Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM - PHẦN CHIM MUÔNG QUYỂN 2

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 09h:26' 02-01-2024
Dung lượng: 808.4 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
Tên sách : TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM (Q2)
MUÔNG CHIM
Tác giả : ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC
Nhà xuất bản : THĂNG LONG
Năm xuất bản : 1934
-----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
Đánh máy : bongmoloko, thuantran46, ThaiThaiCJ, Thuong
Nguyen, little_lion, kd1995, huong.nguyenthu, Khongtennao,
laithuylinh, bhp
Kiểm tra chính tả : Phạm Bách, Trần Trung Hiếu,
Nguyễn Thị Linh Chi, Trần Khang
Biên tập chữ Hán – Nôm : Đỗ Văn Huy
Biên tập ebook : Thư Võ
Ngày hoàn thành : 30/12/2018

Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
« SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
Cảm ơn tác giả ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC và nhà
xuất bản THĂNG LONG đã chia sẻ với bạn đọc những
kiến thức quý giá.

MỤC LỤC
MÀO ĐẦU
1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
3) CON GIUN KHÔN NGOAN
4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
8) CON CHÈO BẺO
9) CON TÔM VÀNG
10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
13) TU HÚ GỌI CÔ
14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
16) CON CHANH-CHANH VÀ CON CHẢ-CHẢ
17) KHƯỚU DẠY HỌC
18) RÙA-RÙA DẠY KHÔN
19) CHÓ RỪNG VÀ CỌP
20) PHÙ DU VÀ ĐOM ĐÓM
21) HÉT ĂN GIUN
22) KIẾN, ONG CHỌI VỚI CÓC

23) DÊ ĐI KIẾM ĂN VỚI CỌP
24) DIỀU VỚI GÀ
25) CẠC CẠC KẸC KẸC
26) LÝ TRƯỞNG DIỀU HÂU
27) CON DƠI
28) TRÂU NHÀ VÀ TRÂU RỪNG
29) CON VOI VỚI CON TRÂU
30) CHUỘT VÀ MÈO
31) THẰN LẰN MỒNG NĂM
32) THẰN LẰN TRỘM CHÂN
33) CÔNG VÀ GÀ
34) CON CÔNG VÀ LÀNG CHIM
35) CÓC THI TÀI VỚI VOI
36) THUỒNG LUỒNG TỊ VỚI RÙA
37) RÙA CHƠI VỚI HẠC
38) VÀNG ANH
39) CUỐC KÊU TRĂNG
40) LÀM KIẾP CON GÌ
41) ĐEO NHẠC CHO MÈO
42) CỌP KHÔNG SỢ DÊ
43) CỌP CŨNG KHÔNG SỢ NGỰA
44) TÌNH VỢ CHỒNG NGHĨA ANH EM
45) QUẠ BẮC CẦU
46) SÁO VÀ CÒ
47) CON CHÓ VÀNG VÀ CON CHÓ ĐEN

48) MỌT VÀ TÒ VÒ
49) CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ
50) TRÂU CÀY TRÂU CỘT
51) TRÂU BÉO, TRÂU GẦY
52) TẠI SAO CON TRÂU KHÔNG BIẾT NÓI
53) GÀ, VỊT VÀ CHIM KHÁCH
54) THẰN LẰN VỚI RẾT
55) QUẠ ẤU HỌC
56) TU HÚ VÀ CHIỀN CHIỆN
57) TU HÚ VÀ QUẠ
58) CON BỒ CÂU VÀ CON SÁO
59) CHÂU CHẤU KIỆN VOI
60) CÁ RÔ ĐI THI
61) LÀNG CHIM KÊU LÝ TRƯỞNG
62) LÝ TRƯỞNG KHƯỚU
63) RÙA ĐỘI BIA
64) CON RẮN VÀ NGƯỜI NUÔI RẮN
65) LONG VƯƠNG VÀ CON ẾCH
66) CON CÒ TRẮNG
67) CHÓ BA CẲNG
68) CỐC VÀ CÁ
69) ĐA ĐA VÀ CÒ
70) CÁ VỚI NGAO
71) CHIỀN CHIỆN VÀ CHOI CHOI
72) CHIM SẺ VÀ CHIM XANH

