TỪ ĐIỂN THÀNH NGỮ VÀ TỤC NGỮ VIỆT NAM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:48' 26-01-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:48' 26-01-2024
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
EBOLIC #76: TỪ ĐIỂN
THÀNH NGỮ & TỤC NGỮ VIỆT NAM
Ebolic là dự án chế bản sách số hoạt động phi lợi nhuận
và dựa trên tinh thần tự nguyện với mục đích mang đến
cho độc giả những đầu sách hay và lan toả văn hoá đọc
trong cộng đồng. Chúng tôi luôn khuyến khích độc giả
mua sách giấy và chỉ khi không có điều kiện sử dụng nó
thì mới tìm đến phiên bản sách số này.
EbolicEbook@gmail.com
Facebook.com/groups/Ebolic
Facebook.com/EbolicEbook
Tác phẩm: Từ điển
thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Nhóm biên soạn: Vũ Dung (chủ biên)
Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào
Thể loại: Từ điển
Nhà xuất bản: Văn hoá - Thông tin
Năm xuất bản: 2000
Nguồn sách: Tieulun.hopto.org
Đánh máy: OCR bằng
ABBYY FineReader 14
Soát lỗi: Tornad
Hỗ trợ: Trần Ngọc Anh;
Tô Ngọc Linh
Dàn trang: Tornad
Thiết kế bìa: Tornad
Điều hành: Tornad
Ngày hoàn thành: 5/1/2021
L
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
4
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
ỜI TỰA CHO
PHIÊN BẢN SỐ
Là một người say mê kho thành
ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam và
là người thích tìm hiểu tiếng Việt
cổ, tôi mừng như bắt được vàng
khi tìm được quyển từ điển này.
Từ điển này khác những từ điển
thành ngữ khác mà tôi từng đọc ở
chỗ ví dụ minh hoạ hoàn toàn được
lấy từ các tác phẩm văn học dân
gian hoặc văn học bác học, thay vì
người biên soạn tự tạo ra vài câu ví
dụ khô khan và mô phạm; không
những thế, toàn bộ ví dụ minh hoạ
ở đây đều là thơ hoặc văn vần, đa
số được trích từ các bài thơ nôm
mà tưởng chừng như đã bị độc giả
thời nay quên lãng.
Nhờ kho ví dụ thú vị, tôi thấy vui
lạ khi đọc từ điển này bằng cách
giở ngẫu nhiên một trang và đọc
như đọc một câu chuyện thay vì
một quyển sách chỉ dùng để tra
cứu; và nhờ hiểu biết hơn về kho
thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, tôi
hiểu thêm về cách suy nghĩ của
người Việt xưa, đồng thời hiểu
cách dùng từ và đặt câu của người
xưa để từ đó có thể xác định chính
xác hơn đâu là cách nói của người
Việt và đâu là cách nói lai ngữ pháp
Tây trong thời buổi nay. Âu cũng
có thể gọi là Ôn cố tri tân.
Phiên bản sách số này có vài khác
biệt với bản giấy như sau: Bìa do tôi
thiết kế lại, sử dụng bức Chăn trâu
thổi sáo, tranh dân gian Đông Hồ.
Toàn bộ cách trình bày sách (dàn
trang) đều do tôi làm lại. Sách giấy
có đôi chỗ ghi thiếu nguồn của ví
dụ minh hoạ, tôi bổ sung toàn bộ
ở bản số này, một số câu chưa tra
cứu ra nguồn thì có đề “Chưa rõ”
bên dưới. Tôi sửa lại vài lỗi chính
tả và lỗi đánh máy trong bản giấy.
Ghi thêm phần Lời tựa cho phiên
bản số và đặt ở đầu sách. Mọi thông
tin khác giữ nguyên.
Cuối cùng, đặc biệt cảm ơn Trần
Ngọc Anh đã giúp tôi làm định
dạng văn bản tự động cho phiên
bản số này. Giúp đỡ của Ngọc Anh
vừa miễn cho tôi số lượng khổng
lồ công việc, vừa khiến quyển
sách này được trình bày đồng bộ
và chính xác hơn.
5/1/2021
TORNAD
L
5
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
ỜI NÓI ĐẦU
1. Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam được xây dựng trên cơ
sở sưu tập, nghiên cứu của nhà
giáo Vũ Dung về vốn văn hoá dân
gian Việt Nam (thành ngữ, tục
ngữ, quán ngữ, ca dao, dân ca,
phong tục tập quán…). Từ điển
này thu thập thành ngữ, tục ngữ
tiếng Việt là chính, có đưa thêm
một số ít câu trong các ngôn ngữ
dân tộc anh em (Tày, Nùng, Thái,
Mường, H'mông…) đã được dịch ra
tiếng Việt. Đồng thời Từ điển cũng
cung cấp số lượng hạn chế những
thành ngữ Hán Việt đã được quen
dùng với người bình dân hoặc còn
dấu ấn đậm nét trong văn chương
Việt Nam. Đối với những câu xuất
hiện trong dân gian nhưng có
hình thức cấu trúc lục bát chúng
tôi tạm không đưa vào đây, ngoại
trừ một số câu có nội dung rõ rệt
về kinh nghiệm sản xuất, dự đoán
thời tiết…
2. Cơ cấu một mục từ lí tưởng
(đầy đủ nhất) của Từ điển gồm:
2.1. Tên mục từ. Câu thành ngữ
hoặc tục ngữ cần giải thích.
2.2. Biến thể của tên mục từ.
Những thành ngữ, tục ngữ giống
với tên mục từ về nội dung ý nghĩa
nhưng khác về hình thức ngôn ngữ.
Chúng được đặt trong dấu ngoặc
vuông [], ngăn cách với nhau bằng
dấu chấm phẩy (;). Những biến
thể đó lần lượt xuất hiện trong Từ
điển với tư cách một mục từ độc
lập theo chữ cái, nhưng không giải
thích mà được dẫn xem về mục từ
chính. Ví dụ:
• Bầu leo, dây bí cũng leo. x. Voi
đú chó đú, chuột chù cũng nhảy
cẫng.
• Voi đú chó đú, chuột chù cũng
nhảy cẫng. [Bầu leo, dây bí cũng
leo; Bò đông đúc, ngựa cũng đông
đúc; Cá nhảy, ốc cũng nhảy; Mành
treo, chiếu rách cũng treo; Thấy
trâu đầm, bò cũng nhảy xuống ao;
Thuyền đua, bánh lái cũng đua;
Voi đú chó đú, lợn sề cũng hộc;
Voi đú khỉ đú, chuột chù cũng chạy
quanh; Voi đú, lợn sề cũng hộc.]
Việc cung cấp những biến thể
như thế một mặt phản ánh tính
chất phong phú và đa dạng trong
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
cách dùng thành ngữ và tục ngữ
của dân gian, mặt khác giúp độc
giả tiện tra cứu.
2.3. Câu thành ngữ, tục ngữ gần
nghĩa với tên mục từ. Chẳng hạn:
• Méo mó, có còn hơn không.
Gngh. Bói rẻ còn hơn ngồi không;
Lấy chồng còn hơn ở goá; Ướt dề
còn hơn về không.
2.4. Lời chú thích tường giải sơ
lược những thành tố cấu thành
tên mục từ, xét thấy cần thiết. Đó
là những từ cổ, từ địa phương, từ
Hán Việt ít dùng, những từ ngữ trỏ
các sự vật, động vật, hiện tượng,
phong tục… không quen thuộc với
lớp người trẻ tuổi. Đối với những
mục từ về thành ngữ Hán Việt,
việc chiết tự các thành tố chỉ được
thực hiện ở một số mục, số còn lại
hoặc là không thật cần thiết hoặc
là do tính chất phức tạp, đa dạng
và tinh tế của quá trình biến đổi
ngữ nghĩa của từ gốc Hán trong
tiếng Việt khiến chúng tôi đành
phải bó bút.
2.5. Lời giải thích tên mục từ.
Việc giải thích thành ngữ, tục ngữ
ở Từ điển này không và không thể
đi theo hướng của một từ điển có
tính chất hàn lâm, mà chỉ hướng
đến mong muốn đạt tính hành
dụng cao. Vì thế, Từ điển này
không giải thích nghĩa của thành
ngữ, tục ngữ theo sự diễn biến
nghĩa trong lịch sử hoặc phân
nghĩa của chúng theo những tiêu
chí ngôn ngữ học chặt chẽ. Ở đây
cũng không thể giải thích nhất
quán theo cùng một kiểu. Chúng
6
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
tôi tạm chấp nhận hai thuật ngữ
truyền thống thông dụng trong
Việt ngữ học là nghĩa đen và nghĩa
bóng để giải thích nghĩa của thành
ngữ, tục ngữ. Đối với những câu
không bộc lộ rõ hai loại nghĩa như
thế mà có các nghĩa khác nhau thì
chúng được đặt cách nhau bằng
dấu chấm phẩy, ở một số trường
hợp, để hiểu lời giải thích nghĩa,
chúng tôi đưa thêm vào trong
ngoặc đơn một chú giải.
Khó khăn lớn nhất trong việc giải
thích thành ngữ, tục ngữ là ngoài
việc phải gắn nó với các tích, điển
cố, phong tục, tập quán, lễ nghi,
tôn giáo, truyền thống văn hoá,
quan niệm… của dân tộc, còn phải
xử lí được nhiều cách hiểu khác
nhau hiện tồn về cùng một câu.
Với những trường hợp ấy, hoặc là
chúng tôi phản ánh đồng thời hai
ba cách hiểu coi như hai ba nghĩa
và đặt chúng ngăn cách nhau bằng
dấu chấm phẩy, hoặc là chỉ chọn
lọc đưa một cách hiểu theo quan
niệm và tư liệu của chúng tôi,
cách hiểu còn lại khó có thể chấp
nhận. Điều đó cũng nói lên rằng,
việc giải thích nghĩa thành ngữ,
tục ngữ ở một số trường hợp phải
chấp nhận một tình hình là, cho
đến nay, đứng trước một số câu,
có thể có nhiều cách giải thích và
giải thích rất khác nhau.
Cuối cùng là, đối với những câu
nói về kinh nghiệm (sản xuất, dự
đoán thời tiết, ăn uống, cưới gả…)
chúng tôi vẫn giải thích như nó
vốn được đúc kết trong dân gian,
tuy chỉ đúng trong dân gian và
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
7
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
trong những đoạn đại nhất định,
nay không còn phù hợp với đời
sống hoặc không đúng với khoa
học nữa.
cho phép chúng tôi chua dẫn cụ
thể mà đành phải thể hiện ở danh
mục tham khảo chính (in ở cuối
Từ điển này).
2.6. Ví dụ minh hoạ. Trong Từ
điển này, ví dụ minh hoạ chỉ được
điểm xuyết ở một số mục bằng
những câu ca dao hoặc trích từ
những truyện nôm khuyết danh,
Truyện Kiều…
4. Nhân dịp Từ điển thành ngữ
và tục ngữ Việt Nam được ra đời,
chúng tôi xin trân trọng tỏ lòng
biết ơn đến những Nhà giáo, Nhà
thơ, Nhà văn hoá dân gian, Nhà
ngôn ngữ học, một số Tướng lĩnh
cũng như Hội văn nghệ và Ty văn
hoá Hà Bắc… về sự động viên, góp
ý hoặc trực tiếp xem xét công việc
và giúp đỡ trong suốt quá trình
mấy mươi năm khổ công sưu tập,
nghiên cứu của Cha chúng tôi.
