Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TRUYỆN ĐỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TẬP 1

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:44' 24-01-2024
Dung lượng: 7.8 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Héi ®ång chØ ®¹o xuÊt b¶n
Chñ tÞch Héi ®ång
pgs.TS. PHẠM VĂN LINH
Phã Chñ tÞch Héi ®ång
PHẠM CHÍ THÀNH
Thμnh viªn
trÇn quèc d©n
TS. NguyÔn §øC TμI
TS. NGUYÔN AN TI£M
NguyÔn Vò Thanh H¶o

LỜI NÓI ĐẦU
ể giúp các em học sinh ở các bậc học phổ
thông và sinh viên các trường đại học, cũng
như các bạn đọc xa gần muốn tìm hiểu lịch sử
Việt Nam một cách dễ dàng, dễ nhớ, chúng tôi
biên soạn bộ sách Truyện đọc Lịch sử Việt Nam.
Các truyện đọc trong bộ sách được sưu tầm và
biên soạn dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác
nhau. Bộ sách sẽ đem đến cho các em học sinh,
sinh viên và bạn đọc nhiều điều thú vị và bổ
ích. Nội dung các truyện đọc không chỉ cung
cấp cho bạn đọc những kiến thức về lịch sử Việt
Nam, mà còn cung cấp những câu chuyện có
tính nhân văn và tính giáo dục về các sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử, các thành tựu kinh
tế, văn hoá tiêu biểu của dân tộc theo dòng thời
gian của lịch sử Việt Nam từ triều đại nhà
Nguyễn cho đến ngày nay.

Đ

Bộ sách gồm 3 tập:
Tập 1: Giới thiệu các truyện về triều đại nhà
Nguyễn thời độc lập tự chủ.
5

Tập 2: Viết về các truyện từ khi thực dân
Pháp xâm chiếm nước ta cuối thế kỷ XIX đến
Cách mạng tháng Tám thành công.
Tập 3: Là các truyện về giai đoạn lịch sử từ
sau Cách mạng tháng Tám đến nay.
Ở đầu mỗi tập truyện đọc, chúng tôi đều
giới thiệu một cách khái quát nội dung lịch sử
của giai đoạn mà các truyện đọc sẽ phản ánh để
bạn đọc tiện theo dõi.
Các tác giả cố gắng biên soạn theo nguyên
tắc ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu; chỗ nào có
thuật ngữ khó hoặc có địa danh cổ, chúng tôi
đều có chú thích và giải nghĩa ở cuối trang.
Nhân tập 2 của bộ sách ra đời, chúng tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các soạn
giả các tài liệu được sưu tầm, chọn dẫn và các
tác giả có tranh, ảnh được minh hoạ trong sách.
Mặc dù đã rất cố gắng, song cuốn sách chắc
chắn không tránh khỏi thiếu sót. Chúng tôi rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của
bạn đọc xa gần để sách được tốt hơn trong
những lần tái bản sau.
Nhóm tác giả

6

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VIỆT NAM
TỪ NĂM 1802 ĐẾN 1884
ruyện đọc Lịch sử Việt Nam tập 1 bao gồm
những truyện có nội dung phản ánh lịch sử
nước ta từ khi nhà Nguyễn thành lập (1802) đến
khi đất nước ta hoàn toàn bị rơi vào tay thực
dân Pháp (1884).
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã chọn Phú
Xuân (Huế) làm kinh đô (gọi là phủ Thừa Thiên),
chia địa phương thành các cấp độ quản lý như
thành, doanh, trấn. Các địa phương gần kinh đô
gọi là doanh đặt dưới sự cai quản trực tiếp của
triều đình như Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng
Nam; các trấn đặt dưới sự quản lý gián tiếp như
Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định,
Khánh Hoà, Bình Thuận. Ở hai đầu đất nước, Gia
Long đặt hai đơn vị hành chính cấp cao, là Bắc
Thành và Gia Định Thành, giao phó quyền hành
cho hai viên Tổng trấn thay mặt Hoàng đế cai
quản các trấn định đoạt mọi việc.

T

7

Năm 1831, vua Minh Mạng tiến hành cải
cách hành chính, chia địa hạt từ Quảng Trị trở
ra Bắc thành 18 tỉnh; một năm sau, địa phận từ
Quảng Trị trở vào Nam chia đặt 12 tỉnh, kinh
đô Phú Xuân vẫn đặt phủ Thừa Thiên. Tất cả
đều thuộc chính quyền Trung ương.
Vua Gia Long đặt ra lệ Tứ bất (không đặt Tể
tướng, không lấy Trạng nguyên, không lập
Hoàng hậu và không phong tước vương), mọi
quyền hành đều tập trung trong tay Hoàng đế.
Vua trực tiếp nắm và điều hành sáu bộ và các
viện chuyên trách như Đô sát, Hàn lâm, Thị
thư... Năm 1834, Minh Mạng cho lập Cơ mật
viện là cơ quan có quyền cùng với vua bàn việc
quốc gia đại sự.
Nhà Nguyễn coi trọng luật pháp. Năm 1805,
bộ Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Luật Gia Long)
gồm 398 điều chính thức được ban hành. Nhà
Nguyễn chủ trương xây dựng một quân đội
mạnh, có tới 20 vạn quân vào cuối thời Gia
Long, chia thành bốn binh chủng: bộ binh, thuỷ
binh, pháo binh và tượng binh.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ổn
định tình hình đất nước sau bao nhiêu năm
chiến tranh loạn lạc, nhưng mọi chính sách của
nhà Nguyễn chủ yếu tập trung vào việc củng cố
quyền lực của vương triều. Độc tôn Nho giáo,
8