73) CHÀO MÀO MUỐN LẤY CHIM XANH
74) CHÓ PHẢI ĐÒN OAN
75) QUẠ ĂN TRỘM NGÔ
76) GÀ ÔNG ĐỒ VÀ GÀ ÔNG NGHÈ
77) HAI VỢ CHỒNG CON CHIỀN CHIỆN VÀ ÔNG SƯ
78) CÁ CHÉP HÓA RỒNG
79) CON RẮN VỚI CON HỔ
80) TẶC KÈ VÀ NÒNG NỌC
81) CON NHỆN BÁO TIN
82) CON NHỆN VÀ CON RUỒI
83) RUỒI, NHẶNG VỚI NHỆN
84) VOI, CỌP THI TÀI
85) CHẪU CHÀNG CÓ CHÍ HỌC HÀNH
86) GÀ RỪNG
87) CHÂU CHẤU VỚI CÀO CÀO
88) CHÂU CHẤU ĐÁ VOI
89) CHÍCH CHÒE VÀ VÀNG ANH
90) CON THỎ, CON CHÓ VÀ CON MÈO
91) CON RUỒI VÀ CON RỆP
92) CON CUA VÀ CON CÁY
93) TU HÚ VÀ CHIM SẺ
94) MÈO MẮC LỪA CHUỘT
95) DIỀU VỚI CẮT VÀ QUẠ
96) DIỀU, QUẠ TRANH NHAU
97) KIẾN VỚI CÁ

98) ONG VẼ
99) CON LỢN ĂN NO LẠI NẰM
100) CHẼO CỜ VÀ VẸT
101) MUỖI, CHẤY VÀ ĐOM ĐÓM
102) TRANH BAY TRƯỚC, SAU
103) CON LE VÀ CON VỊT
104) CON CỐC VÀ CON ÉN
105) CON CHÓ CÓ NGHĨA
106) CON TRÂU GHEN VỚI CON CHÓ
107) ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN
108) VỊT ĐI XIN CHÂN
109) CON CUỐC VÀ CON QUẠ
110) GÀ MÁI GÁY
111) GÀ MÁI VỚI GÀ CON
112) CON CHÓ VÀ MẶT TRĂNG
113) CÒ VÀ BỒ CÂU
114) TRỜI CHIA CỦA
115) CHIM CHÌA VÔI
116) ỐC LO CHO ỐC
117) CON MÈO
118) KIẾN MỌC CÁNH
119) CÓC ĐI THI
120) CÓC BÔI VÔI
121) CON CÓC VÀ CON CHUỘT
122) SÁO MỎ VÀNG

123) KY CÓP CHO CỌP NÓ ĂN
124) TẠI SAO CỌP ĂN THỊT NGƯỜI
125) TÔM CÁ KẾT BẠN
126) TRÊ CÓC
127) CỌP, HƯƠU, NHÍM VÀ SƯ TỬ
128) CHUỘT BẠCH VÀ HAI VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ

ÔN NHƯ
NGUYỄN VĂN NGỌC

TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM
In lần thứ II
Chương trình Việt văn 1957 của B. Q. G. G. D.
LỚP ĐỆ THẤT – ĐỆ LỤC
TẬP II : MUÔNG CHIM
THĂNG LONG

MÀO ĐẦU
Quyển này là quyển thứ hai trong bộ « Truyện cổ nước
nam » mà chúng tôi cho xuất bản. Trong quyển này, sưu tập
riêng những truyện về các giống « Muông chim ».
Kể theo phương diện ý tưởng và văn thể, thì những
truyện viết đây thay đổi nhiều lối, đại để như sau này :
a) Những truyện do ở các câu ngạn ngữ, phong dao xuất
sản ra, hay trái lại, những truyện mà sự thúc-kết đã đúc
thành câu ngạn ngữ, phong-dao.
b) Những truyện có thể coi như có tính-cách giải nghĩa về
khoa học, nhưng khoa học cổ-lỗ bất ngoại-hồ một câu hỏi
« Tại sao ? ».
c) Những truyện hoang đường thuộc về thuyết « Luân
hồi », người hóa ra vật, vật hóa người.
d) Những truyện xưa nay tập-tục nghiệm ra cho rằng thế
và thuộc về tôn giáo hay sự mê tín.
e) Những truyện tương đối với cái lối gọi là ngụ ngôn của
Âu-tây, lấy câu kết luận làm câu luân lý để dạy người…
Mỗi lối này đáng lẽ có thể chép rời ra từng mục một.
Hoặc còn có thể thu cả những truyện chuyên về một giống
vật nào cho đi liên tiếp với nhau để làm một cái sử riêng cho
giống vật ấy.
Việc đó, và cả việc nghiên-cứu, phê-bình quyển truyện
hay từng truyện một, xin để sau này, khi chúng tôi soạn được
trọn bộ và có đủ thời giờ, thì chúng tôi sẽ lưu tâm đến.

