Tìm kiếm Giáo án
Truyền thuyết dân gian Nam Bộ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐHSP TP.HCM, 2004,tr.94.
Người gửi: Võ Phúc Châu
Ngày gửi: 14h:30' 23-02-2008
Dung lượng: 112.5 KB
Số lượt tải: 61
Nguồn: Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐHSP TP.HCM, 2004,tr.94.
Người gửi: Võ Phúc Châu
Ngày gửi: 14h:30' 23-02-2008
Dung lượng: 112.5 KB
Số lượt tải: 61
Số lượt thích:
0 người
TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN
VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Ở NAM BỘ (1858 – 1918)
Võ Phúc Châu*
***
1. … Chỉ xét chặng đường ngắn ngủi, từ 1858 đến 1918, biết bao người con ưu tú của Nam Bộ đã vùng lên chiến đấu chống ngoại xâm và hy sinh lẫm liệt. Họ đã trở thành bất tử. Nhưng sự hy sinh của họ được nhìn nhận qua những thái độ tình cảm, cách nhìn khác nhau. Triều Nguyễn, thông qua lịch sử chính thống, có phần khe khắt và hẹp hòi khi đánh giá công trạng những anh hùng kháng Pháp. Chỉ có nhân dân mới thấy hết tầm vóc và sự bất tử của những tấm gương vì dân mộ nghĩa.
Khoảng trăm năm qua, truyền thuyết về anh hùng kháng Pháp, về những địa danh lịch sử đã hiện diện nơi này nơi khác, tập trung hoặc rời rạc,… trong các tư liệu sưu tầm văn học dân gian, trong tư liệu khảo cứu, từ ký ức người dân…
***
2. Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời. Nó là thể loại có sự giao thoa với thần thoại, cổ tích. Thậm chí, nó mờ nhòe trong giai thoại. Và mọi nơi, mọi lúc, nó đều liên quan đến tín ngưỡng, không khí của lễ hội, sức mạnh của niềm tin,…
Bản thân thể loại vốn đã phức tạp. Sự hiện diện của nó trong giai đoạn lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XIX, ở Nam Bộ, lại càng phức tạp hơn. Những truyền thuyết kể về thời này, hầu hết, đều mang vết nhuận sắc của cá nhân người đời sau, tồn tại qua các loại văn bản. Điều đó buộc giới nghiên cứu phải cân nhắc, khi ranh giới giữa dân gian và sử biên niên khá mờ nhạt. Ngay như nội hàm thuật ngữ dân gian, giờ phải được hiểu ra sao, khi nhiều câu chuyện đã qua tay các chuyên gia, học giả? Bên cạnh đó, những yếu tố hoang đường, vẻ đẹp đặc trưng, luôn tỏa cầu vồng lung linh trên vòm trời truyền thuyết, giờ lụi tàn đâu mất trong nhiều câu chuyện ảm đạm, đau thương, mà chỉ còn lại những số liệu, sự kiện lạnh lùng? Liệu thể loại truyền thuyết còn giữ được bản chất của nó, khi vận động đến nửa cuối thế kỷ XIX này? Chưa kể, ở đây, truyền thuyết và giai thoại lại có xu hướng xâm nhập vào nhau, khiến người đọc không dễ định danh thể loại cho nhiều câu chuyện.
Chúng tôi tự giới hạn đối tượng nghiên cứu là cuộc kháng chiến chống Pháp ở đất Gia Định xưa, sau được gọi là Nam Kỳ lục tỉnh, giờ là các tỉnh thành Nam Bộ - miền đất trải dài từ lưu vực sông Đồng Nai đến phần hạ lưu của chín nhánh sông Rồng. Còn giới hạn thời gian, chọn giai đoạn từ 1858 đến 1918, chúng tôi dựa vào mốc khảo sát của một số nhà nghiên cứu sử học để tìm bản chất của đối tượng, tính chân thật của sự kiện. Dĩ nhiên, chúng chỉ mang tính tương đối và đúng hơn, các mốc này chỉ có ý nghĩa, giới hạn đề tài mà truyền thuyết đề cập đến.