kìm chế công thương, bế quan toả cảng, trên
thực tế đã không đem lại những kết quả như
nhà Nguyễn mong muốn là tăng cường sức
mạnh của dòng họ cai trị, mà trái lại đã làm mất
đi khả năng vươn lên cùng thời đại của dân tộc,
làm suy kiệt sức đề kháng của đất nước trước
nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa thực dân
phương Tây. Tiếng súng tấn công Đà Nẵng
năm 1858 là điểm khởi đầu cho một quá trình
xâm lược mà kết quả là sự thất bại thảm hại của
triều Nguyễn với việc ký kết Hiệp định Patơnôt
ngày 6-6-1884, xoá bỏ hoàn toàn những biểu
hiện quyền lực còn lại của chế độ phong kiến
Việt Nam độc lập.
Có thể nói đến đây, chế độ phong kiến Việt
Nam với ý nghĩa là một vương triều độc lập đã
bị sụp đổ. Các triều vua Nguyễn còn tồn tại sau
đó chủ yếu do thực dân Pháp lập nên như một
con bài cần thiết cho sự vận hành bộ máy thống
trị của chủ nghĩa thực dân mà thôi.

9

NGUYỄN ÁNH
XÂY THÀNH GIA ĐỊNH
ừ năm 1788, Nguyễn Ánh đã vững chân tại
vùng đất Sài Gòn- Gia Định và có ý định
biến Sài Gòn thành Gia Định kinh (thủ phủ).
Việc đón tiếp các đoàn ngoại giao, sứ thần các
nước diễn ra tại đây. Vì vậy, năm 1789, Nguyễn
Ánh giao cho hai người Pháp thiết kế và xúc
tiến việc xây dựng thành trì.
Để thực hiện kế hoạch đồ sộ này, hàng trăm
nhà dân phải di dời và huy động đến ba vạn
người làm việc trong nhiều năm liên tiếp, chưa
kể những đóng góp khác về gỗ, gạch, gạo, tiền.
Gánh nặng đó đã khiến các tầng lớp nhân dân ở
đây cùng một số quan lại bất bình, nổi lên
chống đối việc xây thành của Nguyễn Ánh.
Giên Bôsơ (Jean Bouchot), căn cứ vào hồi ký của
hai viên kỹ sư chỉ đạo xây thành Gia Định đã
cho biết: "Đông đảo nhân dân và nhiều vị quan
đã nổi dậy chống lại việc xây thành Gia Định".

T

10

Chính vì vậy, thành Gia Định không thể hoàn
thành: đầu tường thành chưa có lỗ châu mai,
mặt thành chưa bố trí đại bác, tường thành chưa
đủ cao.
Tuy nhiên, thành Gia Định cũng là tòa
thành đồ sộ, quy mô nhất so với trước. Thành
được xây theo kiểu Vôbăng (Vauban), mỗi bề
dài 130 trượng 2 thước, chu vi ngoài hào 794
trượng, cao 1 trượng 3 thước(1), mở 8 cửa với
tên gọi theo bát quái của Kinh Dịch: Càn,
Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài (nên
thành Gia Định còn gọi là thành Bát quái).
Trong thành có xẻ 4 đường ngang, 4 đường
dọc chia cắt thành ra những ô vuông. Ô vuông
rộng nhất để xây cung vua, các ô vuông khác
xây miếu, chùa, công sở, kho tàng, trại lính, đài
các... Nhìn trên bản đồ thấy thành Gia Định có
hình dáng giống như một con rùa khổng lồ,
nên còn được gọi là Thành Quy.
Năm 1833, Lê Văn Khôi (con nuôi Lê Văn
Duyệt) chiếm thành. Năm 1836 thành bị phá bỏ
và xây mới, kích thước nhỏ hơn. Ngày 17-2-1859
Pháp đánh chiếm thành, dùng thuốc nổ phá
thành và đốt cháy các kho gạo.
_______________
1. Trượng, thước: đơn vị đo độ dài cũ, 1 trượng = 3,33
m, 1 thước = 0,425m.

11

A. Hoàng Cung (nhà
vương ở).
B. Hậu Điện (để mẹ vua ở)
C. Y Viện
E. Kho Đồn điền (Trừ Tích)
F. Cục chế tạo (xưởng thợ)
G. Trại súng (chứa xe súng)
H. Kho hỏa dược (thuốc súng)
V. Di tích đảo thấy tường
thành bát quái.
 Tường Thành Bát quái
vây kín ở trong (trừ 8 cửa)
 Thành Dương Mã (đẻ
ngựa) ở ngoài 6 cửa
 Tường thành nằm ở
giữa 2 thành Dương Mã

 Hào quanh thành
 Tên cửa thành thời Gia
Long: Cần Nguyên.
 Tên cửa thành thời
Minh Mạng: Gia Định
 Vị trí đường phố hiện nay
Nguyễn Đình Chiểu

Sơ đồ Thành Bát Quái Sài Gòn do Trương Vĩnh Ký vẽ, Nguyễn Đình
Đầu lược dịch và chú giải

12

SỐ PHẬN LẠ LÙNG CỦA
CÔNG CHÚA NGỌC BÌNH
ông chúa Lê Ngọc Bình sinh năm 1783 là con
út của vua Lê Hiển Tông (1717-1786) và
Chiêu nghi Nguyễn Thị Điều và cũng là em gái
công chúa Ngọc Hân. Dân gian còn lưu truyền
Ngọc Bình nổi tiếng đẹp sắc nước hương trời,
cơ thể có mùi hương rất lạ, vô cùng cuốn hút.
Sau khi đánh bại nhà Nguyễn ở Đàng Trong
năm 1786, với danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”,
Nguyễn Huệ tiến ra Bắc tiêu diệt chúa Trịnh rồi
vào Thăng Long yết kiến vua Lê ở điện Kính
Thiên và dâng sổ sách quân dân thu được trong
phủ chúa Trịnh. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển
Tông phong là Nguyên súy, Phù chính uy quốc
công và gả công chúa Ngọc Hân, lúc này vừa
tròn 16 tuổi, làm vợ.
Hai năm sau, tại Huế, Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế, đặt niên hiệu Quang Trung, phong
Ngọc Hân làm Hữu cung hoàng hậu. Họ có với
nhau 2 con là công chúa Nguyễn Ngọc Bảo và