Hiện nay, chúng tôi chỉ mới có cái công góp nhặt, và càng
nhặt được nhiều bao nhiêu, chúng tôi càng lấy làm hay bấy
nhiêu. Cho nên không đợi lựa chọn gì, trong sách chúng tôi
cho tập họp cả các truyện lại và sắp đặt gián đoạn mỗi lối
một ít, khiến cho người đọc có thể đọc luôn hết truyện này
đến truyện khác mà không đến nỗi chán nản.
Chúng tôi dám mong rằng khi xem quyển truyện, độc giả
hoặc thấy chỗ nào có điều sai lầm hay bỏ sót, chỉ giáo cho
chúng tôi sửa chữa lại hay bổ cứu vào, thì chúng tôi được lấy
làm hân hạnh lắm.
Hà-nội, ngày 22 tháng 5
Năm Giáp-Tuất (3-7-1934)
Ô. Nh. – NG.V.NG.

1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
Xưa con lươn và con cá rô là một đôi bạn thân, thường
năng đi lại với nhau. Một hôm, rô đi kiếm ăn, qua chỗ lươn ở,
thấy lươn đương nằm chơi trong lờ.
Rô hỏi rằng : « Bác thư thả nằm chơi đấy ư ? »
Lươn nói : « Tôi mới dựng được cái nhà nghỉ mát. Mời bác
hãy ghé vào chơi ».
Rô sợ không vào. Lươn rằng :
- Nhà tôi gió mát, trăng trong,
Thềm cao, sân rộng, sổ song
Xin bác đừng chê !

1

bốn bề.

Cá rô vẫn rụt rè đứng ở ngoài trông vào. Lươn lại rằng :
- Nhà tôi cao rộng bốn bề,
Bác vào nhà nghỉ không hề can chi.
Xin chớ ngại gì !
Rô bấy giờ bùi tai, chui vào trong lờ. Một chốc lươn vươn
mình chui ra, rủ rô cũng mau mau ra để cùng ngao du sông
bể. Nhưng rô đã mắc lờ, không làm thế nào mà ra được nữa.
Lươn bảo rằng :
- Mình em như cá vào lờ,
Khi vào thì dễ, bây giờ khó ra.
Xin cố chui qua.
Nghe thấy lươn hát, rô nằm trong lờ, rô khóc mãi thế nào
đến hai mắt đỏ ngầu lên. Lươn thấy rô khóc, lươn bật phì

cười. Rô càng khóc bao nhiêu, thì lươn càng cười bấy nhiêu,
cười mãi thế nào đến hai mắt híp lại. Bởi thế mà từ đấy mắt
rô lúc nào cũng đỏ ngầu mà mắt lươn bao giờ cũng ti hí.

2

2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
Xưa con công với con quạ, hai con làm bạn với nhau thân
lắm, vì hai con cùng xấu cả. Một hôm hai con ngồi nói
chuyện với nhau.
Quạ bảo công rằng : « Ta thử xem các giống chim trên
rừng, trên núi, giống nào cũng đẹp. Này như : con phượng
hoàng, cái mình nó quý giá biết bao, đến nỗi người ta thường
khen : « Một cái lông con phượng hoàng bằng cả một làng
chim chích ». Lại như con hạc, cái hình, cái dạng, cái chân,
cái tóc nó thanh tao biết thế nào, để cho người ta phải nói :
« Hạc đứng chầu Vua ; Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa cũng
xinh ». Còn như anh em ta đây ! than ôi ! thân hình thật
không còn giống nào xấu bằng nữa ! »
Công nói : « Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây
giờ ? »
Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng : « Xấu mà làm ra đẹp,
cũng được chớ gì ! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn
cho nhau xem có đẹp hay không ? »
Công bằng lòng. Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước.
Quả nhiên cái mình, cái đuôi công lóng lánh thành có bao
nhiêu sắc đẹp, đẹp hơn những giống chim khác nhiều. Đến
lượt công đang ngồi tô điểm, vẽ vời cho quạ, thì chợt nghe
tiếng ríu rít biết bao nhiêu chim con ở phía đông bay lại.
Quạ liền hỏi : « Chúng mày đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ
như thế ? »