Cũng nhân đây chúng tôi xin cảm
ơn Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Nhà xuất bản Giáo dục và Nhà
xuất bản Văn hoá-thông tin đã tạo
những điều kiện tốt cho việc xuất
bản Từ điển này.
2.7. Tham khảo. Đây là phần tri
thức cung cấp cho độc giả (chủ
yếu là độc giả học sinh) có cơ sở
hiểu thêm về câu thành ngữ, tục
ngữ là tên mục từ, nghĩa là cấp
thêm về bối cảnh văn hoá-ngôn
ngữ để hiểu xuất xứ, nguyên lai,
cũng như về phong tục tập quán
và định hướng một cách hiểu đúng
có cơ sở khoa học về nội dung của
thành ngữ, tục ngữ dựa vào sách
báo thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau. Tuy nhiên, do tính chất của
một công cụ tra cứu, cách đưa tri
thức đó ở đây không giống như ở
các sách điển cố, truyện dân gian
hay ở sách phổ biến kiến thức…
Cấu trúc mô tả trên đây theo
chúng tôi một mặt khả dĩ phù hợp
hơn với cách thể hiện một loại đơn
vị ngôn ngữ-văn hoá dân gian, mặt
khác đáp ứng hiệu quả tra cứu ở
chừng mực nào đó, và cuối cùng
là khu biệt căn bản từ điển này
với những từ điển hoặc bộ sưu tập
cùng đề tài đã được xuất bản.
3. Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam có kế thừa chọn lọc tri
thức của nhiều tác giả đi trước,
song tính chất của Từ điển không
Do đặc thù của lãnh vực này, do
hoàn cảnh biên soạn và đặc biệt là
do khả năng của nhóm biên soạn
còn hạn hẹp, Từ điển này không
thể tránh khỏi thiếu sót, lầm lẫn.
Chúng tôi mong quý độc giả lượng
thứ và chỉ giáo, chúng tôi xin có
lời cảm tạ trước.
Hà Nội, 1993-1995
VŨ THUÝ ANH, VŨ QUANG HÀO
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Gngh
Ngđ
Ngb
Tk
Gần nghĩa
Nghĩa đen
Nghĩa bóng
Tham khảo
cd Ca dao
dt Dân tộc
x Xem
A
A hành ác nghiệt. (A: a dua, hùa
theo; Hành: làm.) Hùa theo người
ta mà làm điều ác; Ác nghiệt quá.
Ả Chức chàng Ngâu. x. Ả Chức
chàng Ngưu.
Ả Chức chàng Ngưu. [Ả Chức chàng
Ngâu; Chàng Ngưu ả Chức; Chức
nữ Ngưu lang; Như vợ chồng
Ngâu; Ông Ngâu bà Ngâu; Vợ
chồng Ngâu.] Vợ chồng xa cách
biệt li.
“Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.”
(Chinh phụ ngâm khúc)
“Bao giờ bắc lại cầu Ô
Mà cho ả Chức chàng Ngưu tới gần.”
(Bần nữ thán)
“Hữu tình chi bấy Ngưu lang
Tấm lòng Chức nữ vì chàng mà nghiêng.”
(Lục Vân Tiên)
Tk. Ả Chức: nàng tiên Chức nữ
kết duyên cùng chàng trai nghèo
ở trần gian, sau đó bay về trời.
Chồng nhớ vợ tha thiết, bế con
lên trời gặp vợ. Để tránh luật trời,
Chức nữ phải đặt chồng con vào
cái thúng buộc dây thả xuống hạ
giới. Trong thúng còn để một nắm
cơm và cái trống, hẹn khi nào đến
đất thì đánh trống để Chức nữ ở
trên trời biết mà cắt dây. Giữa
lưng chừng, con đói khóc, người
chồng lấy cơm cho con ăn. Đàn
quạ (chim Ô) bay qua, thấy cơm
vãi trên miệng trống sà vào mổ.
Chức nữ nghe tiếng trống, cắt dây
khiến hai cha con rơi xuống đất
chết cả. Ngọc Hoàng thương tình,
cho người chồng lên trời chăn
trâu bên sông Ngân (do vậy gọi
là Ngưu lang, hai vợ chồng được
gọi là Vợ chồng Ngâu; Ông Ngâu
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
bà Ngâu, đọc chệch của Ngưu).
Mỗi năm hai vợ chồng Ngưu lang,
Chức nữ chỉ được gặp nhau một
lần vào ngày bảy tháng bảy âm
lịch. Đàn quạ có lỗi nên vào ngày
ấy phải ngậm đá bắc cầu qua sông
Ngân (gọi là cầu Ô). Vợ chồng
Ngâu gặp nhau than khóc về cảnh
biệt li sầu thảm, nước mắt rơi
xuống trần gian thành mưa dầm
sùi sụt, tục gọi mưa ngâu tháng
bảy. Người ta cũng gọi tháng bảy
là tháng ngâu và tránh cưới hỏi
vào tháng này.
Ả Hằng cung Quảng. x. Hằng Nga
cung Quảng.
Ả Lí nàng Oanh. [Nàng Oanh ả Lí.]
Những người con gái nổi tiếng về
hiếu nghĩa.
“Dâng thư đã thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lí bán mình hay sao.”
(Truyện Kiều)
Tk. Ả Lí: nàng Lí Kí sống đời Hán
Vũ Đế. Theo Sưu thần kí, nàng Lí
Kí vì nhà nghèo nên tự nguyện
bán mình cho người làng đem
cúng thần rắn để lấy tiền nuôi
cha mẹ. Sau đó nàng dùng mưu
chém thần rắn và được Đông Việt
Vương lập làm hoàng hậu. Nàng
Oanh: nàng Đề Oanh đời Hán. Sử
kí chép: cha Đề Oanh là Thuần
Vu Ý phải tội sắp bị hành hình.
Đề Oanh dâng thư lên Hán Văn
Đế xin bán mình làm đứa ở để
chuộc tội cho cha. Hán Văn Đế
cảm lòng hiếu thảo của nàng mà
tha tội cho Thuần.
Ả Tạ nàng Ban. [Nàng Ban ả Tạ.]
Những người con gái học rộng tài
9
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
cao.
“Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này.”
(Truyện Kiều)
Tk. Ả Tạ: nàng Tạ Đạo Uẩn đời
Tấn. Theo Thông chí, Tạ Đạo
Uẩn là con gái quan An Tây tướng
quân Tạ Dịch đời Tấn. Nàng nổi
tiếng thông minh học rộng và có
tài biện luận, giỏi thơ văn. Nàng
Ban: nàng Ban Chiêu đời Đông
Hán. Theo Liệt nữ truyện, bà đã
soạn tập Nữ giới bảy chương. Khi
anh là Ban Cố chết trước khi soạn
xong bộ Hán thư, Ban Chiêu tiếp
tục hoàn thành xuất sắc bộ sách
nổi tiếng này.
Á tử ngặt hoàng liên. [Đứa câm
ngậm hoàng liên.] Gngh. Ngậm
bồ hòn làm ngọt. (Á tử: người
câm; Ngặt: ngậm; Hoàng liên: vị
thuốc đắng màu vàng.) Đau khổ,
khó chịu mà không nói được ra.
Ác đẻ ác la, gà đẻ gà cục tác. (Ác:
con quạ.) x. Gà đẻ gà cục tác.
Ác giả ác báo. x. Ở hiền gặp lành,
ở ác gặp ác.
“Ác giả ác báo vần xoay
Hại nhân nhân hại, sự nay đã thường.”
(cd)
“Chữ rằng: thiện giả thiện tuỳ
Ác giả ác báo, vậy thì không sai.”
(Chèo Quan Âm Thị Kính)
Ác giả ác báo, hậu giả hậu lai. x.
Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.
Ác khẩu thụ chi. (Ác khẩu: nói điều
ác; Thụ: nhận vào.) Hay nói điều
độc dữ sẽ phải mang điều không
hay ấy.
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Ác khuất non đoài. (Ác: x. Ác tà
thỏ lặn; Non đoài: núi phía Tây.)
Lúc trời chiều.
“Ngày vui ngắn chẳng tày gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.”
(Truyện Kiều)
Ác nguyệt đảm phong. (Ác: cầm
lấy, nắm lấy; Nguyệt: trăng; Đảm:
gánh; Phong: gió.) Ngđ: Cầm
trăng gánh gió. Ngb: Tính tình
thanh lịch, ưa mến trăng gió.
Ác như beo. [Dữ như cọp; Dữ như
beo; Dữ như hùm; Ác như hùm.]
(Beo: thú dữ gần với báo nhưng
nhỏ hơn, có bộ lông màu đỏ như
lửa; Hùm: hổ.) Rất hung dữ.
Tk. Beo không phải là ác thú vì
nó sợ người, chỉ ở nơi hẻo lánh.
Theo điều tra riêng, thì chưa có
trường hợp nào beo vồ người. Beo
chỉ ăn các loài chim thú ở rừng.
Vì leo trèo giỏi như báo, nó bắt
được cả chim, thú trên cây. Tác
giả đã có dịp phân tích hai dạ dày
beo thấy: một chứa toàn sóc và
chuột, và một chứa gà rừng và
chim nhỏ khác. Rõ ràng beo là
loài vật có ích, nó bắt nhiều loài
chim, thú có hại cho cây trồng.
Ngoài ra, beo còn cho bộ da lông
có giá trị, có thể dùng làm hàng
xuất khẩu.
10
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
ánh mặt trời chiếu vào sáng rực
rỡ như hoa gấm. Ở đây có nhiều
cá sấu.
Ác như hùm. x. Ác như beo.
Ác tà, thỏ lặn. [Thỏ bạc, ác vàng;
Thỏ lặn, ác tà.] (Ác: con quạ, chỉ
mặt trời. Tục truyền trên mặt trời
có con quạ ba chân nên gọi mặt
trời là kim ô, tức quạ vàng; Thỏ:
mặt trăng. Tục truyền trên cung
trăng có con thỏ giã thuốc, nên
văn cổ dùng chữ ngọc thỏ để chỉ
mặt trăng.) Mặt trời xế bóng, mặt
trăng lặn; Thời gian luân chuyển.
“Trải bao thỏ lặn, ác tà
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm.”
(Truyện Kiều)
“Lần lần thỏ bạc, ác vàng
Xót người trong hội đoạn trường đòi
cơn.”
(Truyện Kiều)
“Trải ác tà, thỏ lặn biết bao ngày
Bốn ngàn lẻ năm nay non nước cũ.”
(Dương Mạnh Huy)
Ác tắm thì rào, sáo tắm thì mưa.
(Ác: con quạ.) x. Quạ tắm thì ráo,
sáo tắm thì mưa.
Ác tăng đội lốt thầy tu. Kẻ đạo đức
giả.
“Ác tăng đội lốt thầy tu
Thấy cô gái đẹp bỏ chùa đi theo.”
(cd)
Ác như cá sấu Vũng Gấm. Rất ác
và dữ tợn.