C

13

hoàng tử Nguyễn Quang Đức. Năm 1792,
Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, con trai Nguyễn
Huệ và Hoàng hậu Bùi Thị Nhạn là Quang
Toản lên nối ngôi lúc mới 10 tuổi, lấy niên hiệu
là Cảnh Thịnh. Do Hoàng đế Cảnh Thịnh còn
nhỏ, quyền lực triều Tây Sơn rơi vào tay nhóm
quyền thần do Thái sư Bùi Đắc Tuyên (cậu ruột
Quang Toản) đứng đầu. Vì Thái sư chuyên
quyền, độc đoán nên trong hàng ngũ tướng sĩ
Tây Sơn có nhiều người bất bình. Người nào
theo Đắc Tuyên thì được ưu ái, người nào ra
mặt chống lại thì bị hại đẩy đi nơi xa.
Đến năm 1795, sau khi Đắc Tuyên bị diệt,
Thái hậu Lê Ngọc Hân làm mối công chúa Lê
Ngọc Bình cho Quang Toản. Công chúa Ngọc
Bình trở thành chính cung hoàng hậu của nhà
Tây Sơn khi vừa tròn 12 tuổi.
Cuộc hôn nhân giữa công chúa Ngọc Bình
và Hoàng đế Cảnh Thịnh đã đặt Ngọc Hân Nguyễn Huệ, Ngọc Bình - Cảnh Thịnh vào mối
quan hệ phức tạp. Ngọc Hân và Ngọc Bình vừa
là chị em ruột, lại vừa là mẹ chồng nàng dâu.
Vua Quang Trung với vua Cảnh Thịnh vừa là
cha con vừa là anh em cọc chèo mà nhạc phụ
của họ là vua Lê Hiển Tông.
Tháng 5-1801, Nguyễn Ánh đánh chiếm Phú
Xuân, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà, Ngọc
14

Bình và một số cung nữ bị kẹt lại Phú Xuân.
Thấy hoàng hậu trẻ đẹp, ăn nói dịu dàng, dáng
điệu thướt tha, Nguyễn Ánh muốn lấy làm vợ.
Mặc cho các cận thần kịch liệt phản đối vì
cho rằng “Thiên hạ thiếu gì đàn bà mà lại lấy
thừa vợ của giặc”. Vua Gia Long vẫn bỏ ngoài
tai tất cả. Ông trả lời bề tôi của mình rằng: “Tất
cả giang sơn này, cái gì mà ta không lấy từ
trong tay giặc, cứ gì một người đàn bà”.
Trong khi đó sách Quốc sử di biên do Phan
Thúc Trực biên soạn năm 1851-1852 có đoạn viết:
“Năm Nhâm Tuất, Gia Long năm đầu (1802)
ngày 21 Canh Thân, Thế tổ (Gia Long) đến kinh
thành Thăng Long, hào mục bắt anh em Quang
Toản dâng cho Gia Long. Sau đó, chúng nộp Lê
Ngọc Bình vào cung vua Gia Long”.
Ngọc Bình sau đó được vua Gia Long
phong làm phi và sinh được hai hoàng tử cho
nhà Nguyễn là Quảng uy công Nguyễn Phúc
Quân (sinh năm 1809), Thường tín công
Nguyễn Phúc Cự (sinh năm 1810) và hai công
chúa Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc
Ngôn. Bà mất năm 1810, khi mới 27 tuổi, được
ban thụy là Cung Thận Đức phi, an táng tại
làng Trúc Lâm (Huế).
Chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình có điểm
tương đồng đều là con vua Lê Hiển Tông nhà
15

Hậu Lê, sinh trưởng ở ngoài Bắc, lớn lên đều
lấy chồng là Hoàng đế nhà Tây Sơn.
Do thế sự đưa đẩy, công chúa Ngọc Bình trở
thành người có số phận lạ lùng nhất trong lịch
sử các vương triều phong kiến Việt Nam. Dù bà
không để lại nhiều dấu ấn nhưng là một người
đặc biệt của 3 triều Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Bà là
con vua Lê, lại lấy hai đời chồng là vua của hai
vương triều đối nghịch nhau là Cảnh Thịnh nhà
Tây Sơn và Gia Long triều Nguyễn. Vì vậy hàng
trăm năm qua, dân gian vẫn còn truyền tụng
câu ca dao về công chúa Lê Ngọc Bình: “Số đâu
có số lạ lùng. Con vua lại lấy hai chồng làm vua.”