Đàn chim nói : « Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam
có nơi nhiều gạo, nhiều gà, lại có cả mấy cái thây ma nữa.
Chúng tôi rủ nhau đi kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy ?… Hay ta
đi một thể ».
Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim
kia ngay lập tức. Quạ mới nói với công rằng : « Bây giờ mà
tôi ngồi đợi để anh tô điểm vẽ vời cho đẹp, thì chưa biết đến
bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn cả đĩa mực đây, anh cứ cầm
thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia, kẻo lỡ mất một
dịp may kiếm ăn tốt ».
Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực
dốc vào mình quạ. Thành bao nhiêu lông cánh quạ toàn một
màu đen như mực.
Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp
nữa. Nhưng đến lúc gà, gạo, thây ma phè phỡn, trở về thấy
con cò trắng muốt bay qua, nó trông nó cười, quạ ngắm lại
mình đen thủi đen thui gớm chết, thì lấy làm thẹn, vội bay
lẫn đi nơi khác.
Thành tự đó hễ thấy cò đâu, thì quạ cứ kêu : « Quạ cấu
hổ ! Quạ xấu hổ ! ». Nên chi mới có câu hát rằng :
« Quạ đã biết mình quạ đen,
Quạ đâu còn dám mon men tới cò ».

3) CON GIUN KHÔN NGOAN
3

Xưa có người bắt một con giun nhỏ làm mồi để câu cá.
Khi bị chìm xuống nước, con giun thấy một con cá muốn đến
đớp, mới bảo cá rằng : « Tôi với anh cùng là một loài ở một
đất, nước với nhau. Nay người nó bắt tôi làm mồi để nhử
anh. Phỏng anh ăn thịt tôi, tôi chết, mà anh móc vào lưỡi
câu, thì anh có sống được chăng ? »
Cá nghe nói không ăn giun, bỏ đi nơi khác. Người kia ngồi
câu thấy mãi không được con cá nào, nghĩ bụng con giun ấy
không làm mồi được, bèn lấy ra quăng đi mà kiếm cái mồi
khác. Thành ra con giun khỏi chết. Bởi truyện này sau ta mới
có câu hát rằng :
« Khôn ngoan ai được như giun,
Cá khôn mắc mẹo, người khôn mắc lừa ! »

4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
Xưa con ngựa thấy con voi chậm chạp có ý khinh lờn.
Ngựa đòi thi tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường
thẳng, thì voi chạy không kém gì ngựa mấy, nhưng lúc thi
chạy đường quanh, thì ngựa chạy nhanh hơn voi nhiều. Voi
thua. Ngựa lên mặt.
Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường quanh, nhưng
phải chạy sang tận hòn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho
là không vào đâu, chắc ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy
được một chốc, thấy có con sông, dòng nước chắn ngang,
ngựa phải đứng dừng lại chưa biết nghĩ thế nào, thì đã thấy
voi chạy tới nơi, voi lội xuống sông mà sang được núi bên kia.
Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh voi
nữa. Bởi vậy mà người ta mới có câu thường hát rằng :
« Ngựa lau chau, ngựa đến bến giang,
Voi đủng đỉnh, voi sang qua đò ».

