài dân ca
quan họ Bắc Ninh; hát giặm; hát phường vải Nghệ Tĩnh; hát xoan, hát ghẹo
Phú Thọ, hò sông Mã, hát múa đèn Đông Anh ở Thanh Hóa; dân ca Liên
khu V; dân ca Bình Trị Thiên; dân ca của các dân tộc Thái, Tày, Nùng,
Mường, Mèo, Tây Nguyên…
Tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30-10-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng
tạo. Nhưng quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất
cho xã hội. Quần chúng còn là người sáng tác nữa… Những câu tục ngữ,
những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng. Các sáng
tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà ra dây
muống. Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng tác của quần chúng.
Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý. Muốn làm như thế thì cố nhiên
là phải có chính trị, có kỹ thuật, thì mới mài cho viên ngọc ấy thành tốt,
khéo và đẹp”[7].
Như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy, những sáng tác của quần chúng nhân
dân rất giầu đẹp. Riêng thơ ca dân gian thì phong phú vô cùng. Mở đầu cho
mùa văn học dân gian nở rộ về ca dao dân ca là tập Tục ngữ, dân ca Việt
Nam, in lần thứ nhất năm 1956, trong đó có những bài thơ ca dân gian tiêu
biểu của ba miền Bắc, Trung, Nam. Tiếp đó, hàng loạt công trình sưu tập,
nghiên cứu nối tiếp nhau ra đời. Không kể những truyện cổ dân gian đủ các
loại, của nhiều dân tộc Việt Nam, riêng về tục ngữ, ca dao, dân ca có: Hát ví
Nghệ Tĩnh, hát phường vải, hát giặm Nghệ Tĩnh, Dân ca Nam Bộ, Dân ca
quan họ Bắc Ninh, Ca dao trước Cách mạng, Ca dao sưu tầm ở Thanh
Hóa, Dân ca miền Nam Trung Bộ, Dân ca Bình Trị Thiên, Trường ca Tây
Nguyên, Dân ca Mường, Dân ca Mèo, Vè thất thủ Kinh đô, Vè Nghệ Tĩnh,
Ca dao kháng chiến, Vè yêu nước chống đế quốc Pháp xâm lược, Ca dao
chống Mỹ, Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian
Việt Nam, Văn học dân gian (Lịch sử văn học Việt Nam), Tục ngữ Việt
Nam, Tục ngữ ca dao dân ca Hà Tây, ca dao chọn lọc, Ca dao ngoại
thành(Hà Nội), Ca dao sưu tầm, Hát ghẹo Vĩnh Phú, Ca dao lao động, Thơ
ca nhân dân chống Mỹ, cứu nước, Mái đẩy sông Hiền, Ca dao Thanh Hóa
(1945-1975), Cối gạo đêm trăng (Quảng Bình), v.v…
Quyển TỤC NGỮ CA DAO DÂN CA VIỆT NAM này chú trọng về
chất lượng hơn là về số lượng trong việc chọn những câu, những bài sáng
tác của nhân dân. Công việc sưu tập còn nhiều vấn đề phải giải quyết như
những bài có tên tác giả đã được “quần chúng hóa” từ lâu: những bài bị
chắp thêm câu mới, hoặc chắp câu lấy ở bài khác: một số câu, một số bài bị
sửa đôi ba chữ, rồi coi là “dị bản”, v.v… Những vấn đề ấy sẽ tồn tại với đời
sống của văn học dân gian, chúng tôi chưa đề cập đến trong quyển này.
Điều rõ nhất mà chúng ta đều thấy được là chưa một thời kỳ nào trong
lịch sử dân tộc, vốn văn hóa văn nghệ cổ truyền, trong đó có văn học dân
gian, lại được quý trọng và bảo vệ như dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.
[4] Theo nhà nghiên cứu văn học cổ đại Trung Quốc, 305 bài trong Kinh thi là do các
nhạc sư đời Chu san định (thế kỷ XI đến thế kỷ VI trước Công nguyên) chứ không phải do
Khổng Tử san định. Thời Khổng Tử còn nhỏ, đã có 305 bài ấy rồi. (V.N.P)
[5] Bài tựa Ngạn ngữ phong dao (15-2-1936).