16

QUỐC HIỆU VIỆT NAM XUẤT HIỆN
TRONG VĂN BẢN TRIỀU NGUYỄN
au khi lên ngôi (năm 1802), Gia Long đã cử
Chánh sứ Trịnh Hoài Đức cùng Ngô Nhân
Tĩnh và Hoàng Ngọc Uẩn làm Phó sứ đem quốc
thư và phẩm vật sang thông sứ với triều Thanh
(Trung Quốc). Tháng 11 năm đó, Gia Long tiếp
tục cử Toàn xứ Lê Quang Định làm Chánh sứ
đem quốc thư và sản vật gồm kỳ nam, ngà voi,
trầm hương cùng các loại vải quý, xin đổi quốc
hiệu làm Nam Việt.
Quốc thư có đoạn: “Các đời trước mở mang
cõi viêm bang, mỗi ngày một rộng, bao gồm cả
các nước Việt Thường, Chân Lạp, dựng quốc
hiệu là Nam Việt, truyền nối đã hơn 200 năm.
Nay đã quét sạch miền Nam, vỗ yên được toàn
cõi Việt, nên khôi phục hiệu cũ để chính danh
tốt”. Vua triều Thanh là Gia Khánh thấy quốc
hiệu Nam Việt gần giống như Đông Việt, Tây
Việt nên không muốn ban phong. Vua Gia Long

S

17

đã nhiều lần đưa thư sang biện giải lý do muốn
đặt quốc hiệu là Nam Việt. Trước thái độ kiên
quyết và cứng rắn của vua Gia Long, vua Gia
Khánh đồng ý ban cho quốc hiệu nhưng đổi từ
Nam Việt thành Việt Nam với lý do: “Khi trước
mới có Việt Thường đã xưng Nam Việt, nay lại
được toàn cõi Việt, theo tên riêng mà xét thực
thì nên tóm cả đất đai mở mang trước sau, đặt
cho tên tốt, định lấy chữ Việt để trên đầu để tỏ
rằng nước này nhân đất cũ mà nối được tiếng
thơm đời trước, đặt chữ Nam bên dưới để
chứng tỏ nước này mở cõi Nam giao, tên xưng
chính đại, chữ nghĩa tốt lành, mà lại phân biệt
rõ được với tên gọi cũ của Lưỡng Việt ở nội địa
Trung Quốc”.
Tháng 2 niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), vua
tổ chức đại lễ tại điện Kính Thiên, trong thành
Thăng Long, tuyên bố tên nước là Việt Nam.
Ngày cử hành đại lễ, vua Gia Long đến ngự tại
cửa Chu Tước (phía Nam) cùng hoàng thân,
quốc thích và bách quan trong triều đến dự.

18

VỤ ÁN CHA CON
NGUYỄN VĂN THÀNH
guyễn Văn Thành, quê ở Thừa Thiên, vào
Gia Định đã hai, ba đời. Ông theo Nguyễn
Ánh từ những ngày đầu và chịu nhiều gian khổ
cùng chủ tướng và lập được nhiều công lớn,
đứng đầu hàng công thần. Khi lên ngôi, Gia
Long giao cho Nguyễn Văn Thành trọng trách
Tổng trấn Bắc Thành. Với tài cai trị, giáo hóa
nhân dân, ông đã ổn định tình hình đất Bắc chỉ
sau vài năm. Sau đó, ông được triệu về kinh
lãnh chức Trung quân. Vốn là người có học
thức, Nguyễn Văn Thành, Vũ Tinh và một số
đại thần khác được giao biên soạn bộ Quốc triều
hình luật (Luật Gia Long).
Con trai ông là Nguyễn Văn Thuyên đỗ
Cử nhân và cũng là người ham thích văn
chương. Thuyên làm thơ ngâm vịnh cho
người bạn ở Thanh Hóa vào chơi. Lời thơ có
chỗ ngông nghênh:

N

19

Ái Châu nghe nói lắm người hay
Ao ước cầu hiền đã bấy nay
Ngọc phát Kinh sơn tài sắc đó
Ngựa kỳ ký Bắc biết lâu thay
Mùi hương hang tối xa ngàn dặm
Tiếng phượng gò cao suốt chín mây
Sơn tế phen này dù gặp gỡ
Giúp nhau thay đổi hội cơ này.
Những kẻ ghen ghét, đố kị với Nguyễn Văn
Thành đã vu cho Thuyên có mưu đồ thoán đoạt
ngôi vua, khiến cho cha con Nguyễn Văn Thành
cùng bị trị tội. Thuyên bị bắt giam, còn Nguyễn
Văn Thành bị triều thần xử án tử hình. Sau buổi
triều kiến, Thành chạy theo nắm lấy áo vua Gia
Long, kêu oan thảm thiết:
- Thần theo bệ hạ từ buổi còn trẻ đến bây
giờ, nay chẳng có tội gì mà bị người ta vu oan.
Bệ hạ nỡ lòng nào ngồi nhìn người ta giết thần
mà không cứu!
Gia Long không nói gì, giật áo ra, đi vào
cung. Từ đó cấm không cho Nguyễn Văn Thành
vào chầu nữa. Lê Văn Duyệt đem Thuyên ra tra
khảo, bắt phải nhận tội phản nghịch. Thành sợ,
uống thuốc độc tự tử, Thuyên cũng bị chém đầu.
Vụ án giết hại cha con Nguyễn Văn Thành là
một trong những vụ sát hại công thần nổi tiếng
của vua Gia Long.
20

NGƯỜI ĐÀO KÊNH VÀ MỞ ĐƯỜNG
SÔNG Ở BIÊN GIỚI TÂY NAM
hoại Ngọc hầu Nguyễn Văn Thoại sinh năm
1762 tại huyện Diên Phước (nay là huyện
Điện Bàn), tỉnh Quảng Nam. Ông cùng gia đình
rời quê hương vào Nam và đến định cư ở làng
Thới Bình thuộc địa phận Vĩnh Liêm, tỉnh Vĩnh
Long. Năm 1777, Nguyễn Văn Thoại rời làng
theo phò Nguyễn Ánh. Năm 1784, trước sự lớn
mạnh của nghĩa quân Tây Sơn, Nguyễn Văn
Thoại cùng Nguyễn Ánh lánh nạn sang Xiêm.
Từ đó, ông nhiều lần được cử sang đây để thiết
lập quan hệ bang giao. Không những vậy, ông
còn được chủ tướng giao trọng trách chiêu tập
các dân tộc thiểu số ở thượng du và phụ trách
bang giao với Lào. Nhờ vậy, Nguyễn Ánh rảnh
tay kéo quân ra Nghệ An đánh Tây Sơn.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, phong
Nguyễn Văn Thoại làm Chưởng cơ trông nom
việc binh ở Bắc Thành, rồi giữ chức Trấn thủ