4

5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
Ngày xưa con gián và con nhện làm bạn chơi với nhau chí
thân. Một hôm con nhện phàn nàn với con gián rằng :
« Tôi ghét người chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì
nó, mà hễ nó thấy cái mạng tôi giăng chỗ nào, là nó cứ ra
công phá hoại. Cho nên tôi mới có câu nguyền rủa rằng :
- Ta mong cho chủ tan hoang,
Để ta mắc võng nghênh ngang cả nhà.
« Tôi, thì tôi yêu chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì
họ, mà họ cũng chẳng làm hại gì tôi. Dầu mỡ trong nhà tôi
ăn uống tha hồ phong lưu, mà chẳng ai phiền đến tôi cả…
Cho nên tôi thường có câu chúc nguyện rằng :
- Ta mong cho chủ ta giàu,
Để ta ăn mỡ, ăn dầu no say ».
Nhện nghe nói lấy làm giận gián. Hôm khác, gián, nhện
gặp nhau chuyện trò lúc lâu, nhện hỏi gián rằng : « Thế nào,
độ này dầu mỡ no say thích chứ ! Tôi tưởng cái thân anh
cũng khổ, chỉ rong chơi rồi nhờ vào chủ nhà mà ăn mà uống,
chớ có tài nghề gì ? »
Gián đáp lại : « Thì tôi vẫn biết, tôi không có cái nghề gì
cả. Còn như anh, anh thật có tài nghề, có khôn ngoan, anh
cứ nạo ruột anh ra mà xe tơ và giăng cái mạng tinh khéo còn
ai bằng. Cái mạng này bị phá, anh giăng luôn ngay được cái
mạng khác ! Chỉ hiềm rằng nhà chủ họ không biết công khó
nhọc cho anh, họ lại cứ phá anh luôn, làm cho anh lắm lúc

không còn chỗ mà ở, không có miếng mà ăn. Chẳng trách
anh cầu cho cửa nhà họ tan hoang là phải. Nhưng khốn tôi
chẳng thấy họ tan hoang tí nào, tôi chỉ thấy càng ngày, họ lại
càng giàu sang như câu tôi chúc vậy. Mà cái trò họ lịch sự
hơn bao nhiêu, thì họ lái phá công nghiệp của anh hơn bấy
nhiêu ».
Nhện nghe gián nói, lại càng tức giận gián hơn trước
nhiều ! Cách đó ít lâu, nhà chủ giàu sang lịch sự, mua được
một con khướu nuôi để nó hót chơi. Phải tính con khướu thích
ăn gián, mà chủ cứ sai đầy tớ quơ mạng nhện xong, lại đi bắt
gián làm đồ ăn cho khướu.
Khi đó, cả họ nhà gián bị bắt gần hết, chỉ còn con gián
kia cứ phải lẩn lút chúi ở dưới hang dưới cống không dám nho
nhoe bò lên trên mặt đất hay mò mẫm ở nơi gậm chạn, đáy
nồi nữa.
Một hôm, nhện bắt gặp gián đang tìm đường trốn tránh,
nhện liền giữ lại hỏi : « Ấy kìa chào bác ! Thế nào, độ này
bác xem cái thân gián bác đã khốn khổ hơn cái thân nhện
của tôi đây chửa ? Tôi tuy bị nhà chủ nó phá cái mạng,
nhưng không bị nó tìm mà giết chết bao giờ, nhất là chết ở
trong cái miệng của một giống chỉ có nghề tài hót mà thôi.
Bác chúc nó cho nhiều nữa vào, bác cũng được cái tài nghề
chúc đấy !… »
Nghe nói xấu hổ, gián tụt ngay xuống miệng cống, không
còn nói năng gì được nữa. Thành tự bấy giờ gián, nhện giận
nhau, tuyệt giao hẳn và coi nhau đã như hằn thù vậy.

6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
Xưa, phải một năm Trời làm hạn hán đã năm sáu tháng
không có một giọt mưa, bao nhiêu đầm, vũng, ao, chuôm
đều cạn sạch. Không có nước, các loài cây cũng khô héo rũ
rượi ; không có nước, các loài vật cũng nhao nhao như muốn
làm loạn vậy.
Có một con cóc ở trong hang sâu, nghĩ mình ngắn cổ, kêu
chẳng thấu Trời, nhưng nước không có uống cóc lấy làm tức
mình, giận thân, bỏ hang định lên tận Trời kêu cho Trời biết
mới nghe.
Đi được một đoạn, cóc gặp con ong vẽ, nó hỏi đi đâu. Cóc
bảo : « Trời làm hết nước uống. Tao đi kêu Trời đây ».
Ong vẽ nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về hoa, về tổ.
Bấy lâu Trời nắng, đi hái hoa, thì hoa chẳng nở, muốn về tổ,
thì nước không có. Có phải anh đi kêu Trời, thì anh cho tôi đi
theo với ».
Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong vẽ cùng đi. Đi một đoạn
nữa, hai con gặp một con gà, nó hỏi : « Hai anh đi đâu ? »
Cóc, ong đáp : « Trời làm đại hạn. Chúng tao đi kêu Trời
đây ».
Gà nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về bông lúa, hạt
ngô, mà Trời nắng dữ mất mùa mất màng, muốn ăn không
có, hạt nước khô cổ cũng chẳng tìm ra. Có phải hai anh đi
kêu Trời, thì hai anh cho tôi đi theo với ».
Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong, gà cùng đi. Lại đi một