[6] Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, quyển I, tr.10 và 11, NXB Bốn Phương,
1925, Sài Gòn.
[7] Bàn về văn hóa văn nghệ, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1972.
2. CÓ THỂ TÌM XEM TỤC NGỮ, CA
DAO, DÂN CA CỦA TA XUẤT HIỆN
VÀO NHỮNG THỜI KỲ NHẤT ÐỊNH
NÀO KHÔNG?
So với thần thoại và truyền thuyết thì ca dao có một hình thức văn nghệ
tưởng như mới hơn và cao hơn. Nhưng tục ngữ ca dao, theo ý chúng tôi,
cũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết. Theo nhận định
của Lỗ Tấn, khi đẩy được một vật gì nặng, một người hò lên mấy tiếng “Dô
ta” nhịp nhàng, thì đó cũng là sáng tác, và nếu tất cả mọi người khác cũng
hò “Dô ta” thì đó là một cách “xuất bản”. Như vậy, ca hát có rất sớm, nó
xuất hiện trong lao động từ thời cổ sơ và hình thức thô sơ của nó đã được
sửa đổi qua các thế hệ của loài người.
Văn học phản ánh kinh tế và chính trị của một thời đại. Như vậy, văn học
nào cũng thế, dù là văn học dân gian, đều có nói lên trong một chừng mực
nhất định, những tình cảm, tư tưởng của tác giả trong hoàn cảnh xã hội mà
tác giả đã sống.
Vậy đối với cái rừng tục ngữ ca dao của ta, chúng ta làm thế nào biết
được những câu và những bài xuất hiện vào một thời cổ nhất.
Nghiên cứu về sử liệu Việt Nam, trong ngôn ngữ, có người đã kể câu:
“Năm cha ba mẹ” và viết: “…Ta có thể ngờ rằng đó là nhắc lại cái tình
trạng tạp giao hay cái tình trạng chồng chung vợ chạ. Đến như: “Sinh con
rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông”. Câu này thì rõ ràng
lắm, nó tóm tắt cái quá trình tạp giao từ mẫu hệ, rồi đến phụ hệ. Thời kỳ
tạp giao chỉ biết có mẹ đẻ ra con mà thôi, hoàn toàn không có cái danh từ
cha nữa”[8]. Chúng ta thấy rằng nếu cái từ cha chưa có, thì những câu trên
đây, chỉ có thể xuất hiện vào một thời sau nào đó.
Nhưng thời sau đó là thời nào? Vì tính chất truyền khẩu của những câu
chuyện thời xưa, những câu ca dao nói lên những câu chuyện ấy không cứ
phải xuất hiện vào một thời sát với thời có câu chuyện. Bởi vậy, chỉ riêng
nội dung câu hát không đủ chứng tỏ câu ấy xuất hiện vào một thời cổ nào,
mà cần phải xét đến cả lời nữa, vì về văn học, sự tương quan mật thiết giữa
nội dung tư tưởng và hình thức câu văn rất là quan trọng. Theo ý chúng tôi,
những tục ngữ, ca dao mang một nội dung rất cổ, lại dùng những tiếng cổ
nhất, mộc mạc nhất, có thể là những câu, những bài cổ nhất.
Từ lâu tiếng Việt Nam ta đã là một thứ tiếng độc lập. Sử cũ Trung Quốc
có chép: “Về đời vua Thành Vương nhà Chu (1109 trước Công nguyên) có
nước Việt Thường ở phía nam Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống.
Phải phiên dịch ba lần mới thông hiểu được tiếng nhau”.
Theo các nhà ngôn ngữ học, thứ tiếng nói tối cổ của dân tộc ta, do sự
tiếp xúc giữa các dân tộc, đã chịu ảnh hưởng của các tiếng Ấn Độ, Mã Lai,
Thái, Trung Quốc; còn cụ thể ra, tiếng nói tối cổ ấy như thế nào, nó có
giống tiếng Việt Nam ta nói bây giờ không thì vẫn chưa rõ.
Mãi cuối thế kỷ thứ VIII, sau khi Phùng Hưng chết, nhân dân lập đền thờ
ông và suy tôn là “Bố Cái đại vương”[9], người ta mới căn cứ vào hai chữ
bố cái mà nói: tiếng Việt Nam ta vào thời Phùng Hưng tuy chưa phát triển
mấy, nhưng cũng đã giống như tiếng thông dụng, chỉ có chữ cái bây giờ chỉ
vào loài vật nhiều hơn là chỉ vào người.