Ác thì vạc sừng. [Trâu ác thì vạc
sừng.] (Vạc: chặt.) Kẻ hung ác sẽ
phải bị trừng trị.
Tk. Ở phía bắc huyện Phước An,
tỉnh Biên Hoà (nay thuộc Đồng
Nai) có đầm Gấm, tục gọi là Vũng
Gấm, tên chữ là đầm Gia Cẩm.
Đầm sâu rộng, các dòng tụ họp,
Ách giữa đàng đem quàng vào cổ.
[Cái ách giữa đàng đem quàng
vào cổ; Đòn dưới đất cất lên lưng;
(Đào Văn Tiến)
“Trâu ác thì trâu vạc sừng,
Bò ác thì bò còng lưng méo sườn.”(cd)
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Đòn gánh giữa đàng vác ngang
lên cổ; Đương ở dưng lại xỏ chân
vào ống đũa.] (Ách: đoạn gỗ cong
mắc vào vai trâu bò để buộc dây
kéo cày kéo xe.) Tự mình hứng lấy
khó khăn, vất vả mà lẽ ra không
phải gánh chịu.
Ách nước nạn dân. Tai nạn cho
dân cho nước.
“Mấy dặm non sông đều xửng vững
Nạn dân ách nước để ai toan.”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Ai ăn mặn nấy khát nước. Ai làm
điều không tốt thì người ấy phải
chịu hậu quả.
Ai ăn trầu người ấy đỏ môi. x. Ai
ăn trầu thì nấy đỏ môi.
Ai ăn trầu thì nấy đỏ môi. [Ai ăn
trầu người ấy đỏ môi.] Ai giỏi ai
hay mặc họ.
Ai bảo trời không có mắt. x. Trời
có mắt.
Ai bảo xôi ừ xôi, ai bảo thịt ừ thịt.
x. Quan tám cũng ừ, quan tư cũng
gật.
Ai bênh chúa nấy. x. Chó ngao đạo
Chích sủa vua Nghiêu.
Ai biết bà chúa mót đái lúc nào
mà hạ võng. x. Ai biết quan mót
đái mà hạ võng.
Ai biết chỗ ma ăn cỗ. [Ai biết
chuyện ma ăn cỗ; Ai biết đâu ma
ăn cỗ; Biết đâu chỗ ma ăn cỗ.]
Không thể biết được việc xấu
người ta đã làm vụng trộm, giấu
giếm không để lại dấu vết.
Ai biết chỗ nào ngứa mà gãi. [Ai
biết ngứa chỗ nào mà gãi.] Gngh.
11
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
Ai biết bà chúa mót đái lúc nào
mà hạ võng. Không biết ý thích
thế nào mà phục vụ, giúp đỡ.
Ai biết chuyện ma ăn cỗ. x. Ai biết
chỗ ma ăn cỗ.
Ai biết con quạ nào là đực là cái.
Việc không ai để ý đến, không ai
biết đến.
Ai biết cơm sống về nồi hay cơm
sống về vung. Vợ chồng lủng
củng không biết lỗi tại ai gây nên.
Ai biết đâu ma ăn cỗ. x. Ai biết chỗ
ma ăn cỗ.
Ai biết ngứa chỗ nào mà gãi. x. Ai
biết chỗ nào ngứa mà gãi.
Ai biết phận nấy. [Voi biết voi,
ngựa biết ngựa.] Người nào lo
việc người ấy, không can thiệp
vào việc người khác; Mỗi người
một số phận, không nên suy bì
so sánh.
Ai biết quan mót đái mà hạ võng.
[Ai biết bà chúa mót đái lúc nào
mà hạ võng.] Muốn mà không nói
ra người ta biết thế nào phục vụ
được.
Ai biết uốn câu cho vừa miệng cá.
[Ai từng đo miệng cá mà uốn lưỡi
câu.] Không thể nào lựa cho vừa
ý, vừa lòng người được; Không
thể biết hết, lường trước được
mọi sự.
Ai chẳng muốn đẹp muốn giòn.
[Ai chẳng muốn phấn dồi mặt;
Ai cũng muốn phấn dồi mặt chứ
ai muốn phấn dồi gót chân.] Ai
cũng muốn được lịch sự đẹp đẽ,
cực chẳng đã mới phải chấp nhận
sự không đàng hoàng.
12
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Ai chẳng muốn phấn dồi mặt. x.
Ai chẳng muốn đẹp muốn giòn.
Ai chọn cửa nhà chui ra. Hoàn
cảnh khách quan buộc phải chấp
nhận.
Ai có mát mặt người ấy. Ai giàu
sang người ấy hưởng sung sướng.
Ai có thân người ấy lo, ai có bò
người ấy giữ. [Ai lo giữ phên tráp
nấy; Bè ai người ấy chống; Phận
ai nấy giữ; Ruộng ai thì nấy đắp
bờ; Thân ốc ốc lo, thân rêu rêu
bám; Thân trâu trâu lo, thân bò
bò liệu; Việc trâu trâu lo, việc
bò bò liệu.] Việc ai nấy lo, đừng
trông mong vào người khác và
cũng không cần phải lo lắng đến
việc không liên quan tới mình.
“Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp đợi chờ uổng công.”
(cd)
“Nhà năm ba gánh cương thường,
Phận ai nấy giữ trọn rường thì thôi.”
(cd)
Ai cũng bán cháu nuôi con, không
ai bán con nuôi cháu. Nếu cần thì
hi sinh người có quan hệ xa trước
để bảo vệ người thân hơn.
Ai cũng lấy của che thân chứ
không ai lấy thân che của. Muốn
được đối xử tử tế khỏi bị hành hạ
thì chớ nên tiếc của; Của phải
phục vụ người.
Ai cũng mặc áo đến vai, chẳng ai
mặc áo quá đầu. [Áo mặc chẳng
quá đầu.] Việc gì cũng có mức độ,
chừng mực của nó; Không được
tự ý làm việc gì khi chưa được
phép của người trên.
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
Ai cũng một lần da đến thịt. Gngh.
Lòng vả cũng như lòng sung. Ai
cũng như nhau cả.
Ai cũng muốn phấn dồi mặt chứ
ai muốn phấn dồi gót chân. x. Ai
chẳng muốn đẹp muốn giòn.
Ai cười hở mười cái răng. Bất chấp
dư luận.
Ai đắp nấm người ấy ấm mồ. [Đời
trước đắp nấm đời sau ấm mồ.]
(Đắp nấm: đắp mồ mả.) Ai làm
điều thiện cho người khác, sẽ gặp
tốt lành.
Ai đem dùi đục đi hỏi vợ. [Ai vác
dùi đục đi hỏi vợ.] Trong xử thế,
nhiều khi cần phải lịch sự, ý tứ
mới thành công, thô bạo sẽ thất
bại; Trong các thủ tục cưới hỏi,
cần tế nhị, lịch sự.
Ai để tay xông khói. Ngđ: Vì lẽ nào
đó dưới bàn tay có ngọn lửa, theo
phản xạ phải rụt tay lại hoặc dập
tắt lửa chứ không ai để mặc vậy.
Ngb: Gặp việc gì có hại đến bản
thân, tự nhiên sẽ có phản ứng,
hoặc không là cốt để tránh tai
hoạ lớn hơn chứ không ai dại gì
khoanh tay chịu trận.
Ai đội mũ lệch người ấy xấu mặt.
Ai có khuyết điểm thì người ấy
xấu, không ảnh hưởng gì đến
người khác.
Ai giàu ba họ, ai khó ba đời. [Chẳng
ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời;
Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời;
Không ai giàu ba họ, không ai
khó ba đời.] Gngh. Sông có khúc,
người có lúc. Thời cuộc thay đổi,
số phận đổi thay, không có gì là
13
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
vĩnh viễn.
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
được.
“Ai giàu ba họ, ai khó ba đời
Thế gian rồi sẽ đổi dời cho coi.”
(cd)
Ai nắm tay thâu đêm đến sáng. x.
Ai nắm tay đến tối, ai gối tay đến
sáng.
Ai giây với hủi. [Không ai giây với
hủi.] Không ai muốn va chạm, liên
quan đến kẻ xấu để tránh phiền
nhiễu, ảnh hưởng xấu tới mình.
Ai nhận chĩnh mắm thối. [Chẳng
ai nhận chĩnh mắm thối.] Chẳng
ai muốn nhận về mình cái dở, cái
xấu.
Ai giở áo mớ thời loạn. [Chẳng ai
giở áo mớ thời loạn.] (Xưa phụ nữ
nhà giàu sang mặc áo dài nhiều
lớp, nhiều màu khác nhau, gọi là
áo mớ ba mớ bảy.) Thời buổi rối
ren, người ta không phô trương
sự giàu có để tránh chuyện không
hay.
Ai nói sao, bào hao làm vậy. [Người
làm sao, chiêm bao làm vậy;
Người làm sao, bào hao làm vậy.]
(Bào hao: hùa theo, bắt chước.)
Người nhẹ dạ nông nổi, chỉ hùa
theo người khác, không có bản
lĩnh.
Ai khảo mà xưng. Tự nói ra điều
không ai tra hỏi.
“Nghĩ đà bưng kín miệng bình
Nào ai có khảo mà mình lại xưng.”
(Truyện Kiều)
Ai lo giữ phên tráp nấy. x. Ai có
thân người ấy lo, ai có bò người
ấy giữ.
Ai muốn đi xa phải dành sức ngựa.
x. Đường dài phải dành sức ngựa.
Ai muốn nuôi con chớ có ăn thóc
giống, ai muốn gây dựng gia
đình chớ có đem thóc giống ra
ăn. Khuyên người ta phải cần
kiệm, biết lo xa, biết gìn giữ cái
cần yếu; Thóc lúa giống đặc biệt
quan trọng đối với sản xuất, đảm
bảo cuộc sống no ấm.
Ai nắm tay đến tối, ai gối tay đến
sáng. [Ai nắm tay thâu đêm đến
sáng; Chẳng ai nắm tay thâu đêm
đến sáng.] Ai cũng có lúc thế này,
lúc thế khác, không nói mạnh
Ai nuôi chó một nhà, ai nuôi gà
một sân. [Không ai nuôi chó một
nhà, không ai nuôi gà một sân.]
Trong sinh hoạt hàng ngày có
những lúc, những việc không thể
bó hẹp trong phạm vi từng gia
đình, giữa hàng xóm láng giềng
phải có sự thông cảm, bỏ quá cho
nhau.
Ai trong chăn mới biết chăn có
rận. [Ở trong chăn mới biết chăn
có rận.] Người trong cuộc mới
biết hết mọi sự xấu xa.
Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa.
(Bán đắt: đắt hàng.) Không thể
có sự việc đó (cũng như nếu đắt
hàng thì không phải ngồi lại chợ
trưa làm gì).
Ai từng đo miệng cá mà uốn lưỡi
câu. x. Ai biết uốn lưỡi câu cho
vừa miệng cá.
Ai vác dùi đục đi hỏi vợ. x. Ai đem
dùi đục đi hỏi vợ.
Ải ám không bằng dầm ngấu. x.
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Ải thâm không bằng dầm ngấu.
14
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
được thanh thản.