***
3. Để tuyển chọn và biên soạn tác phẩm, chúng tôi dựa vào 3 tiêu chuẩn: văn bản phải đúng thể loại truyền thuyết; phải kể về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918); phải có “chất dân gian”. Ở công đoạn này, chúng tôi lần lượt phân biệt sự khác nhau giữa truyền thuyết và cổ tích lịch sử; truyền thuyết và giai thoại,…
Theo đó, hệ thống tạm thời có 84 tác phẩm, chia thành 5 nhóm, phân bố trong 12 mảng truyện (xem Bảng). Hệ thống (có tính chất mở) này bao gồm những văn bản sáng rõ hơn, so với mọi bản kể xuất hiện trước đây. Các nhóm, mảng trong hệ thống có khả năng thu nhận bất cứ truyền thuyết nào (thỏa điều kiện) được sưu tầm và phát hiện tiếp sau này.
HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT
DÂN GIAN
VỀ
CUỘC
KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP
Ở NAM BỘ
(1858 – 1918)
Nhóm truyền thuyết
Mảng truyện
S.lượng
Tỉ lệ %
1. Địa danh
1.1. Liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
13 tác phẩm
(15.5%)
1.2. Liên quan đến những cuộc khởi nghĩa khác
2. Về cuộc khởi nghĩa của Trương Định
2.1. Về Trương Định
11 tác phẩm
(13.1%)
2.2. Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Trương Định
3. Về cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
3.1. Về Thiên Hộ Dương
22 tác phẩm
(26.2%)
3.2. Về tướng lĩnh của Thiên Hộ Dương
3.3. Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
4. Về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực
4.1. Về Nguyễn Trung Trực
13 tác phẩm
(15.5%)
4.2. Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực
5. Về những cuộc khởi nghĩa khác
5.1. Về cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân
25 tác phẩm
(29.8%)
5.2. Về những cuộc khởi nghĩa ở miền Đông Nam Bộ
5.3. Về những cuộc khởi nghĩa ở miền Tây Nam Bộ
Tổng cộng
5 nhóm
12 mảng truyện
84 tác phẩm
(100%)
***
4. Xin nói về nhóm truyền thuyết địa danh.
Trong 13 truyền thuyết địa danh tìm được, có 7 truyện liên quan đến Thiên Hộ Dương (tỉ lệ 53.8%). 6 truyện còn lại kể về những nhân vật anh hùng khác. Hẳn, đây là con số biết nói: Thiên Hộ Dương đã sừng sững đến mức nào trong sự tôn thờ, tưởng nhớ của nhân dân.
4.1. Thiên Hộ Dương dấy nghĩa ở Tháp Mười không lâu, nhưng bấy nhiêu năm tháng ấy đủ thành thời gian huyền thoại, sống mãi cùng các truyền thuyết địa danh này. Nhân dân tự hào lấy “thời Thiên Hộ Dương” làm mốc, để nhắc bao điều mới cũ. Thời gian thành chứng nhân của vô vàn sự kiện: mở đường, xây tháp, lập trại, giao tranh,… Rồi chiến công và máu đổ… Các chuyện không có ngày tháng kiểu biên niên nhưng vẫn được hình dung cụ thể, bởi chúng gắn liền những sự kiện xác thực. Thời gian lúc này đã gắn chặt, hằn sâu địa danh vào lịch sử. Những rạch Ông Voi, vàm Bà Bầy, khu Mả Lớn, Tháp Mười,… theo đó, đã thành địa danh lịch sử.