T

21

Lạng Sơn, tước Thoại Ngọc hầu; sau đó chuyển
vào làm Trấn thủ Định Tường (vùng Tiền
Giang, Hậu Giang ngày nay).
Lúc bấy giờ, vùng đất Định Tường còn rất
hoang sơ, sình lầy, việc đi lại rất khó khăn; ông
đề xuất với triều đình cho đào kênh Đông
Xuyên. Vì được đào theo lạch nước cũ, nên chỉ
sau hơn một tháng đã hoàn thành, được vua
Gia Long khen thưởng và cho lấy tên ông đặt
cho tên núi (núi Thoại Sơn) và tên kênh (kênh
Thoại Hà).
Nhận thấy vùng Châu Đốc, Hà Tiên tuy rất
gần nhau, nhưng không có đường bộ, có nhiều
ao hồ, rừng rú lầy lội, việc đi lại bị cản trở, nhà
vua mong muốn: “Đất này nếu mở đường sông
để thông với Châu Đốc dọc theo biên giới với
nước Cao Miên (Campuchia ngày nay) đến
vịnh Hà Tiên thì việc làm ruộng, giao thông đi
lại và buôn bán đều lợi. Sau này dân đến ở
đông đúc, đất được khai phá, có thể thành một
trấn sầm uất”.
Công việc chuẩn bị xong, vua truyền cho
Nguyễn Văn Thoại, lúc bấy giờ là Trấn thủ Vĩnh
Thanh, chỉ huy dân binh về Châu Đốc khởi
công việc đào kênh vào năm 1818.
Việc đào kênh diễn ra rất khó khăn, trắc trở
nhưng với sự chỉ huy của hai vợ chồng Nguyễn
22

Văn Thoại - Châu Thị Tế cùng sự cố gắng đến
mức cao nhất của hàng trăm ngàn binh lính và
dân công; đến tháng 5-1824, con kênh hoàn
thành, kéo dài từ Châu Đốc dọc theo biên giới
Việt Nam - Cao Miên đến vịnh Hà Tiên với
chiều dài 97 km, qua nhiều núi đá và rừng rậm.
Thật là một công trình vĩ đại thời bấy giờ.
Tin công trình hoàn thành về đến kinh đô,
vua Minh Mạng cùng triều thần vô cùng vui
mừng. Vua cho phép Nguyễn Văn Thoại lấy tên
vợ chính của mình đặt tên cho con kênh là Vĩnh
Tế, vì bà có công giúp chồng tổ chức hậu cần
phục vụ dân binh trong những ngày đào kênh.
Ngoài việc đào kênh, Nguyễn Văn Thoại còn
chú trọng đến việc mở mang đường giao thông
(từ đồn Châu Đốc đến núi Sam); khai hoang vùng
Cù lao Dài (lập nên làng Phú Thái, Phú Khánh,
Thái Bình, Thanh Lương và Bình Thanh)...
Năm 1829, Nguyễn Văn Thoại ốm, rồi qua
đời. Vua Minh Mạng truy phong là Đô đốc,
tước Thoại Ngọc hầu. Mộ ông đặt ở chân núi
Sam, Châu Đốc. Nhân dân nhiều nơi ở vùng
Vĩnh Thanh đã lập đền thờ ông.

23

GIA LONG SÁT HẠI
ĐÔ ĐỐC BÙI THỊ XUÂN
ổ tiên Bùi Thị Xuân vốn quê gốc ở Nghệ An
nhưng vào Bình Định lập nghiệp từ lâu đời.
Bà nổi tiếng giỏi võ nghệ. Năm 16 tuổi, trong một
lần vào rừng lấy thuốc, bà gặp một chàng trai tay
không đang đánh nhau với hổ dữ. Thấy chàng
trai quần áo rách nát, người đẫm máu, bà dùng
dao đi rừng giết chết mãnh thú.
Từ cuộc gặp gỡ ly kỳ ấy, đôi trai gái nguyện
ước sống trọn đời với nhau. Chàng trai ấy chính
là Trần Quang Diệu, một tướng tài của Nguyễn
Huệ. Khi ra mắt Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân đã
được chủ tướng thu nạp và cho làm nữ tướng
thống lĩnh đội nữ binh 5.000 người. Từ đó, khi
theo đoàn quân bách chiến bách thắng Tây Sơn
vào Nam đánh chúa Nguyễn, ra Bắc diệt họ
Trịnh, khi đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm Xoài Mút, khi thần tốc phá 29 vạn quân Thanh ở
Ngọc Hồi, Đống Đa. Cuộc đời chiến trận của vị