Ải bở chồng con ở, ải sượng chồng
con đi. (Ải: đất trồng trọt sau khi
đã được cày cuốc, phơi khô và dễ
tơi nát.) Một kinh nghiệm làm
ruộng: đất được ải sẽ tơi xốp, cấy
trồng sẽ được mùa, nếu ải sượng
cấy trồng thu hoạch sẽ kém.
An phận thủ thường. [An thân thủ
phận; An thường thủ phận; Yên
phận thủ thường.] (Thủ thường:
giữ mức bình thường.) Né tránh
đấu tranh, muốn sống yên ổn,
ngại va chạm, ngại đổi thay; Tự
bằng lòng với cuộc sống.
Ải thâm không bằng dầm ngấu.
[Ải ám không bằng dầm ngấu.] (Ải
thâm: đất phơi chưa khô trắng,
không đủ tơi xốp; Dầm ngấu: đất
ruộng đã ngâm nước cho nhuyễn.)
Một kinh nghiệm làm ruộng: đất
phơi được ải thì tốt (Hòn đất nỏ
bằng giỏ phân) nhưng nếu không
phơi được ải thì cày úp rạ xuống
rồi tháo nước vào ruộng khiến rạ
mục nát, cấy lúa cũng tốt.
An thân thủ phận. x. An phận thủ
thường.
Am thanh cảnh vắng. (Am: chùa
nhỏ, miếu nhỏ.) Nơi thanh vắng,
tĩnh mịch.
An bần lạc đạo. Yên lòng với cảnh
nghèo, vui với đạo; Chấp nhận
cái nghèo để giữ trọn đạo.
An cư lạc nghiệp. [Có an cư mới
lạc nghiệp.] (An: yên; Cư: ở; Lạc:
vui; Nghiệp: nghề nghiệp.) Có
chỗ ở yên ổn thì cuộc sống, công
việc làm ăn ổn định yên vui.
An gia an quốc bất an lạc kiếm
cung. Trong cảnh đất nước thanh
bình vẫn không lơi là việc phòng
thủ.
An giấc ngàn thu. [Yên giấc ngàn
thu.] Chết (dùng với sắc thái trang
trọng).
An phận thân vô nhục. Tự bằng
lòng với cuộc sống của mình thì
An thường phủ phận. x. An phận
thủ thường.
Án binh bất động. (Án: yên lặng.)
Đóng quân một chỗ, không hành
động, giữ thế thủ.
Án tuyết song huỳnh. Cảnh học
hành miệt mài.
Tk. Án tuyết: án thư có ánh tuyết
soi vào. Theo Trương Hữu Lục,
Tôn Khang người đời Tấn chăm
học nhưng nhà nghèo không có
tiền mua dầu đèn nên phải nhờ
ánh sáng của tuyết để đọc sách.
Song huỳnh: cửa sổ có ánh sáng
đom đóm chiếu vào. Theo Tấn
thư, Xa Dân người đời Tấn rất có
chí, vì nhà nghèo không có tiền
mua dầu đèn nên phải đọc sách
dưới ánh sáng đom đóm ngoài
cửa sổ.
Anh bắc em nam. x. Kẻ bắc người
nam.
Anh có sừng trâu bạc, tôi có giác
trâu đen. Gngh. Bống có gan bống,
bớp có gan bớp. (Giác: sừng.) Ai
cũng có mặt mạnh của mình.
Anh đui chê anh mù không có
mắt. Gngh. Lươn ngắn chê chạch
dài. Mình cũng có nhược điểm lại
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
còn chê người khác.
Anh em ai đầy nồi ấy. Có mối liên
quan gần gũi, nhưng ai cũng chỉ
lo được cho riêng thân mình.
Anh em bát máu sẻ đôi. [Anh em
như thể chân tay.] Quan hệ ruột
thịt, gần gũi.
Anh em bốn bể một nhà. Tuy xa
nhau nhưng vẫn có quan hệ thân
thiết.
Anh em chém nhau đằng dọng,
không chém nhau đằng lưỡi. x.
Anh em chém nhau đằng sống,
không ai chém nhau đằng lưỡi.
Anh em chém nhau đằng sống,
không ai chém nhau đằng lưỡi.
[Anh em chém nhau đằng dọng,
không chém nhau đằng lưỡi.]
(Sống, dọng: sống dao, phần
cạnh dày, ở phía đối lập với lưỡi
dao.) Dù bất hoà anh em cũng chỉ
đến mức doạ nạt, không ai nỡ hại
nhau.
Anh em cốt nhục đồng bào. (Cốt:
xương; Nhục: thịt; Bào: bào thai.)
Quan hệ ruột thịt gắn bó thân
thiết.
15
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
(Chông, mác: các thứ vũ khí sắc
nhọn.) Anh em thân thiết mà
luôn chống đối, mâu thuẫn, đối
xử với nhau như kẻ thù.
Anh em như thể chân tay. x. Anh
em bát máu sẻ đôi.
Anh em rể đánh nhau bể đầu. x.
Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị
em dâu, đánh nhau bể đầu là anh
em rể.
Anh em rể đúng lệ mà theo, sợ cái
mắt nheo của ông con trưởng.
Anh em rể quan hệ cư xử với nhau
theo lễ nghĩa, con trưởng có vai
trò địa vị đặc biệt trong gia đình.
Anh em rể như ghế ba chân, chị
em gái như trái cau non. (Ghế ba
chân dễ đổ, không vững; Trái cau
non thì ngọt.) x. Yêu nhau chị em
gái, rái nhau chị em dâu, đánh
nhau bể đầu là anh em rể.
Anh em trai ở với nhau mãn đại,
chị em gái ở với nhau một thời.
Anh em trai gắn bó với nhau
lâu bền, còn chị em gái đến tuổi
trưởng thành mỗi người theo
chồng đi một nơi.
“Anh em cốt nhục đồng bào
Vợ chồng cùng nghĩa lẽ nào chẳng
thương.”
(cd)
Anh em trong họ ngoài làng. Toàn
những người có quan hệ thân
thích.
Anh em gạo, đạo ngãi tiền. (Ngãi:
nghĩa.) Quan hệ nặng về vật chất
chứ không vị tình cảm.
Anh em trong nhà đóng cửa bảo
nhau. x. Đóng cửa bảo nhau.
Anh em khinh trước, làng nước
khinh sau. Thái độ đối xử không
tốt của những người thân thiết
khiến người ngoài chê cười và đề
phòng.
Anh em như chông như mác.
Anh em xa hơn láng giềng gần.
Gngh. Giọt máu đào hơn ao nước
lã. Dù xa xôi tình anh em máu
mủ vẫn quý hơn quan hệ với láng
giềng gần gũi.
Anh em xa không bằng láng giềng
gần. x. Bán anh em xa, mua láng
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
giềng gần.
Anh em xem mặt cho vay. Gngh.
Yêu nhau rào giậu cho kín. Dù là
quan hệ thân thiết cũng phải cân
nhắc xem xét cho kín cạnh trước
khi quyết định điều hệ trọng hoặc
quan hệ vật chất.
Anh hoa phát tiết. (Anh: cái tinh
tuý, tốt đẹp.) Người thông minh,
sắc sảo, tài hoa bộc lộ rõ rệt ra vẻ
ngoài.
“Anh hoa phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.”
(Truyện Kiều)
Anh hùng bạt tuỵ. (Bạt tuỵ: vượt
lên trên chúng nhân.) x. Anh
hùng hào kiệt.
Anh hùng đa nạn, hồng nhan đa
truân. [Gái đẹp hay phải khóc,
trai tài hay bị oan.] (Anh hùng:
người tài giỏi; Hồng nhan: gương
mặt có đôi má hồng.) Những bậc
tài sắc hơn người thường gặp
gian truân bất hạnh (quan niệm
phong kiến).
Anh hùng hào kiệt. [Anh hùng
bạt tuỵ.] (Anh: người có tài xuất
chúng; Hùng: có sức mạnh, khí
phách; Hào: tài giỏi hơn người;
Kiệt: có tài năng hơn người.)
Những bậc tài giỏi xuất sắc nhất.
Anh hùng không có đất dụng võ.
Người có tài đức nhưng không có
điều kiện, hoàn cảnh để thi thố.
Anh hùng liệt nữ. (Liệt nữ: người
đàn bà có khí tiết.) Trai tài gái
giỏi.
Anh hùng lỡ vận. x. Anh hùng mạt
vận.
16
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
Anh hùng mạt lộ. x. Anh hùng mạt
vận.
Anh hùng mạt vận. [Anh hùng lỡ
vận; Anh hùng mạt lộ.] (Mạt: suy,
cuối; Lộ: đường; Người anh hùng
gặp bước khốn cùng.) Người tài
giỏi gặp cảnh không may.
Anh hùng một khoảnh. x. Anh
hùng nhất khoảnh.
Anh hùng nhất khoảnh. [Anh
hùng một khoảnh.] Làm mưa làm
gió trong một vùng.
Anh hùng tạo thời thế. Người tài
giỏi không chịu phụ thuộc vào
hoàn cảnh, tự xoay chuyển thời
cuộc.
Anh hùng, thục nữ. (Thục nữ:
người con gái thuần hậu, hiền
lành.) Những người tài đức.
Anh hùng trí đảm. [Anh hùng trí
đởm.] (Trí: trí tuệ, mưu trí; Đảm:
can đảm.) Người tài giỏi, can đảm,
nhiều mưu lược.
Anh hùng trí đởm. x. Anh hùng trí
đảm.
Anh hùng tương ngộ. (Tương: lẫn
nhau; Ngộ: gặp.) Những người
tài giỏi gặp nhau.
Anh hùng vô uý tử, uý tử bất anh
hùng. (Uý: sợ; Tử: chết; Anh hùng
không sợ chết, sợ chết không phải
là anh hùng.) Người có chí khí
dám hi sinh thân mình vì nghĩa
lớn.
Anh khố son bòn anh khố nâu. x.
Khố son bòn khố nâu.
Anh khôn anh hỏi rễ đa, em dại
em hỏi cỏ gà cũng thông. x. Mùa
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
hè đang nắng, cỏ gà trắng thì
mưa.
Anh khốn khó gặp chị trở trời. x.
Thằng chết trôi lôi thằng chết
đuối.
Anh lùn xem hội. Ngđ: Anh lùn
đi xem hội đứng sau không nhìn
được, đành thấy người ta khen
chê gì thì mình theo nấy. Ngb:
Theo đuôi mà phụ hoạ.
Anh mù dắt anh loà. x. Thằng chết
trôi lôi thằng chết đuối.
Anh thuận em hoà là nhà có phúc.
Khuyên anh em một nhà phải ăn
ở cư xử tốt với nhau.
Anh vỏ trấu, em tấm gạo. Những
người cùng cảnh nghèo khó.
Ảnh ương nuốt bò, chân cò đổ
núi. (Ảnh ương: ễnh ương, động
vật thuộc họ ếch nhái.) Lấy yếu
chống mạnh, lấy nhỏ thắng lớn.
Ao cá, lửa thành. x. Cháy thành
vạ lây.
Ao cá ruộng dầm thóc thừa ba
năm. Một kinh nghiệm sản xuất:
cấy trồng ở nơi ao cá, ruộng dầm...