4.1.1. Còn không gian trong tác phẩm đúng là đặc trưng của đất phương Nam hoang sơ, bí hiểm. Nơi đây, sông rộng mênh mông, sóng nước xoáy nhào, lồng lộn, đôi phen cá sấu chờ người. Ngày kia, đột nhiên hiện lên một doi đất lạ. Rời vàm sông sóng bủa, ghe xuồng len lỏi vào muôn vàn con rạch dọc ngang. Nào rạch Ông Voi, rạch Bà Bướm, đến rạch Cái Sao, rạch Cần Lố, rồi rạch Thầy Khâm,… Tận cùng con rạch luôn là vùng trũng thấp sình lầy, ma thiêng nước độc:
“Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội tợ bánh canh”
Nó ghê rợn đến nỗi:
“Tây vô Đồng Tháp làm ma không đầu”
Trong từng câu chuyện, không gian hiện lên, giản dị và sống động như nó vốn có. Tại những doi, vàm, rạch, trũng ấy, con người tính kế sinh nhai còn khó, huống hồ lập thành căn cứ chống Tây. Thế mà, Thiên Hộ Dương và dân mộ nghĩa quả dám làm chuyện “đội đá vá trời”. Ai ngờ, họ đã làm nên đại sự, đúng nghĩa “long trời lở đất”. Bởi, nếu không có dấu chân người yêu nước, đất Tháp Mười làm sao lún sụp để thành rạch Ông Voi, mương cau Bà Bầy làm gì sạt lở đến mức thành sông, sâu rộng đến giờ? Những câu chuyện “kinh thiên động địa” ấy đã biến Đồng Tháp Mười thành một không gian thiêng. Nó chẳng phải chuyện hình thành vũ trụ của thời ông khổng lồ gánh núi đào sông. Nhưng nó đã là chuyện những con người Nam Bộ cần cù khai hoang mở đất, nay dám “cãi” vận trời, định chuyển xoay thời thế.
4.1.2. Không gian ở đây còn có khu Mả Lớn đau thương, một trường án Doi Me đẫm máu, một Đình Trung thâm nghiêm, sừng sững. Những không gian ấy luôn gần gũi, che chở, bảo bọc con người, cả khi sống lẫn lúc hy sinh. Không gian thiêng lại càng thiêng, bởi lần lượt đón về anh linh những người con yêu nước.
Có thể nói, gắn liền cuộc kháng chiến của Thiên Hộ Dương, những địa danh vùng Đồng Tháp còn lưu lại hôm nay chính là dấu tích của không gian thiêng và thời gian lịch sử.
4.2. Nổi bật trong các truyện này là những nhân vật phụ nữ bình thường (3/7 truyện, chiếm 42.9%). Đó là bà Bướm, bà Bầy, bà Hoàng Thị Quá, bà Nữ. Tất cả lớn lên từ miền sông nước Cửu Long. Họ sống thầm lặng, đảm đang, hiền hòa, giàu tình nghĩa. Ngay như bà Bướm “dù là con gái bá hộ nhưng nàng sống chan hòa, thân ái với bà con tá điền và thường hay giúp đỡ những người nghèo khổ”. Bản tính thầm lặng thường ngày của họ, khi đối mặt kẻ thù, bỗng thành đức kiên trinh. Họ thà chết chứ không hé răng nửa lời, quyết không tiết lộ bí mật của nghĩa quân (bà Bầy). Họ đem sự đảm đang, tháo vát để giúp nghĩa quân mở đường, di chuyển qua sông (bà Bầy, bà Nữ). Họ cùng gia đình giúp đỡ nghĩa quân tiền của (bà Bầy, bà Bướm). Họ thủy chung với người anh hùng chí lớn, như một cách hướng đời mình vào cuộc tranh đấu gìn giữ quê hương (bà Bướm). Khi cần, họ trở nên quyết liệt. Họ dám xông vào kẻ thù, quyết không để thủ cấp chồng ô uế trong tay giặc (bà Hoàng Thị Quá). Nhìn xa hơn, trước họ, đất này đã có những tấm gương ngời sáng (bà vợ Đốc binh Vàng tuẫn tiết theo chồng). Chính sử không hề biết đến họ. Nhưng trong lòng nhân dân, họ chính là những trang liệt nữ. Họ vẫn đời đời hiện hữu, trong những đình thờ, qua những địa danh gần gũi, thân thương.