đoạn, ba con gặp một con cọp, nó hỏi đi đâu. Ba con đáp :
« Trời làm tiêu khổ. Chúng tao đi kêu Trời đây ».
Cọp nói : « Được đấy ! Để tao cùng đi với chúng mày ».
Trời nắng lâu hay mưa dầm, tao chẳng quản ngại gì.
Nhưng tao thấy chúng mày khao khát khốn khổ về nước, tao
cũng thương tình, để tao đi với cho thêm bè, thêm cánh. Một
5

đàn bốn con , đi mãi bao lâu mới đến cửa nhà Trời.
Con cóc dặn ba con kia rằng : « Các anh hãy cứ đợi ngoài
này để một mình tôi vào trước. Bao giờ tôi kêu anh nào vào
thì anh ấy hãy vào, tôi không kêu thì thôi ».
Rồi cóc liền nhảy vào. Cóc thấy Trời đang ngồi đánh tổ
6

tôm với mấy ông Tiên. Cóc thị võ, giương oai, trợn to hai
mắt, phùng to hai má, nhảy ngay vào giữa đĩa nọc ngồi chồm
hổm.
Trời thấy vậy giận lắm, thét lên rằng : « Mi lên đây làm gì
mà hỗn láo dường này ? »
Cóc chẳng nói chẳng rằng, lại càng giương mắt to thêm.
Trời liền cho gọi lính ra đánh cóc. Cóc không hề sợ, ra lệnh
7

cho ong vẽ. Ong vẽ bay vào cắn , bao nhiêu quân lính đau
đớn chạy tán loạn cả. Trời càng giận, truyền cho Thần Sấm,
8

Thần Sét ra đánh cóc. Cóc ra lệnh cho gà . Gà vào gà mổ ;
Sấm, Sét hoảng hồn chạy ráo. Trời càng giận, truyền cho
Thần Thiên Cẩu ra đánh cóc. Cóc vẫn cóc sợ gì, ra lệnh cho
cọp. Cọp vào cọp cắn, Thiển Cẩu chạy chí chết…
Trời thấy thế thua không làm gì nổi cóc, phải chịu phép
nó và đấu dịu với nó rằng : « Thưa cậu ! Thế cậu muốn gì,

cậu bảo cho biết ».
Cóc nói : « Tôi lên đây chẳng có việc gì. Tôi chỉ muốn hỏi
sao đã từ lâu Trời không mưa để cho mọi loài dưới hạ giới
phải chịu khô khan khổ sở vì không có nước ? »
9

Trời bèn gọi Vũ súy ra hỏi và trách Vũ súy rằng : « Chú
giữ việc làm mưa, mà sao chú không chịu chăm chút để cho
muôn vật dưới hạ giới nó khốn khổ, nó dám lên tận đây làm
huyên náo như thế này ! »
Vũ súy quỳ tâu : « Việc là việc chung thiên hạ, không
riêng chi một phương nào. Thiên hạ bao la rộng rãi, mà
chúng tôi chỉ có một mình coi không xuể
sót, xin Trời thẩm xét cho ».

10

, tất cũng có chỗ

Cóc nghe tâu, gắt lên rằng : « Thôi, tôi không biết đâu
cả. Trời đã chịu phép tôi, thì từ nay hễ khi nào thấy tôi kêu,
tôi nghiến răng, thì phải mưa ngay
đây làm loạn chớ chẳng tha ».

11

xuống, kẻo tôi lại lên

Trời bảo : « Vâng, thôi mời cậu cứ về. Từ giờ tôi xin làm
theo lời cậu không hề dám sai ».