THÀNH NGỮ & TỤC NGỮ VIỆT NAM
Ebolic là dự án chế bản sách số hoạt động phi lợi nhuận
và dựa trên tinh thần tự nguyện với mục đích mang đến
cho độc giả những đầu sách hay và lan toả văn hoá đọc
trong cộng đồng. Chúng tôi luôn khuyến khích độc giả
mua sách giấy và chỉ khi không có điều kiện sử dụng nó
thì mới tìm đến phiên bản sách số này.
EbolicEbook@gmail.com
Facebook.com/groups/Ebolic
Facebook.com/EbolicEbook
Tác phẩm: Từ điển
thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Nhóm biên soạn: Vũ Dung (chủ biên)
Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào
Thể loại: Từ điển
Nhà xuất bản: Văn hoá - Thông tin
Năm xuất bản: 2000
Nguồn sách: Tieulun.hopto.org
Đánh máy: OCR bằng
ABBYY FineReader 14
Soát lỗi: Tornad
Hỗ trợ: Trần Ngọc Anh;
Tô Ngọc Linh
Dàn trang: Tornad
Thiết kế bìa: Tornad
Điều hành: Tornad
Ngày hoàn thành: 5/1/2021
L
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
4
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
ỜI TỰA CHO
PHIÊN BẢN SỐ
Là một người say mê kho thành
ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam và
là người thích tìm hiểu tiếng Việt
cổ, tôi mừng như bắt được vàng
khi tìm được quyển từ điển này.
Từ điển này khác những từ điển
thành ngữ khác mà tôi từng đọc ở
chỗ ví dụ minh hoạ hoàn toàn được
lấy từ các tác phẩm văn học dân
gian hoặc văn học bác học, thay vì
người biên soạn tự tạo ra vài câu ví
dụ khô khan và mô phạm; không
những thế, toàn bộ ví dụ minh hoạ
ở đây đều là thơ hoặc văn vần, đa
số được trích từ các bài thơ nôm
mà tưởng chừng như đã bị độc giả
thời nay quên lãng.
Nhờ kho ví dụ thú vị, tôi thấy vui
lạ khi đọc từ điển này bằng cách
giở ngẫu nhiên một trang và đọc
như đọc một câu chuyện thay vì
một quyển sách chỉ dùng để tra
cứu; và nhờ hiểu biết hơn về kho
thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, tôi
hiểu thêm về cách suy nghĩ của
người Việt xưa, đồng thời hiểu
cách dùng từ và đặt câu của người
xưa để từ đó có thể xác định chính
xác hơn đâu là cách nói của người
Việt và đâu là cách nói lai ngữ pháp
Tây trong thời buổi nay. Âu cũng
có thể gọi là Ôn cố tri tân.
Phiên bản sách số này có vài khác
biệt với bản giấy như sau: Bìa do tôi
thiết kế lại, sử dụng bức Chăn trâu
thổi sáo, tranh dân gian Đông Hồ.
Toàn bộ cách trình bày sách (dàn
trang) đều do tôi làm lại. Sách giấy
có đôi chỗ ghi thiếu nguồn của ví
dụ minh hoạ, tôi bổ sung toàn bộ
ở bản số này, một số câu chưa tra
cứu ra nguồn thì có đề “Chưa rõ”
bên dưới. Tôi sửa lại vài lỗi chính
tả và lỗi đánh máy trong bản giấy.
Ghi thêm phần Lời tựa cho phiên
bản số và đặt ở đầu sách. Mọi thông
tin khác giữ nguyên.
Cuối cùng, đặc biệt cảm ơn Trần
Ngọc Anh đã giúp tôi làm định
dạng văn bản tự động cho phiên
bản số này. Giúp đỡ của Ngọc Anh
vừa miễn cho tôi số lượng khổng
lồ công việc, vừa khiến quyển
sách này được trình bày đồng bộ
và chính xác hơn.
5/1/2021
TORNAD
L
5
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
ỜI NÓI ĐẦU
1. Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam được xây dựng trên cơ
sở sưu tập, nghiên cứu của nhà
giáo Vũ Dung về vốn văn hoá dân
gian Việt Nam (thành ngữ, tục
ngữ, quán ngữ, ca dao, dân ca,
phong tục tập quán…). Từ điển
này thu thập thành ngữ, tục ngữ
tiếng Việt là chính, có đưa thêm
một số ít câu trong các ngôn ngữ
dân tộc anh em (Tày, Nùng, Thái,
Mường, H'mông…) đã được dịch ra
tiếng Việt. Đồng thời Từ điển cũng
cung cấp số lượng hạn chế những
thành ngữ Hán Việt đã được quen
dùng với người bình dân hoặc còn
dấu ấn đậm nét trong văn chương
Việt Nam. Đối với những câu xuất
hiện trong dân gian nhưng có
hình thức cấu trúc lục bát chúng
tôi tạm không đưa vào đây, ngoại
trừ một số câu có nội dung rõ rệt
về kinh nghiệm sản xuất, dự đoán
thời tiết…
2. Cơ cấu một mục từ lí tưởng
(đầy đủ nhất) của Từ điển gồm:
2.1. Tên mục từ. Câu thành ngữ
hoặc tục ngữ cần giải thích.
2.2. Biến thể của tên mục từ.
Những thành ngữ, tục ngữ giống
với tên mục từ về nội dung ý nghĩa
nhưng khác về hình thức ngôn ngữ.
Chúng được đặt trong dấu ngoặc
vuông [], ngăn cách với nhau bằng
dấu chấm phẩy (;). Những biến
thể đó lần lượt xuất hiện trong Từ
điển với tư cách một mục từ độc
lập theo chữ cái, nhưng không giải
thích mà được dẫn xem về mục từ
chính. Ví dụ:
• Bầu leo, dây bí cũng leo. x. Voi
đú chó đú, chuột chù cũng nhảy
cẫng.
• Voi đú chó đú, chuột chù cũng
nhảy cẫng. [Bầu leo, dây bí cũng
leo; Bò đông đúc, ngựa cũng đông
đúc; Cá nhảy, ốc cũng nhảy; Mành
treo, chiếu rách cũng treo; Thấy
trâu đầm, bò cũng nhảy xuống ao;
Thuyền đua, bánh lái cũng đua;
Voi đú chó đú, lợn sề cũng hộc;
Voi đú khỉ đú, chuột chù cũng chạy
quanh; Voi đú, lợn sề cũng hộc.]
Việc cung cấp những biến thể
như thế một mặt phản ánh tính
chất phong phú và đa dạng trong
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
cách dùng thành ngữ và tục ngữ
của dân gian, mặt khác giúp độc
giả tiện tra cứu.
2.3. Câu thành ngữ, tục ngữ gần
nghĩa với tên mục từ. Chẳng hạn:
• Méo mó, có còn hơn không.
Gngh. Bói rẻ còn hơn ngồi không;
Lấy chồng còn hơn ở goá; Ướt dề
còn hơn về không.
2.4. Lời chú thích tường giải sơ
lược những thành tố cấu thành
tên mục từ, xét thấy cần thiết. Đó
là những từ cổ, từ địa phương, từ
Hán Việt ít dùng, những từ ngữ trỏ
các sự vật, động vật, hiện tượng,
phong tục… không quen thuộc với
lớp người trẻ tuổi. Đối với những
mục từ về thành ngữ Hán Việt,
việc chiết tự các thành tố chỉ được
thực hiện ở một số mục, số còn lại
hoặc là không thật cần thiết hoặc
là do tính chất phức tạp, đa dạng
và tinh tế của quá trình biến đổi
ngữ nghĩa của từ gốc Hán trong
tiếng Việt khiến chúng tôi đành
phải bó bút.
2.5. Lời giải thích tên mục từ.
Việc giải thích thành ngữ, tục ngữ
ở Từ điển này không và không thể
đi theo hướng của một từ điển có
tính chất hàn lâm, mà chỉ hướng
đến mong muốn đạt tính hành
dụng cao. Vì thế, Từ điển này
không giải thích nghĩa của thành
ngữ, tục ngữ theo sự diễn biến
nghĩa trong lịch sử hoặc phân
nghĩa của chúng theo những tiêu
chí ngôn ngữ học chặt chẽ. Ở đây
cũng không thể giải thích nhất
quán theo cùng một kiểu. Chúng
6
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
tôi tạm chấp nhận hai thuật ngữ
truyền thống thông dụng trong
Việt ngữ học là nghĩa đen và nghĩa
bóng để giải thích nghĩa của thành
ngữ, tục ngữ. Đối với những câu
không bộc lộ rõ hai loại nghĩa như
thế mà có các nghĩa khác nhau thì
chúng được đặt cách nhau bằng
dấu chấm phẩy, ở một số trường
hợp, để hiểu lời giải thích nghĩa,
chúng tôi đưa thêm vào trong
ngoặc đơn một chú giải.
Khó khăn lớn nhất trong việc giải
thích thành ngữ, tục ngữ là ngoài
việc phải gắn nó với các tích, điển
cố, phong tục, tập quán, lễ nghi,
tôn giáo, truyền thống văn hoá,
quan niệm… của dân tộc, còn phải
xử lí được nhiều cách hiểu khác
nhau hiện tồn về cùng một câu.
Với những trường hợp ấy, hoặc là
chúng tôi phản ánh đồng thời hai
ba cách hiểu coi như hai ba nghĩa
và đặt chúng ngăn cách nhau bằng
dấu chấm phẩy, hoặc là chỉ chọn
lọc đưa một cách hiểu theo quan
niệm và tư liệu của chúng tôi,
cách hiểu còn lại khó có thể chấp
nhận. Điều đó cũng nói lên rằng,
việc giải thích nghĩa thành ngữ,
tục ngữ ở một số trường hợp phải
chấp nhận một tình hình là, cho
đến nay, đứng trước một số câu,
có thể có nhiều cách giải thích và
giải thích rất khác nhau.
Cuối cùng là, đối với những câu
nói về kinh nghiệm (sản xuất, dự
đoán thời tiết, ăn uống, cưới gả…)
chúng tôi vẫn giải thích như nó
vốn được đúc kết trong dân gian,
tuy chỉ đúng trong dân gian và
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
7
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
trong những đoạn đại nhất định,
nay không còn phù hợp với đời
sống hoặc không đúng với khoa
học nữa.
cho phép chúng tôi chua dẫn cụ
thể mà đành phải thể hiện ở danh
mục tham khảo chính (in ở cuối
Từ điển này).
2.6. Ví dụ minh hoạ. Trong Từ
điển này, ví dụ minh hoạ chỉ được
điểm xuyết ở một số mục bằng
những câu ca dao hoặc trích từ
những truyện nôm khuyết danh,
Truyện Kiều…
4. Nhân dịp Từ điển thành ngữ
và tục ngữ Việt Nam được ra đời,
chúng tôi xin trân trọng tỏ lòng
biết ơn đến những Nhà giáo, Nhà
thơ, Nhà văn hoá dân gian, Nhà
ngôn ngữ học, một số Tướng lĩnh
cũng như Hội văn nghệ và Ty văn
hoá Hà Bắc… về sự động viên, góp
ý hoặc trực tiếp xem xét công việc
và giúp đỡ trong suốt quá trình
mấy mươi năm khổ công sưu tập,
nghiên cứu của Cha chúng tôi.