4.3. Bên cạnh phụ nữ là tập thể những anh hùng bình dị, vô danh (4/7 truyện, chiếm 57.1%). Trong các mẩu chuyện, họ không có chân dung. Dấu ấn để lại của họ chỉ là những công trình lặng lẽ. Họ mở đường đánh giặc, khiến bãi bùn lún sụp thành rạch Ông Voi, khiến mương cau Bà Bầy sạt lở thành khúc sông nước trào sóng cuộn. Họ ngày đêm xây đồn đắp lũy, khiến dân gian truyền tụng mãi ngôi tháp mười tầng,… Nhân dân tự hào và nhớ thương họ. Những cái tên khu Mả Lớn, trường án Cần Lố như vết thương lòng đau nhói. Kẻ thù muốn chôn vùi dấu tích họ, nhân dân càng quyết tâm sửa sang phần mộ họ. Nhân dân đặt tên cho đất, như một cách khẳng định mảnh đất này mãi mãi thuộc về những nghĩa sĩ vô danh.
5. Liên quan đến những cuộc khởi nghĩa khác, chỉ có 6/13 truyền thuyết địa danh (tỉ lệ 46.2%). Con số thật ít ỏi. Chúng lại liên hệ rải rác với nhiều cuộc kháng chiến. Tạm thấy, không phải cuộc khởi nghĩa nào, sự kiện lịch sử trọng đại nào thuộc giai đoạn 1858 – 1918 cũng kết tụ được thành truyền thuyết địa danh.
5.1. Khác với truyền thuyết liên quan đến Thiên Hộ Dương, các tác phẩm này thường nêu thời gian chính xác. Sự kiện lịch sử giới hạn trong 15 năm đầu đánh Pháp. Một võ quan Nguyễn Phương Hồng mưu sự khi “thực dân Pháp kéo quân chiếm phủ Tân Ninh”, rồi Phan Liêm – Phan Tôn nổi dậy “lúc Pháp vừa chiếm xong ba tỉnh miền Tây”. Đến năm 1867, Quản Bạch chọn vàm rạch làng Tân Tịch làm căn cứ. Cũng năm này, ở Vĩnh Long, quân Pháp nghênh ngang xúc phạm miếu thờ. Sang 1872, “nhóm nghĩa quân vùng Cầu Vông (Vĩnh Long) nổi lên kháng Pháp. Lãnh tụ khán
VỀ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Ở NAM BỘ (1858 – 1918)
Võ Phúc Châu*
***
1. … Chỉ xét chặng đường ngắn ngủi, từ 1858 đến 1918, biết bao người con ưu tú của Nam Bộ đã vùng lên chiến đấu chống ngoại xâm và hy sinh lẫm liệt. Họ đã trở thành bất tử. Nhưng sự hy sinh của họ được nhìn nhận qua những thái độ tình cảm, cách nhìn khác nhau. Triều Nguyễn, thông qua lịch sử chính thống, có phần khe khắt và hẹp hòi khi đánh giá công trạng những anh hùng kháng Pháp. Chỉ có nhân dân mới thấy hết tầm vóc và sự bất tử của những tấm gương vì dân mộ nghĩa.
Khoảng trăm năm qua, truyền thuyết về anh hùng kháng Pháp, về những địa danh lịch sử đã hiện diện nơi này nơi khác, tập trung hoặc rời rạc,… trong các tư liệu sưu tầm văn học dân gian, trong tư liệu khảo cứu, từ ký ức người dân…
***
2. Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và phát triển lâu đời. Nó là thể loại có sự giao thoa với thần thoại, cổ tích. Thậm chí, nó mờ nhòe trong giai thoại. Và mọi nơi, mọi lúc, nó đều liên quan đến tín ngưỡng, không khí của lễ hội, sức mạnh của niềm tin,…
Bản thân thể loại vốn đã phức tạp. Sự hiện diện của nó trong giai đoạn lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XIX, ở Nam Bộ, lại càng phức tạp hơn. Những truyền thuyết kể về thời này, hầu hết, đều mang vết nhuận sắc của cá nhân người đời sau, tồn tại qua các loại văn bản. Điều đó buộc giới nghiên cứu phải cân nhắc, khi ranh giới giữa dân gian và sử biên niên khá mờ nhạt. Ngay như nội hàm thuật ngữ dân gian, giờ phải được hiểu ra sao, khi nhiều câu chuyện đã qua tay các chuyên gia, học giả? Bên cạnh đó, những yếu tố hoang đường, vẻ đẹp đặc trưng, luôn tỏa cầu vồng lung linh trên vòm trời truyền thuyết, giờ lụi tàn đâu mất trong nhiều câu chuyện ảm đạm, đau thương, mà chỉ còn lại những số liệu, sự kiện lạnh lùng? Liệu thể loại truyền thuyết còn giữ được bản chất của nó, khi vận động đến nửa cuối thế kỷ XIX này? Chưa kể, ở đây, truyền thuyết và giai thoại lại có xu hướng xâm nhập vào nhau, khiến người đọc không dễ định danh thể loại cho nhiều câu chuyện.