T

24

nữ tướng trẻ đã ghi biết bao chiến công oanh liệt.
Bởi thế, Bùi Thị Xuân đã được vua Quang Trung
phong làm Đô đốc.
Khi vua Quang Trung mất, Quang Toản lên
làm vua, nhà Tây Sơn suy yếu, nạn bè phái tranh
chấp, giết hại lẫn nhau xảy ra liên tiếp, tạo cơ hội
cho Nguyễn Ánh chia quân làm nhiều mũi tiến
đánh quân Tây Sơn. Vua Quang Toản đã sai
Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng đem đại binh
vào đánh lấy lại thành Quy Nhơn khiến Phú
Xuân bị bỏ ngỏ. Nguyễn Ánh liền đánh chiếm
được Phú Xuân. Bùi Thị Xuân đem quân về,
nhưng chỉ cứu được vua thoát chết mà không
cứu được kinh thành bị mất. Vua Quang Toản
bỏ chạy ra Thăng Long, nhưng Bùi Thị Xuân
không theo ra mà ở lại Nghệ An chống giặc.
Được tin đó, Trần Quang Diệu rút quân khỏi
Quy Nhơn, nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh ác
liệt, nên đành phải chạy sang Ai Lao rồi vòng về
Nghệ An. Nghe tin, Bùi Thị Xuân mang một
cánh quân nhỏ đi đón chồng. Nhưng không may
cả hai vợ chồng và đứa con nhỏ đều bị quân
Nguyễn bắt sống.
Sau đó, Nguyễn Ánh cho điệu Bùi Thị Xuân
đến hỏi:
- Ta lấy làm tiếc cho nhà ngươi không chọn
được vua sáng mà thờ.
25

Bùi Thị Xuân cười:
- Nhà ngươi nhầm rồi. Ta thờ Nguyễn Huệ vì
Tiên đế ta là người có chí lớn, có tài bao bọc
được cả vũ trụ, có chí nuốt được cả trời đất kia.
Gia Long tức lắm, lại hỏi:
- Nhà ngươi vào sinh ra tử bao năm, cũng là
người có tài cầm quân, sao không giỏi giữ ngai
vàng cho Cảnh Thịnh (tức vua Quang Toản)?
Bùi Thị Xuân nói:
- Ta tiếc rằng, Hoàng đế Cảnh Thịnh không
biết nghe lời khuyên của đấng trung thần, khác
nào vua ta cầu người hiền mà không biết đạo,
muốn người ta vào nhà mình mà đi đóng cửa
lại. Vì chỗ yếu của vua ta mà ngươi còn sống
đến hôm nay. Nếu triều Cảnh Thịnh có được
một nữ nhi nữa như ta thì cửa Nhật Lệ không
phải lạnh, nhà ngươi không thể đặt được chân
lên đất Bắc Hà.
Gia Long giận tím mặt, thét lên:
- Nữ tặc câm họng! Ngươi sẽ phải chịu một cực
hình thê thảm.
Rồi Gia Long hạ lệnh cho voi giày Bùi Thị
Xuân và con gái nhỏ còn Trần Quang Diệu thì
bị chém đầu.

26

VIỆC LÀM LỊCH VÀ BAN HÀNH
LỊCH CỦA TRIỀU NGUYỄN
iệc làm lịch, ban hành lịch cho dân chúng và
các cơ quan Nhà nước sử dụng dưới triều
Nguyễn rất được coi trọng và được tiến hành
công phu, nghiêm chỉnh. Bộ sách Đại Nam hội
điển sự lệ do Nội các cùng Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn có quy định như sau: “Lệ
định hằng năm cứ tháng 2 Khâm Thiên giám
suy tính lịch cho năm sau. Tháng 5 làm thành
bản thảo. Số quyển lịch ở Kinh bao nhiêu, do
Khâm Thiên giám in ra. Lại khắc bản mẫu lịch
phát trạm đưa đến Gia Định, Hà Nội mỗi nơi 2
bản, giao nhận cho hai tỉnh ấy theo lịch mẫu mà
khắc bản in ra. Vẫn phải vào Khâm Thiên giám
lĩnh giấy vàng có đóng ấn “Hoàng đế chi bảo”
và đóng ấn Khâm Thiên giám rồi phát ra cho
hai tỉnh làm. Đến kỳ sẽ ban cấp cho các tỉnh”.
Năm 1810 có ban Chiếu: “Gia Định, Bắc
Thành hằng năm ban lịch... đường sá xa xôi nên
việc ban lịch chưa rộng. Từ nay, hằng năm

V

27

thượng tuần tháng 4, quan của hai tỉnh ấy chọn
phái hai viên Chiêm hậu ở thành đến Kinh lĩnh
nhận bản thảo sang năm ở Bộ Lễ, đem về theo
mẫu khắc in ra... Lịch mới in xong, đưa trình Bộ
Lễ; bàn giao Khâm Thiên giám xem xét thực
đúng; đóng sẵn ấn vàng rồi đem bản lịch đóng
thành quyển để ban cấp cho các nơi”... Như
vậy, việc làm lịch được triều Nguyễn quy định
trình tự rất chặt chẽ, cụ thể. Nhà vua trực tiếp
chỉ đạo và phân công trách nhiệm rõ ràng cho
các viên quan chuyên môn làm lịch. Chức trách
của Khâm Thiên giám là biên soạn, tu chỉnh
chính xác mới được in ra phổ biến cho toàn
quốc sử dụng.
Thông thường, mỗi khi làm xong bản thảo
Hiệp kỷ lịch kỷ công đến tháng 5 theo lệnh được
khắc bản in lịch. Tháng 10, tiến hành đóng ấn
Kim bảo và ấn Khâm Thiên giám rồi đóng lịch
thành quyển. Ngày 1 tháng Chạp (tháng 12 âm
lịch) làm lễ ban sóc (tức ban lịch) tại điện Thái
Hoà (Đại Nội Huế). Quan Khâm Thiên giám
đem lịch dâng lên Nhà vua làm lễ ban hành
chính thức. Quan các thành Gia Định và Bắc
Thành, quan phụ trách các tỉnh mặc triều phục
đến Hành cung bái vọng làm lễ nhận lịch. Sau
khi nhận, các quan có trọng trách đem về in ra
theo lệ ban cấp như đã quy định.
28