Cũng nhân đây chúng tôi xin cảm
ơn Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Nhà xuất bản Giáo dục và Nhà
xuất bản Văn hoá-thông tin đã tạo
những điều kiện tốt cho việc xuất
bản Từ điển này.
2.7. Tham khảo. Đây là phần tri
thức cung cấp cho độc giả (chủ
yếu là độc giả học sinh) có cơ sở
hiểu thêm về câu thành ngữ, tục
ngữ là tên mục từ, nghĩa là cấp
thêm về bối cảnh văn hoá-ngôn
ngữ để hiểu xuất xứ, nguyên lai,
cũng như về phong tục tập quán
và định hướng một cách hiểu đúng
có cơ sở khoa học về nội dung của
thành ngữ, tục ngữ dựa vào sách
báo thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau. Tuy nhiên, do tính chất của
một công cụ tra cứu, cách đưa tri
thức đó ở đây không giống như ở
các sách điển cố, truyện dân gian
hay ở sách phổ biến kiến thức…
Cấu trúc mô tả trên đây theo
chúng tôi một mặt khả dĩ phù hợp
hơn với cách thể hiện một loại đơn
vị ngôn ngữ-văn hoá dân gian, mặt
khác đáp ứng hiệu quả tra cứu ở
chừng mực nào đó, và cuối cùng
là khu biệt căn bản từ điển này
với những từ điển hoặc bộ sưu tập
cùng đề tài đã được xuất bản.
3. Từ điển thành ngữ và tục ngữ
Việt Nam có kế thừa chọn lọc tri
thức của nhiều tác giả đi trước,
song tính chất của Từ điển không
Do đặc thù của lãnh vực này, do
hoàn cảnh biên soạn và đặc biệt là
do khả năng của nhóm biên soạn
còn hạn hẹp, Từ điển này không
thể tránh khỏi thiếu sót, lầm lẫn.
Chúng tôi mong quý độc giả lượng
thứ và chỉ giáo, chúng tôi xin có
lời cảm tạ trước.
Hà Nội, 1993-1995
VŨ THUÝ ANH, VŨ QUANG HÀO
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Gngh
Ngđ
Ngb
Tk
Gần nghĩa
Nghĩa đen
Nghĩa bóng
Tham khảo
cd Ca dao
dt Dân tộc
x Xem
A
A hành ác nghiệt. (A: a dua, hùa
theo; Hành: làm.) Hùa theo người
ta mà làm điều ác; Ác nghiệt quá.
Ả Chức chàng Ngâu. x. Ả Chức
chàng Ngưu.
Ả Chức chàng Ngưu. [Ả Chức chàng
Ngâu; Chàng Ngưu ả Chức; Chức
nữ Ngưu lang; Như vợ chồng
Ngâu; Ông Ngâu bà Ngâu; Vợ
chồng Ngâu.] Vợ chồng xa cách
biệt li.
“Nọ thì ả Chức chàng Ngâu
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.”
(Chinh phụ ngâm khúc)
“Bao giờ bắc lại cầu Ô
Mà cho ả Chức chàng Ngưu tới gần.”
(Bần nữ thán)
“Hữu tình chi bấy Ngưu lang
Tấm lòng Chức nữ vì chàng mà nghiêng.”
(Lục Vân Tiên)
Tk. Ả Chức: nàng tiên Chức nữ
kết duyên cùng chàng trai nghèo
ở trần gian, sau đó bay về trời.
Chồng nhớ vợ tha thiết, bế con
lên trời gặp vợ. Để tránh luật trời,
Chức nữ phải đặt chồng con vào
cái thúng buộc dây thả xuống hạ
giới. Trong thúng còn để một nắm
cơm và cái trống, hẹn khi nào đến
đất thì đánh trống để Chức nữ ở
trên trời biết mà cắt dây. Giữa
lưng chừng, con đói khóc, người
chồng lấy cơm cho con ăn. Đàn
quạ (chim Ô) bay qua, thấy cơm
vãi trên miệng trống sà vào mổ.
Chức nữ nghe tiếng trống, cắt dây
khiến hai cha con rơi xuống đất
chết cả. Ngọc Hoàng thương tình,
cho người chồng lên trời chăn
trâu bên sông Ngân (do vậy gọi
là Ngưu lang, hai vợ chồng được
gọi là Vợ chồng Ngâu; Ông Ngâu
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
bà Ngâu, đọc chệch của Ngưu).
Mỗi năm hai vợ chồng Ngưu lang,
Chức nữ chỉ được gặp nhau một
lần vào ngày bảy tháng bảy âm
lịch. Đàn quạ có lỗi nên vào ngày
ấy phải ngậm đá bắc cầu qua sông
Ngân (gọi là cầu Ô). Vợ chồng
Ngâu gặp nhau than khóc về cảnh
biệt li sầu thảm, nước mắt rơi
xuống trần gian thành mưa dầm
sùi sụt, tục gọi mưa ngâu tháng
bảy. Người ta cũng gọi tháng bảy
là tháng ngâu và tránh cưới hỏi
vào tháng này.
Ả Hằng cung Quảng. x. Hằng Nga
cung Quảng.
Ả Lí nàng Oanh. [Nàng Oanh ả Lí.]
Những người con gái nổi tiếng về
hiếu nghĩa.
“Dâng thư đã thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lí bán mình hay sao.”
(Truyện Kiều)
Tk. Ả Lí: nàng Lí Kí sống đời Hán
Vũ Đế. Theo Sưu thần kí, nàng Lí
Kí vì nhà nghèo nên tự nguyện
bán mình cho người làng đem
cúng thần rắn để lấy tiền nuôi
cha mẹ. Sau đó nàng dùng mưu
chém thần rắn và được Đông Việt
Vương lập làm hoàng hậu. Nàng
Oanh: nàng Đề Oanh đời Hán. Sử
kí chép: cha Đề Oanh là Thuần
Vu Ý phải tội sắp bị hành hình.
Đề Oanh dâng thư lên Hán Văn
Đế xin bán mình làm đứa ở để
chuộc tội cho cha. Hán Văn Đế
cảm lòng hiếu thảo của nàng mà
tha tội cho Thuần.
Ả Tạ nàng Ban. [Nàng Ban ả Tạ.]
Những người con gái học rộng tài
9
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
cao.
“Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban ả Tạ cũng đâu thế này.”
(Truyện Kiều)
Tk. Ả Tạ: nàng Tạ Đạo Uẩn đời
Tấn. Theo Thông chí, Tạ Đạo
Uẩn là con gái quan An Tây tướng
quân Tạ Dịch đời Tấn. Nàng nổi
tiếng thông minh học rộng và có
tài biện luận, giỏi thơ văn. Nàng
Ban: nàng Ban Chiêu đời Đông
Hán. Theo Liệt nữ truyện, bà đã
soạn tập Nữ giới bảy chương. Khi
anh là Ban Cố chết trước khi soạn
xong bộ Hán thư, Ban Chiêu tiếp
tục hoàn thành xuất sắc bộ sách
nổi tiếng này.
Á tử ngặt hoàng liên. [Đứa câm
ngậm hoàng liên.] Gngh. Ngậm
bồ hòn làm ngọt. (Á tử: người
câm; Ngặt: ngậm; Hoàng liên: vị
thuốc đắng màu vàng.) Đau khổ,
khó chịu mà không nói được ra.
Ác đẻ ác la, gà đẻ gà cục tác. (Ác:
con quạ.) x. Gà đẻ gà cục tác.
Ác giả ác báo. x. Ở hiền gặp lành,
ở ác gặp ác.
“Ác giả ác báo vần xoay
Hại nhân nhân hại, sự nay đã thường.”
(cd)
“Chữ rằng: thiện giả thiện tuỳ
Ác giả ác báo, vậy thì không sai.”
(Chèo Quan Âm Thị Kính)
Ác giả ác báo, hậu giả hậu lai. x.
Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.
Ác khẩu thụ chi. (Ác khẩu: nói điều
ác; Thụ: nhận vào.) Hay nói điều
độc dữ sẽ phải mang điều không
hay ấy.
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Ác khuất non đoài. (Ác: x. Ác tà
thỏ lặn; Non đoài: núi phía Tây.)
Lúc trời chiều.
“Ngày vui ngắn chẳng tày gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài.”
(Truyện Kiều)
Ác nguyệt đảm phong. (Ác: cầm
lấy, nắm lấy; Nguyệt: trăng; Đảm:
gánh; Phong: gió.) Ngđ: Cầm
trăng gánh gió. Ngb: Tính tình
thanh lịch, ưa mến trăng gió.
Ác như beo. [Dữ như cọp; Dữ như
beo; Dữ như hùm; Ác như hùm.]
(Beo: thú dữ gần với báo nhưng
nhỏ hơn, có bộ lông màu đỏ như
lửa; Hùm: hổ.) Rất hung dữ.
Tk. Beo không phải là ác thú vì
nó sợ người, chỉ ở nơi hẻo lánh.
Theo điều tra riêng, thì chưa có
trường hợp nào beo vồ người. Beo
chỉ ăn các loài chim thú ở rừng.
Vì leo trèo giỏi như báo, nó bắt
được cả chim, thú trên cây. Tác
giả đã có dịp phân tích hai dạ dày
beo thấy: một chứa toàn sóc và
chuột, và một chứa gà rừng và
chim nhỏ khác. Rõ ràng beo là
loài vật có ích, nó bắt nhiều loài
chim, thú có hại cho cây trồng.
Ngoài ra, beo còn cho bộ da lông
có giá trị, có thể dùng làm hàng
xuất khẩu.
10
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
ánh mặt trời chiếu vào sáng rực
rỡ như hoa gấm. Ở đây có nhiều
cá sấu.
Ác như hùm. x. Ác như beo.
Ác tà, thỏ lặn. [Thỏ bạc, ác vàng;
Thỏ lặn, ác tà.] (Ác: con quạ, chỉ
mặt trời. Tục truyền trên mặt trời
có con quạ ba chân nên gọi mặt
trời là kim ô, tức quạ vàng; Thỏ:
mặt trăng. Tục truyền trên cung
trăng có con thỏ giã thuốc, nên
văn cổ dùng chữ ngọc thỏ để chỉ
mặt trăng.) Mặt trời xế bóng, mặt
trăng lặn; Thời gian luân chuyển.
“Trải bao thỏ lặn, ác tà
Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm.”
(Truyện Kiều)
“Lần lần thỏ bạc, ác vàng
Xót người trong hội đoạn trường đòi
cơn.”
(Truyện Kiều)
“Trải ác tà, thỏ lặn biết bao ngày
Bốn ngàn lẻ năm nay non nước cũ.”
(Dương Mạnh Huy)
Ác tắm thì rào, sáo tắm thì mưa.
(Ác: con quạ.) x. Quạ tắm thì ráo,
sáo tắm thì mưa.
Ác tăng đội lốt thầy tu. Kẻ đạo đức
giả.
“Ác tăng đội lốt thầy tu
Thấy cô gái đẹp bỏ chùa đi theo.”
(cd)
Ác như cá sấu Vũng Gấm. Rất ác
và dữ tợn.
Ác thì vạc sừng. [Trâu ác thì vạc
sừng.] (Vạc: chặt.) Kẻ hung ác sẽ
phải bị trừng trị.