Chúng tôi tự giới hạn đối tượng nghiên cứu là cuộc kháng chiến chống Pháp ở đất Gia Định xưa, sau được gọi là Nam Kỳ lục tỉnh, giờ là các tỉnh thành Nam Bộ - miền đất trải dài từ lưu vực sông Đồng Nai đến phần hạ lưu của chín nhánh sông Rồng. Còn giới hạn thời gian, chọn giai đoạn từ 1858 đến 1918, chúng tôi dựa vào mốc khảo sát của một số nhà nghiên cứu sử học để tìm bản chất của đối tượng, tính chân thật của sự kiện. Dĩ nhiên, chúng chỉ mang tính tương đối và đúng hơn, các mốc này chỉ có ý nghĩa, giới hạn đề tài mà truyền thuyết đề cập đến.
***
3. Để tuyển chọn và biên soạn tác phẩm, chúng tôi dựa vào 3 tiêu chuẩn: văn bản phải đúng thể loại truyền thuyết; phải kể về cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1858 – 1918); phải có “chất dân gian”. Ở công đoạn này, chúng tôi lần lượt phân biệt sự khác nhau giữa truyền thuyết và cổ tích lịch sử; truyền thuyết và giai thoại,…
Theo đó, hệ thống tạm thời có 84 tác phẩm, chia thành 5 nhóm, phân bố trong 12 mảng truyện (xem Bảng). Hệ thống (có tính chất mở) này bao gồm những văn bản sáng rõ hơn, so với mọi bản kể xuất hiện trước đây. Các nhóm, mảng trong hệ thống có khả năng thu nhận bất cứ truyền thuyết nào (thỏa điều kiện) được sưu tầm và phát hiện tiếp sau này.
HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT
DÂN GIAN
VỀ
CUỘC
KHÁNG CHIẾN
CHỐNG PHÁP
Ở NAM BỘ
(1858 – 1918)
Nhóm truyền thuyết
Mảng truyện
S.lượng
Tỉ lệ %
1. Địa danh
1.1. Liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
13 tác phẩm
(15.5%)
1.2. Liên quan đến những cuộc khởi nghĩa khác
2. Về cuộc khởi nghĩa của Trương Định
2.1. Về Trương Định
11 tác phẩm
(13.1%)
2.2. Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Trương Định
3. Về cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
3.1. Về Thiên Hộ Dương
22 tác phẩm
(26.2%)
3.2. Về tướng lĩnh của Thiên Hộ Dương
3.3. Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương
4. Về cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực
4.1. Về Nguyễn Trung Trực
13 tác phẩm
(15.5%)
4.2. Về nhân vật, sự kiện liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực
5. Về những cuộc khởi nghĩa khác
5.1. Về cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân
25 tác phẩm
(29.8%)
5.2. Về những cuộc khởi nghĩa ở miền Đông Nam Bộ
5.3. Về những cuộc khởi nghĩa ở miền Tây Nam Bộ
Tổng cộng
5 nhóm
12 mảng truyện
84 tác phẩm
(100%)
***
4. Xin nói về nhóm truyền thuyết địa danh.
Trong 13 truyền thuyết địa danh tìm được, có 7 truyện liên quan đến Thiên Hộ Dương (tỉ lệ 53.8%). 6 truyện còn lại kể về những nhân vật anh hùng khác. Hẳn, đây là con số biết nói: Thiên Hộ Dương đã sừng sững đến mức nào trong sự tôn thờ, tưởng nhớ của nhân dân.