Về hình thức của lịch cũng rất trang trọng
theo quy cách do vua ban sắc: Bìa lịch rộng 9 tấc
2 phân, cao 8 tấc 7 phân(1) dùng lụa Bắc, 8 tấm
lụa sắc vàng đều có thêu hoa văn rồng mây. Tờ
mặt trước quyển lịch làm bằng tấm lục sắc hoa
đào dài 1 tấc, rộng 5 phân, thêu 2 chữ "Ngự
lịch" (bằng chữ Hán).
Về nội dung, các vua triều Nguyễn đều rất
quan tâm đến các vấn đề trọng yếu của lịch và lựa
chọn phương thức soạn lịch thích hợp hơn với
thời đại. Năm 1827, chuẩn y lời tâu của Tham tri
Bộ Hộ Nguyễn Hữu Thận lấy sách Đại Thanh lịch
tượng khảo thành (triều Thanh, Trung Quốc) giao
cho Khâm Thiên giám nghiên cứu tham khảo
soạn thành lịch.
Ngoài ra, các vua triều Nguyễn còn chú
trọng đến cách bố trí trên từng tờ lịch để người
xem dễ hiểu và tin cậy. Vua Minh Mạng đã
từng phê: “Những ngày cấm hành hình, sát
sinh, đều phải có vòng một khuyên mực nhỏ
đánh dấu để dân dễ hiểu..., đến kỳ ban lịch
Khâm Thiên giám phải ghi phụ chú để người
dùng biết rõ”.
Hằng năm việc làm lịch cũng thường xuyên
được điều chỉnh, năm 1844, nhà vua ban Dụ:
_______________
1. 1 tấc = 1 dm, 1 phân = 1 cm.

29

“Khâm Thiên giám từ trước làm Hiệp kỷ lịch,
nhân vì kính nể khi gặp tên húy nhà vua đã đổi
tiết sau tiết “Tiểu mãn” 15 ngày là tiết “Mang
chủng”(1) thành tiết “Mang hiện”... thế thì cắt
nghĩa chữ mang nói không trôi được mà mất ý
nghĩa của sách... Không thể không đính chính
lại. Nghĩa chữ “mang” là một giống lúa, không
phải ngôi sao mà dùng chữ “hiện”. Nay đổi tiết
ấy thành tiết “Mang thực” (thuộc lương thực).
Mặt khác, trong nội dung sách lịch, triều
Nguyễn yêu cầu ban soạn lịch phải nghiên cứu,
khảo sát và ghi chính xác các diễn biến về thời
tiết, thiên văn. Đặc biệt các hiện tượng nhật
thực, nguyệt thực, phải được ghi rõ ràng vào
lịch và trước 3 tháng phải vẽ thành bản đồ trình
nhà vua. Sau đó thông báo cho các địa phương
biết và chú ý theo dõi. Đối với nước ta là một
nước nông nghiệp, nên 24 tiết khí hằng năm có
quan hệ chặt chẽ đến việc gieo trồng, cày cấy,
thu hoạch... của nhà nông. Vua Thiệu Trị muốn
phổ biến rộng rãi kiến thức cho nhân dân đã
sáng tác thành 24 bài thơ lục bát, mỗi bài 4 câu
dễ đọc, dễ thuộc, được đưa vào phần Phụ lục
của Hiệp kỷ lịch.
_______________
1. Chủng là tên húy của vua Gia Long (18021820).

30

NGÀNH KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN
VIỆT NAM THẾ KỶ XIX
ông tác khí tượng, thủy văn của triều
Nguyễn thế kỷ XIX cũng như các triều đại
trước Nguyễn vẫn gắn liền với thiên văn, lịch
pháp và do một cơ quan Nhà nước phụ trách,
đó là Khâm Thiên giám.
Theo thư tịch ghi chép, Khâm Thiên giám
xuất hiện lần đầu tiên dưới triều Nguyễn vào
đầu thế kỷ XIX, được lập ra tại Kinh đô Huế. Từ
đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, cơ quan
quản lĩnh thiên văn, lịch pháp của triều Lê được
gọi là Tư Thiên giám, trụ sở của nó thuộc khu
vực phố Khâm Thiên, Hà Nội ngày nay.
Triều Nguyễn rất coi trọng Khâm Thiên
giám và thường cử các quan Đại thần phụ trách
cơ quan này. Trương Đăng Quế, Trương Minh
Giảng... các vị trọng thần hầu hết có chức hàm
Thượng thư (tương đương với Bộ trưởng hiện
nay) quản lý Khâm Thiên giám về mặt hành
chính. Công việc chuyên môn thì giao cho các

C

31

viên Giám chính, Giám phó điều hành. Năm
1805, việc sắp đặt tổ chức nhân sự tại Khâm
Thiên giám được chính thức thực hiện. Ngoài
quan Đại thần quản lý chung do nhà vua đặc
cách chọn bổ, còn lại là 1 viên Giám chính hàm
Chánh ngũ phẩm, 2 viên Giám phó Tòng ngũ
phẩm, 4 viên Chủ nha chính Chánh lục phẩm, 2
viên Linh đài lang Chánh thất phẩm. Nhiệm vụ
chung của Khâm Thiên giám được quy định
như sau: "Có nhiệm vụ quan sát, tính toán,
phân chia các tiết trong năm để làm lịch, quan
sát, ghi chép các hiện tượng thời tiết, khí hậu,
quản lý giờ và làm tất cả các tính toán thiên văn
có liên quan".
Ngoài Khâm Thiên giám được lập tại Kinh
đô Huế, tại các tỉnh địa phương trong toàn quốc
đều có đặt Ty Chiêm hậu với chức quan Linh
Đài lang có trách nhiệm quan sát các hiện tượng
thiên văn và theo dõi thời tiết kịp thời báo cáo
về Khâm Thiên giám. Biên chế nhân sự của Ty
Chiêm hậu từ triều vua Gia Long cho đến trước
năm 1837 quy định mỗi tỉnh đều có từ 5 đến 10
người. Từ năm 1837 trở đi mới đưa ra quy định
cụ thể: các tỉnh lớn Ty Chiêm hậu 5 người, tỉnh
vừa 4 người, riêng Hà Nội được lấy 7 người làm
việc. Sau đó, số nhân viên trong Ty Chiêm hậu
ở các tỉnh cũng thường có thay đổi.
32