Tk. Ở phía bắc huyện Phước An,
tỉnh Biên Hoà (nay thuộc Đồng
Nai) có đầm Gấm, tục gọi là Vũng
Gấm, tên chữ là đầm Gia Cẩm.
Đầm sâu rộng, các dòng tụ họp,
Ách giữa đàng đem quàng vào cổ.
[Cái ách giữa đàng đem quàng
vào cổ; Đòn dưới đất cất lên lưng;
(Đào Văn Tiến)
“Trâu ác thì trâu vạc sừng,
Bò ác thì bò còng lưng méo sườn.”(cd)
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Đòn gánh giữa đàng vác ngang
lên cổ; Đương ở dưng lại xỏ chân
vào ống đũa.] (Ách: đoạn gỗ cong
mắc vào vai trâu bò để buộc dây
kéo cày kéo xe.) Tự mình hứng lấy
khó khăn, vất vả mà lẽ ra không
phải gánh chịu.
Ách nước nạn dân. Tai nạn cho
dân cho nước.
“Mấy dặm non sông đều xửng vững
Nạn dân ách nước để ai toan.”
(Nguyễn Đình Chiểu)
Ai ăn mặn nấy khát nước. Ai làm
điều không tốt thì người ấy phải
chịu hậu quả.
Ai ăn trầu người ấy đỏ môi. x. Ai
ăn trầu thì nấy đỏ môi.
Ai ăn trầu thì nấy đỏ môi. [Ai ăn
trầu người ấy đỏ môi.] Ai giỏi ai
hay mặc họ.
Ai bảo trời không có mắt. x. Trời
có mắt.
Ai bảo xôi ừ xôi, ai bảo thịt ừ thịt.
x. Quan tám cũng ừ, quan tư cũng
gật.
Ai bênh chúa nấy. x. Chó ngao đạo
Chích sủa vua Nghiêu.
Ai biết bà chúa mót đái lúc nào
mà hạ võng. x. Ai biết quan mót
đái mà hạ võng.
Ai biết chỗ ma ăn cỗ. [Ai biết
chuyện ma ăn cỗ; Ai biết đâu ma
ăn cỗ; Biết đâu chỗ ma ăn cỗ.]
Không thể biết được việc xấu
người ta đã làm vụng trộm, giấu
giếm không để lại dấu vết.
Ai biết chỗ nào ngứa mà gãi. [Ai
biết ngứa chỗ nào mà gãi.] Gngh.
11
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
Ai biết bà chúa mót đái lúc nào
mà hạ võng. Không biết ý thích
thế nào mà phục vụ, giúp đỡ.
Ai biết chuyện ma ăn cỗ. x. Ai biết
chỗ ma ăn cỗ.
Ai biết con quạ nào là đực là cái.
Việc không ai để ý đến, không ai
biết đến.
Ai biết cơm sống về nồi hay cơm
sống về vung. Vợ chồng lủng
củng không biết lỗi tại ai gây nên.
Ai biết đâu ma ăn cỗ. x. Ai biết chỗ
ma ăn cỗ.
Ai biết ngứa chỗ nào mà gãi. x. Ai
biết chỗ nào ngứa mà gãi.
Ai biết phận nấy. [Voi biết voi,
ngựa biết ngựa.] Người nào lo
việc người ấy, không can thiệp
vào việc người khác; Mỗi người
một số phận, không nên suy bì
so sánh.
Ai biết quan mót đái mà hạ võng.
[Ai biết bà chúa mót đái lúc nào
mà hạ võng.] Muốn mà không nói
ra người ta biết thế nào phục vụ
được.
Ai biết uốn câu cho vừa miệng cá.
[Ai từng đo miệng cá mà uốn lưỡi
câu.] Không thể nào lựa cho vừa
ý, vừa lòng người được; Không
thể biết hết, lường trước được
mọi sự.
Ai chẳng muốn đẹp muốn giòn.
[Ai chẳng muốn phấn dồi mặt;
Ai cũng muốn phấn dồi mặt chứ
ai muốn phấn dồi gót chân.] Ai
cũng muốn được lịch sự đẹp đẽ,
cực chẳng đã mới phải chấp nhận
sự không đàng hoàng.
12
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Ai chẳng muốn phấn dồi mặt. x.
Ai chẳng muốn đẹp muốn giòn.
Ai chọn cửa nhà chui ra. Hoàn
cảnh khách quan buộc phải chấp
nhận.
Ai có mát mặt người ấy. Ai giàu
sang người ấy hưởng sung sướng.
Ai có thân người ấy lo, ai có bò
người ấy giữ. [Ai lo giữ phên tráp
nấy; Bè ai người ấy chống; Phận
ai nấy giữ; Ruộng ai thì nấy đắp
bờ; Thân ốc ốc lo, thân rêu rêu
bám; Thân trâu trâu lo, thân bò
bò liệu; Việc trâu trâu lo, việc
bò bò liệu.] Việc ai nấy lo, đừng
trông mong vào người khác và
cũng không cần phải lo lắng đến
việc không liên quan tới mình.
“Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy gặp đợi chờ uổng công.”
(cd)
“Nhà năm ba gánh cương thường,
Phận ai nấy giữ trọn rường thì thôi.”
(cd)
Ai cũng bán cháu nuôi con, không
ai bán con nuôi cháu. Nếu cần thì
hi sinh người có quan hệ xa trước
để bảo vệ người thân hơn.
Ai cũng lấy của che thân chứ
không ai lấy thân che của. Muốn
được đối xử tử tế khỏi bị hành hạ
thì chớ nên tiếc của; Của phải
phục vụ người.
Ai cũng mặc áo đến vai, chẳng ai
mặc áo quá đầu. [Áo mặc chẳng
quá đầu.] Việc gì cũng có mức độ,
chừng mực của nó; Không được
tự ý làm việc gì khi chưa được
phép của người trên.
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
Ai cũng một lần da đến thịt. Gngh.
Lòng vả cũng như lòng sung. Ai
cũng như nhau cả.
Ai cũng muốn phấn dồi mặt chứ
ai muốn phấn dồi gót chân. x. Ai
chẳng muốn đẹp muốn giòn.
Ai cười hở mười cái răng. Bất chấp
dư luận.
Ai đắp nấm người ấy ấm mồ. [Đời
trước đắp nấm đời sau ấm mồ.]
(Đắp nấm: đắp mồ mả.) Ai làm
điều thiện cho người khác, sẽ gặp
tốt lành.
Ai đem dùi đục đi hỏi vợ. [Ai vác
dùi đục đi hỏi vợ.] Trong xử thế,
nhiều khi cần phải lịch sự, ý tứ
mới thành công, thô bạo sẽ thất
bại; Trong các thủ tục cưới hỏi,
cần tế nhị, lịch sự.
Ai để tay xông khói. Ngđ: Vì lẽ nào
đó dưới bàn tay có ngọn lửa, theo
phản xạ phải rụt tay lại hoặc dập
tắt lửa chứ không ai để mặc vậy.
Ngb: Gặp việc gì có hại đến bản
thân, tự nhiên sẽ có phản ứng,
hoặc không là cốt để tránh tai
hoạ lớn hơn chứ không ai dại gì
khoanh tay chịu trận.
Ai đội mũ lệch người ấy xấu mặt.
Ai có khuyết điểm thì người ấy
xấu, không ảnh hưởng gì đến
người khác.
Ai giàu ba họ, ai khó ba đời. [Chẳng
ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời;
Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời;
Không ai giàu ba họ, không ai
khó ba đời.] Gngh. Sông có khúc,
người có lúc. Thời cuộc thay đổi,
số phận đổi thay, không có gì là
13
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
vĩnh viễn.
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
được.
“Ai giàu ba họ, ai khó ba đời
Thế gian rồi sẽ đổi dời cho coi.”
(cd)
Ai nắm tay thâu đêm đến sáng. x.
Ai nắm tay đến tối, ai gối tay đến
sáng.
Ai giây với hủi. [Không ai giây với
hủi.] Không ai muốn va chạm, liên
quan đến kẻ xấu để tránh phiền
nhiễu, ảnh hưởng xấu tới mình.
Ai nhận chĩnh mắm thối. [Chẳng
ai nhận chĩnh mắm thối.] Chẳng
ai muốn nhận về mình cái dở, cái
xấu.
Ai giở áo mớ thời loạn. [Chẳng ai
giở áo mớ thời loạn.] (Xưa phụ nữ
nhà giàu sang mặc áo dài nhiều
lớp, nhiều màu khác nhau, gọi là
áo mớ ba mớ bảy.) Thời buổi rối
ren, người ta không phô trương
sự giàu có để tránh chuyện không
hay.
Ai nói sao, bào hao làm vậy. [Người
làm sao, chiêm bao làm vậy;
Người làm sao, bào hao làm vậy.]
(Bào hao: hùa theo, bắt chước.)
Người nhẹ dạ nông nổi, chỉ hùa
theo người khác, không có bản
lĩnh.
Ai khảo mà xưng. Tự nói ra điều
không ai tra hỏi.
“Nghĩ đà bưng kín miệng bình
Nào ai có khảo mà mình lại xưng.”
(Truyện Kiều)
Ai lo giữ phên tráp nấy. x. Ai có
thân người ấy lo, ai có bò người
ấy giữ.
Ai muốn đi xa phải dành sức ngựa.
x. Đường dài phải dành sức ngựa.
Ai muốn nuôi con chớ có ăn thóc
giống, ai muốn gây dựng gia
đình chớ có đem thóc giống ra
ăn. Khuyên người ta phải cần
kiệm, biết lo xa, biết gìn giữ cái
cần yếu; Thóc lúa giống đặc biệt
quan trọng đối với sản xuất, đảm
bảo cuộc sống no ấm.
Ai nắm tay đến tối, ai gối tay đến
sáng. [Ai nắm tay thâu đêm đến
sáng; Chẳng ai nắm tay thâu đêm
đến sáng.] Ai cũng có lúc thế này,
lúc thế khác, không nói mạnh
Ai nuôi chó một nhà, ai nuôi gà
một sân. [Không ai nuôi chó một
nhà, không ai nuôi gà một sân.]
Trong sinh hoạt hàng ngày có
những lúc, những việc không thể
bó hẹp trong phạm vi từng gia
đình, giữa hàng xóm láng giềng
phải có sự thông cảm, bỏ quá cho
nhau.
Ai trong chăn mới biết chăn có
rận. [Ở trong chăn mới biết chăn
có rận.] Người trong cuộc mới
biết hết mọi sự xấu xa.
Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa.
(Bán đắt: đắt hàng.) Không thể
có sự việc đó (cũng như nếu đắt
hàng thì không phải ngồi lại chợ
trưa làm gì).
Ai từng đo miệng cá mà uốn lưỡi
câu. x. Ai biết uốn lưỡi câu cho
vừa miệng cá.
Ai vác dùi đục đi hỏi vợ. x. Ai đem
dùi đục đi hỏi vợ.
Ải ám không bằng dầm ngấu. x.
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
Ải thâm không bằng dầm ngấu.
14
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
được thanh thản.
Ải bở chồng con ở, ải sượng chồng
con đi. (Ải: đất trồng trọt sau khi
đã được cày cuốc, phơi khô và dễ
tơi nát.) Một kinh nghiệm làm
ruộng: đất được ải sẽ tơi xốp, cấy
trồng sẽ được mùa, nếu ải sượng
cấy trồng thu hoạch sẽ kém.