4.1. Thiên Hộ Dương dấy nghĩa ở Tháp Mười không lâu, nhưng bấy nhiêu năm tháng ấy đủ thành thời gian huyền thoại, sống mãi cùng các truyền thuyết địa danh này. Nhân dân tự hào lấy “thời Thiên Hộ Dương” làm mốc, để nhắc bao điều mới cũ. Thời gian thành chứng nhân của vô vàn sự kiện: mở đường, xây tháp, lập trại, giao tranh,… Rồi chiến công và máu đổ… Các chuyện không có ngày tháng kiểu biên niên nhưng vẫn được hình dung cụ thể, bởi chúng gắn liền những sự kiện xác thực. Thời gian lúc này đã gắn chặt, hằn sâu địa danh vào lịch sử. Những rạch Ông Voi, vàm Bà Bầy, khu Mả Lớn, Tháp Mười,… theo đó, đã thành địa danh lịch sử.
4.1.1. Còn không gian trong tác phẩm đúng là đặc trưng của đất phương Nam hoang sơ, bí hiểm. Nơi đây, sông rộng mênh mông, sóng nước xoáy nhào, lồng lộn, đôi phen cá sấu chờ người. Ngày kia, đột nhiên hiện lên một doi đất lạ. Rời vàm sông sóng bủa, ghe xuồng len lỏi vào muôn vàn con rạch dọc ngang. Nào rạch Ông Voi, rạch Bà Bướm, đến rạch Cái Sao, rạch Cần Lố, rồi rạch Thầy Khâm,… Tận cùng con rạch luôn là vùng trũng thấp sình lầy, ma thiêng nước độc:
“Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội tợ bánh canh”
Nó ghê rợn đến nỗi:
“Tây vô Đồng Tháp làm ma không đầu”
Trong từng câu chuyện, không gian hiện lên, giản dị và sống động như nó vốn có. Tại những doi, vàm, rạch, trũng ấy, con người tính kế sinh nhai còn khó, huống hồ lập thành căn cứ chống Tây. Thế mà, Thiên Hộ Dương và dân mộ nghĩa quả dám làm chuyện “đội đá vá trời”. Ai ngờ, họ đã làm nên đại sự, đúng nghĩa “long trời lở đất”. Bởi, nếu không có dấu chân người yêu nước, đất Tháp Mười làm sao lún sụp để thành rạch Ông Voi, mương cau Bà Bầy làm gì sạt lở đến mức thành sông, sâu rộng đến giờ? Những câu chuyện “kinh thiên động địa” ấy đã biến Đồng Tháp Mười thành một không gian thiêng. Nó chẳng phải chuyện hình thành vũ trụ của thời ông khổng lồ gánh núi đào sông. Nhưng nó đã là chuyện những con người Nam Bộ cần cù khai hoang mở đất, nay dám “cãi” vận trời, định chuyển xoay thời thế.
4.1.2. Không gian ở đây còn có khu Mả Lớn đau thương, một trường án Doi Me đẫm máu, một Đình Trung thâm nghiêm, sừng sững. Những không gian ấy luôn gần gũi, che chở, bảo bọc con người, cả khi sống lẫn lúc hy sinh. Không gian thiêng lại càng thiêng, bởi lần lượt đón về anh linh những người con yêu nước.
Có thể nói, gắn liền cuộc kháng chiến của Thiên Hộ Dương, những địa danh vùng Đồng Tháp còn lưu lại hôm nay chính là dấu tích của không gian thiêng và thời gian lịch sử.