Ở thế kỷ XIX, hiện tượng bão, lụt, vỡ đê
thường xuyên xảy ra, nhất là các tỉnh tại miền
Bắc Việt Nam luôn luôn trở thành một vấn đề
nhức nhối, cấp bách buộc triều Nguyễn phải
quan tâm giải quyết. Những cuộc tranh luận
gay gắt xung quanh việc bỏ đê hay giữ đê đã
phản ánh rõ tính bức xúc của công tác khí
tượng, thủy văn đương thời.
Bên cạnh hệ thống tổ chức khá quy củ, chặt
chẽ từ trung ương tới các địa phương trên toàn
quốc, đảm bảo mối thông tin liên lạc thường
xuyên, các cơ quan khí tượng thủy văn triều
Nguyễn đã được trang bị những dụng cụ khoa
học quan trắc tương đối chính xác, khoa học,
trong đó, có nhiều "nghi khí" mua của phương
Tây. Danh mục "nghi khí" được các sách sử ghi
lại để lắp đặt tại Khâm Thiên giám và ban cấp
cho Ty Chiêm hậu các tỉnh có: các loại phong vũ
hàn thử biểu, hàn thử biểu, bàn xem hướng gió, kính
thiên lý, hàn thử xích, bồn, chậu đo tính nước mưa...
Các dụng cụ đo nước mưa được triều đình cho
chế tạo theo tiêu chuẩn thống nhất. Cột đo mức
nước cắm ở các con sông cũng được tính toán
theo độ nông, sâu khác nhau.
Các chỉ, dụ của các vua Minh Mạng, Thiệu
Trị, Tự Đức về công việc khí tượng, thủy văn
đều có nhắc nhở các quan lại, viên chức làm
33

công tác này phải ghi chép đều đặn, tỷ mỷ,
chính xác các diễn biến của mực nước, lưu giữ
hồ sơ, để đối chiếu tìm ra quy luật bão lụt hằng
năm... yêu cầu tính chính xác luôn luôn được
đề cao.

34

VĂN MIẾU HUẾ
ăn Miếu Huế được xây dựng vào tháng Bảy
năm 1808 tại địa phận làng An Vinh, nằm
cạnh sông Hương. Văn Miếu Huế được triều
Nguyễn cho xây dựng uy nghi, đồ sộ thể hiện
sự tôn trọng đề cao Nho học.
Bao ngoài Văn Miếu là phần thành ngoại,
mặt trước có trổ cổng hướng về phía Nam nhìn
ra sông Hương. Cổng chính có hai tầng, tầng
dưới ba gian tầng trên một gian, phía trên treo
một bức hoành phi sơn son thếp vàng đề ba chữ
đại tự Văn Miếu môn (Cổng của Văn Miếu).
Thành ngoại còn mở hai cửa Đông và Tây. Cửa
Đông là Chấn Đức môn, cửa Tây là Quan Đức
môn. Thành nội của Văn Miếu, phía trước có
cổng tam quan hướng về phía Nam là cổng Đại
Thành, bên trái có cổng Kim Thanh, bên phải có
cổng Ngọc Chấn.
Từ cổng Đại Thành nhìn vào là ngôi điện
chính thờ Đức Khổng Tử, không gian trọng
yếu và linh thiêng của Văn Miếu. Tại chính

V

35

đường của Văn Miếu, gian chính giữa thờ
Khổng Tử với Thần vị “Chí Thánh Tiên Sư
Khổng Tử”. Bốn gian bên trái và bên phải thờ
Thần vị của Tứ Phối là Nhan Tử, Tăng Tử, Tử
Tư và Mạnh Tử. Thập triết được thờ ở tiền
đường ba gian trái và ba gian phải, về sau đến
đời Minh Mạng lại thêm Hữu Nhược và Chu
Hy thành Thập nhị triết. Đông vu và Tây vu
gồm 14 án thờ các Tiên hiền và Tiên Nho. Tiên
hiền là những đệ tử của Đức Khổng Tử, Tiên
Nho là những Nho gia nổi tiếng có công hoằng
dương Nho học qua các thời đại. Từ gian thứ
nhất đến gian thứ năm của hai vu, mỗi bên thờ
31 Tiên hiền, gian thứ sáu và gian thứ bảy mỗi
bên thờ Tiên Nho, bên đông thờ 18 vị, bên tây
thờ 16 vị... Tổng cộng gồm 110 vị, đều cho làm
mộc chủ để phụng thờ.
Văn Miếu Huế được tôn tạo qua các triều vua
Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái. Đặc biệt vào
năm 1849, triều đình cho tiến hành tu sửa toàn
bộ khu Văn Miếu. Dưới triều vua Bảo Đại, các
tấm bia Tiến sĩ được di chuyển và sắp xếp theo
vị trí như ngày nay. Toàn bộ ngôi miếu chính
được dựng trên một nền đài cao, dài chừng 32
mét, rộng 25 mét. Kết cấu gồm hai nóc kiểu
Trùng thiềm điệp ...
 
Gửi ý kiến