An phận thủ thường. [An thân thủ
phận; An thường thủ phận; Yên
phận thủ thường.] (Thủ thường:
giữ mức bình thường.) Né tránh
đấu tranh, muốn sống yên ổn,
ngại va chạm, ngại đổi thay; Tự
bằng lòng với cuộc sống.
Ải thâm không bằng dầm ngấu.
[Ải ám không bằng dầm ngấu.] (Ải
thâm: đất phơi chưa khô trắng,
không đủ tơi xốp; Dầm ngấu: đất
ruộng đã ngâm nước cho nhuyễn.)
Một kinh nghiệm làm ruộng: đất
phơi được ải thì tốt (Hòn đất nỏ
bằng giỏ phân) nhưng nếu không
phơi được ải thì cày úp rạ xuống
rồi tháo nước vào ruộng khiến rạ
mục nát, cấy lúa cũng tốt.
An thân thủ phận. x. An phận thủ
thường.
Am thanh cảnh vắng. (Am: chùa
nhỏ, miếu nhỏ.) Nơi thanh vắng,
tĩnh mịch.
An bần lạc đạo. Yên lòng với cảnh
nghèo, vui với đạo; Chấp nhận
cái nghèo để giữ trọn đạo.
An cư lạc nghiệp. [Có an cư mới
lạc nghiệp.] (An: yên; Cư: ở; Lạc:
vui; Nghiệp: nghề nghiệp.) Có
chỗ ở yên ổn thì cuộc sống, công
việc làm ăn ổn định yên vui.
An gia an quốc bất an lạc kiếm
cung. Trong cảnh đất nước thanh
bình vẫn không lơi là việc phòng
thủ.
An giấc ngàn thu. [Yên giấc ngàn
thu.] Chết (dùng với sắc thái trang
trọng).
An phận thân vô nhục. Tự bằng
lòng với cuộc sống của mình thì
An thường phủ phận. x. An phận
thủ thường.
Án binh bất động. (Án: yên lặng.)
Đóng quân một chỗ, không hành
động, giữ thế thủ.
Án tuyết song huỳnh. Cảnh học
hành miệt mài.
Tk. Án tuyết: án thư có ánh tuyết
soi vào. Theo Trương Hữu Lục,
Tôn Khang người đời Tấn chăm
học nhưng nhà nghèo không có
tiền mua dầu đèn nên phải nhờ
ánh sáng của tuyết để đọc sách.
Song huỳnh: cửa sổ có ánh sáng
đom đóm chiếu vào. Theo Tấn
thư, Xa Dân người đời Tấn rất có
chí, vì nhà nghèo không có tiền
mua dầu đèn nên phải đọc sách
dưới ánh sáng đom đóm ngoài
cửa sổ.
Anh bắc em nam. x. Kẻ bắc người
nam.
Anh có sừng trâu bạc, tôi có giác
trâu đen. Gngh. Bống có gan bống,
bớp có gan bớp. (Giác: sừng.) Ai
cũng có mặt mạnh của mình.
Anh đui chê anh mù không có
mắt. Gngh. Lươn ngắn chê chạch
dài. Mình cũng có nhược điểm lại
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
còn chê người khác.
Anh em ai đầy nồi ấy. Có mối liên
quan gần gũi, nhưng ai cũng chỉ
lo được cho riêng thân mình.
Anh em bát máu sẻ đôi. [Anh em
như thể chân tay.] Quan hệ ruột
thịt, gần gũi.
Anh em bốn bể một nhà. Tuy xa
nhau nhưng vẫn có quan hệ thân
thiết.
Anh em chém nhau đằng dọng,
không chém nhau đằng lưỡi. x.
Anh em chém nhau đằng sống,
không ai chém nhau đằng lưỡi.
Anh em chém nhau đằng sống,
không ai chém nhau đằng lưỡi.
[Anh em chém nhau đằng dọng,
không chém nhau đằng lưỡi.]
(Sống, dọng: sống dao, phần
cạnh dày, ở phía đối lập với lưỡi
dao.) Dù bất hoà anh em cũng chỉ
đến mức doạ nạt, không ai nỡ hại
nhau.
Anh em cốt nhục đồng bào. (Cốt:
xương; Nhục: thịt; Bào: bào thai.)
Quan hệ ruột thịt gắn bó thân
thiết.
15
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
(Chông, mác: các thứ vũ khí sắc
nhọn.) Anh em thân thiết mà
luôn chống đối, mâu thuẫn, đối
xử với nhau như kẻ thù.
Anh em như thể chân tay. x. Anh
em bát máu sẻ đôi.
Anh em rể đánh nhau bể đầu. x.
Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị
em dâu, đánh nhau bể đầu là anh
em rể.
Anh em rể đúng lệ mà theo, sợ cái
mắt nheo của ông con trưởng.
Anh em rể quan hệ cư xử với nhau
theo lễ nghĩa, con trưởng có vai
trò địa vị đặc biệt trong gia đình.
Anh em rể như ghế ba chân, chị
em gái như trái cau non. (Ghế ba
chân dễ đổ, không vững; Trái cau
non thì ngọt.) x. Yêu nhau chị em
gái, rái nhau chị em dâu, đánh
nhau bể đầu là anh em rể.
Anh em trai ở với nhau mãn đại,
chị em gái ở với nhau một thời.
Anh em trai gắn bó với nhau
lâu bền, còn chị em gái đến tuổi
trưởng thành mỗi người theo
chồng đi một nơi.
“Anh em cốt nhục đồng bào
Vợ chồng cùng nghĩa lẽ nào chẳng
thương.”
(cd)
Anh em trong họ ngoài làng. Toàn
những người có quan hệ thân
thích.
Anh em gạo, đạo ngãi tiền. (Ngãi:
nghĩa.) Quan hệ nặng về vật chất
chứ không vị tình cảm.
Anh em trong nhà đóng cửa bảo
nhau. x. Đóng cửa bảo nhau.
Anh em khinh trước, làng nước
khinh sau. Thái độ đối xử không
tốt của những người thân thiết
khiến người ngoài chê cười và đề
phòng.
Anh em như chông như mác.
Anh em xa hơn láng giềng gần.
Gngh. Giọt máu đào hơn ao nước
lã. Dù xa xôi tình anh em máu
mủ vẫn quý hơn quan hệ với láng
giềng gần gũi.
Anh em xa không bằng láng giềng
gần. x. Bán anh em xa, mua láng
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
giềng gần.
Anh em xem mặt cho vay. Gngh.
Yêu nhau rào giậu cho kín. Dù là
quan hệ thân thiết cũng phải cân
nhắc xem xét cho kín cạnh trước
khi quyết định điều hệ trọng hoặc
quan hệ vật chất.
Anh hoa phát tiết. (Anh: cái tinh
tuý, tốt đẹp.) Người thông minh,
sắc sảo, tài hoa bộc lộ rõ rệt ra vẻ
ngoài.
“Anh hoa phát tiết ra ngoài
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.”
(Truyện Kiều)
Anh hùng bạt tuỵ. (Bạt tuỵ: vượt
lên trên chúng nhân.) x. Anh
hùng hào kiệt.
Anh hùng đa nạn, hồng nhan đa
truân. [Gái đẹp hay phải khóc,
trai tài hay bị oan.] (Anh hùng:
người tài giỏi; Hồng nhan: gương
mặt có đôi má hồng.) Những bậc
tài sắc hơn người thường gặp
gian truân bất hạnh (quan niệm
phong kiến).
Anh hùng hào kiệt. [Anh hùng
bạt tuỵ.] (Anh: người có tài xuất
chúng; Hùng: có sức mạnh, khí
phách; Hào: tài giỏi hơn người;
Kiệt: có tài năng hơn người.)
Những bậc tài giỏi xuất sắc nhất.
Anh hùng không có đất dụng võ.
Người có tài đức nhưng không có
điều kiện, hoàn cảnh để thi thố.
Anh hùng liệt nữ. (Liệt nữ: người
đàn bà có khí tiết.) Trai tài gái
giỏi.
Anh hùng lỡ vận. x. Anh hùng mạt
vận.
16
Vũ Dung - Vũ Thuý Anh - Vũ Quang Hào
Anh hùng mạt lộ. x. Anh hùng mạt
vận.
Anh hùng mạt vận. [Anh hùng lỡ
vận; Anh hùng mạt lộ.] (Mạt: suy,
cuối; Lộ: đường; Người anh hùng
gặp bước khốn cùng.) Người tài
giỏi gặp cảnh không may.
Anh hùng một khoảnh. x. Anh
hùng nhất khoảnh.
Anh hùng nhất khoảnh. [Anh
hùng một khoảnh.] Làm mưa làm
gió trong một vùng.
Anh hùng tạo thời thế. Người tài
giỏi không chịu phụ thuộc vào
hoàn cảnh, tự xoay chuyển thời
cuộc.
Anh hùng, thục nữ. (Thục nữ:
người con gái thuần hậu, hiền
lành.) Những người tài đức.
Anh hùng trí đảm. [Anh hùng trí
đởm.] (Trí: trí tuệ, mưu trí; Đảm:
can đảm.) Người tài giỏi, can đảm,
nhiều mưu lược.
Anh hùng trí đởm. x. Anh hùng trí
đảm.
Anh hùng tương ngộ. (Tương: lẫn
nhau; Ngộ: gặp.) Những người
tài giỏi gặp nhau.
Anh hùng vô uý tử, uý tử bất anh
hùng. (Uý: sợ; Tử: chết; Anh hùng
không sợ chết, sợ chết không phải
là anh hùng.) Người có chí khí
dám hi sinh thân mình vì nghĩa
lớn.
Anh khố son bòn anh khố nâu. x.
Khố son bòn khố nâu.
Anh khôn anh hỏi rễ đa, em dại
em hỏi cỏ gà cũng thông. x. Mùa
Từ điển thành ngữ & tục ngữ Việt Nam
hè đang nắng, cỏ gà trắng thì
mưa.
Anh khốn khó gặp chị trở trời. x.
Thằng chết trôi lôi thằng chết
đuối.
Anh lùn xem hội. Ngđ: Anh lùn
đi xem hội đứng sau không nhìn
được, đành thấy người ta khen
chê gì thì mình theo nấy. Ngb:
Theo đuôi mà phụ hoạ.
Anh mù dắt anh loà. x. Thằng chết
trôi lôi thằng chết đuối.
Anh thuận em hoà là nhà có phúc.
Khuyên anh em một nhà phải ăn
ở cư xử tốt với nhau.
Anh vỏ trấu, em tấm gạo. Những
người cùng cảnh nghèo khó.
Ảnh ương nuốt bò, chân cò đổ
núi. (Ảnh ương: ễnh ương, động
vật thuộc họ ếch nhái.) Lấy yếu
chống mạnh, lấy nhỏ thắng lớn.
Ao cá, lửa thành. x. Cháy thành
vạ lây.
Ao cá ruộng dầm thóc thừa ba
năm. Một kinh nghiệm sản xuất:
cấy trồng ở nơi ao cá, ruộng dầm...
 








Các ý kiến mới nhất