Ta vẫn còn câu tục ngữ:
Con dại, cái mang.
Câu này có thể là rất cổ, nói đến thời mẫu hệ: những hành động của con,
người mẹ chịu hoàn toàn trách nhiệm. Nó không giống câu “Con hư tại mẹ”
chỉ để chỉ vào những đứa con nhỏ được mẹ nuông chiều. Nhưng còn câu
trên này xuất hiện vào thời nào thì chúng ta cũng không ức đoán được, mà
chỉ biết nó là một câu cổ về cả nội dung lẫn hình thức.
Lại có câu: “Con mống, sống mang” chỉ vào thời phụ hệ. Câu này cũng
là một câu cổ, còn nó xuất hiện vào thời nào, chúng ta cũng chưa biết được.
Chữ mốngđấy có nghĩa là nổi lên, làm một việc chống đối gì. Còn sống chỉ
vào cha (sống, mái tức là đực, cái). Câu trên này có nghĩa là: con làm việc
gì thì cha phải chịu trách nhiệm. Gia trưởng có quyền hành trong gia đình,
nên khi trong gia đình xảy ra việc gì thì bọn thống trị tróc vào đầu gia
trưởng.
Vấn đề nhận định những chữ nào là cổ trong lời ca cũng chỉ là một vấn
đề chúng ta có thể giải quyết trong một phạm vi rất hẹp. Nhưng xét cho
cùng, nội dung bài ca vẫn là phần quan trọng. Vì chỉ nội dung mới nói lên
cho ta biết tư tưởng và tình cảm của người lao động. Những bài ca dao: Lạy
ông nắng lên…, Lạy trời mưa xuống…, Tay cầm con dao, làm sao cho sắc,
v.v…, đều là những bài mà nội dung của nó rất cổ. Về hình thức thì những
câu hai chữ một, phần nhiều cũng có thể coi là những câu cổ. Thí dụ: Cơm
no, bò cưỡi; Cơm tẻ, mẹ ruột; Bán vợ, đợ con; Cơm đồ, nhà gác; Nước vác,
lợn thui; Ngày lui, tháng tới… và những câu bốn chữ một, như chúng tôi
vừa dẫn trên đây.
[8] Bài Thử tìm sử liệu Việt Nam ngữ ngôn, Tập san Nghiên cứu Văn Sử Địa, số 3,
trang 40, năm 1954.
[9] Sách Việt sử thông giám cương mục tiền biên giải thích: tục xưa gọi cha là bố, gọi
mẹ là cái.
3. "CA DAO LỊCH SỬ", THỰC CHẤT
NÓ NHƯ THẾ NÀO?
Trong ca dao của ta, có một số ca dao mà người ta quen gọi là “ca dao
lịch sử”. Sự thật thì văn học nói chung, như chúng tôi đã nói trên, đều phản
ánh chính trị và kinh tế một thời đại, cho nên ca dao của ta, một bộ phận lớn
trong văn học dân gian truyền miệng, cũng có tác dụng phản ánh như văn
học thành văn.
Theo báo cáo của nhà thơ Xuân Diệu, sang thăm Hung-ga-ri trở về,
trong một buổi họp với các nghệ sĩ Việt Nam năm 1956, thì ở nước bạn
chúng ta, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đã sưu tập được tám vạn bài
dân ca, và trong số này, sáu vạn bài đã có đủ lý lịch, nghĩa là người ta đã
biết nó xuất hiện vào thời nào, do nhân dân ở những địa phương nào ca hát
vào trường hợp nào. Lẽ tự nhiên là các dân ca của ta cũng xuất hiện vào
những thời kỳ khác nhau trong lịch sử, nhưng hiện nay chúng ta chưa làm
được như nước bạn, vì những lý do sau đây:
• Tục ngữ, ca dao của ta ít nói đến tên người, tên đất, ít nói đến những
biến chuyển lớn trong xã hội.
• Tục ngữ, ca dao của ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến
gia đình, đến lao động và sản xuất. Suốt tro...
 









Các ý kiến mới nhất