4.2. Nổi bật trong các truyện này là những nhân vật phụ nữ bình thường (3/7 truyện, chiếm 42.9%). Đó là bà Bướm, bà Bầy, bà Hoàng Thị Quá, bà Nữ. Tất cả lớn lên từ miền sông nước Cửu Long. Họ sống thầm lặng, đảm đang, hiền hòa, giàu tình nghĩa. Ngay như bà Bướm “dù là con gái bá hộ nhưng nàng sống chan hòa, thân ái với bà con tá điền và thường hay giúp đỡ những người nghèo khổ”. Bản tính thầm lặng thường ngày của họ, khi đối mặt kẻ thù, bỗng thành đức kiên trinh. Họ thà chết chứ không hé răng nửa lời, quyết không tiết lộ bí mật của nghĩa quân (bà Bầy). Họ đem sự đảm đang, tháo vát để giúp nghĩa quân mở đường, di chuyển qua sông (bà Bầy, bà Nữ). Họ cùng gia đình giúp đỡ nghĩa quân tiền của (bà Bầy, bà Bướm). Họ thủy chung với người anh hùng chí lớn, như một cách hướng đời mình vào cuộc tranh đấu gìn giữ quê hương (bà Bướm). Khi cần, họ trở nên quyết liệt. Họ dám xông vào kẻ thù, quyết không để thủ cấp chồng ô uế trong tay giặc (bà Hoàng Thị Quá). Nhìn xa hơn, trước họ, đất này đã có những tấm gương ngời sáng (bà vợ Đốc binh Vàng tuẫn tiết theo chồng). Chính sử không hề biết đến họ. Nhưng trong lòng nhân dân, họ chính là những trang liệt nữ. Họ vẫn đời đời hiện hữu, trong những đình thờ, qua những địa danh gần gũi, thân thương.
4.3. Bên cạnh phụ nữ là tập thể những anh hùng bình dị, vô danh (4/7 truyện, chiếm 57.1%). Trong các mẩu chuyện, họ không có chân dung. Dấu ấn để lại của họ chỉ là những công trình lặng lẽ. Họ mở đường đánh giặc, khiến bãi bùn lún sụp thành rạch Ông Voi, khiến mương cau Bà Bầy sạt lở thành khúc sông nước trào sóng cuộn. Họ ngày đêm xây đồn đắp lũy, khiến dân gian truyền tụng mãi ngôi tháp mười tầng,… Nhân dân tự hào và nhớ thương họ. Những cái tên khu Mả Lớn, trường án Cần Lố như vết thương lòng đau nhói. Kẻ thù muốn chôn vùi dấu tích họ, nhân dân càng quyết tâm sửa sang phần mộ họ. Nhân dân đặt tên cho đất, như một cách khẳng định mảnh đất này mãi mãi thuộc về những nghĩa sĩ vô danh.
5. Liên quan đến những cuộc khởi nghĩa khác, chỉ có 6/13 truyền thuyết địa danh (tỉ lệ 46.2%). Con số thật ít ỏi. Chúng lại liên hệ rải rác với nhiều cuộc kháng chiến. Tạm thấy, không phải cuộc khởi nghĩa nào, sự kiện lịch sử trọng đại nào thuộc giai đoạn 1858 – 1918 cũng kết tụ được thành truyền thuyết địa danh.
5.1. Khác với truyền thuyết liên quan đến Thiên Hộ Dương, các tác phẩm này thường nêu thời gian chính xác. Sự kiện lịch sử giới hạn trong 15 năm đầu đánh Pháp. Một võ quan Nguyễn Phương Hồng mưu sự khi “thực dân Pháp kéo quân chiếm phủ Tân Ninh”, rồi Phan Liêm – Phan Tôn nổi dậy “lúc Pháp vừa chiếm xong ba tỉnh miền Tây”. Đến năm 1867, Quản Bạch chọn vàm rạch làng Tân Tịch làm căn cứ. Cũng năm này, ở Vĩnh Long, quân Pháp nghênh ngang xúc phạm miếu thờ. Sang 1872, “nhóm nghĩa quân vùng Cầu Vông (Vĩnh Long) nổi lên kháng Pháp. Lãnh tụ khán
 









Các ý kiến mới nhất