12

Bấy giờ cóc mới chịu nhảy ra rủ cả ong vẽ, gà và cọp
cùng về. Ngay hôm ấy, Trời mưa. Bởi sự tích này mới thành
có những câu về con cóc rằng :
« Có cóc khô gì đâu ?
Cóc sợ gì ai !
Con cóc là cậu ông Trời,
Cóc nghiến răng, chuyển động bốn phương Trời ».

7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
Xưa có một nhà thật giàu có, ruộng nhiều, trâu bò lắm.
Phải một hôm đến hơn mười con vừa trâu, vừa bò lạc đi đâu
mất cả. Sau nhờ bà con láng diềng lùng đi tìm mãi mới lại
thấy đủ.
Cảm cái ơn to ấy, hai vợ chồng bàn nhau rằng : « Của ta
đã mất lại tìm thấy là nhờ lòng tử tế của bà con xóm diềng
cả. Vậy giờ ta phải báo ơn lại. Nếu bữa nay chưa kịp, thời
bữa mai ta phải thịt một con gà, một con lợn và một con chó,
rồi mời những ai đã giúp việc ta đến cơm rượu cho thật no
say ».
Hai vợ chồng bàn xong đi ngủ. Đêm nằm thấy ông Tổ
hiện lên báo mộng rằng : « Tao nghe chúng mày định một
bữa mai giết hại những ba con vật. Tao sợ chúng mầy làm
điều thất đức. Vậy chúng mày mà giết chúng nó, thì phải biết
hóa kiếp cho chúng nó, rồi trong nhà mới yên lành được ».
Vợ chồng nghe nói, kêu với ông Tổ rằng : « Chúng con
dương gian mắt thịt, không biết làm cái gì để hóa kiếp cho
chúng nó. Xin cụ dạy cho… »
Ông Tổ bảo rằng : « Hễ khi làm thịt gà thì phải hái lá
chanh, khi làm thịt lợn thì phải thái củ hành, khi làm thịt chó
thì phải giã củ riềng, mà cho thêm vào, thì hồn các con ấy
mới hóa được ».
Hai vợ chồng vâng vâng dạ dạ. Mà khi ông Tổ nói, con
gà, con lợn, con chó, ba con đều nghe thấy tiếng, biết mình
không sao tránh khỏi chết, cũng đành vậy. Nhưng ba con chỉ

sợ chủ nhà quên điều ông Tổ dặn các thứ phải gia thêm vào
thịt cho mau hóa kiếp, nên lúc mới sáng tinh sương, bà con
ùa nhau kêu ầm lên :
Gà thì : « Tục tác lá chanh ».
Lợn thì ủn ỉn : « Mua hành cho tôi ».
Chó thì khóc đứng, khóc ngồi : « Mẹ ơi, mẹ hỡi, mua tôi
đồng riềng ».
Vì truyện này mà tự đó ta ăn gà, phải có lá chanh, ăn lợn
phải có hành, ăn chó phải có riềng thì ăn mới ngon mà cũng
tức là để chóng hóa kiếp cho ba con vật rất có ích cho ta vậy.

8) CON CHÈO BẺO
Xưa có một người, về mùa tháng mười, lúa đã gần chín,
đêm nào cũng ra đồng nằm để giữ lúa. Gặp phải một đêm, có
hai tên kẻ trộm rủ nhau đến cắt trộm lúa. Chúng thấy có
người nằm giữ đấy rồi, không biết làm thế nào, mới bảo nhau
giết chết đi.
« Than ôi trời cao đất dầy !
Để cho người ấy bị tay tham tàn ! »
Ai ngờ, oan hồn thì hồn hiện, hồn người chết ấy lên Thiên
Đình kêu với Ngọc Hoàng.
Ngọc Hoàng liền sai quỷ sứ xuống bắt hai tên kẻ trộm
lên, rồi phán rằng : « Hai đứa chúng mày siêng ăn, biếng làm
chỉ lo trộm cướp của người, rồi lại còn giết người. Như tội ấy
thật là to lắm ! Hai tên bây phải chết, một tên thì ta bắt làm
châu chấu, còn một tên thì ta bắt làm cào cào ».
Xong, Ngọc Hoàng lại phán rằng : « Còn tên giữ lúa chết
oan kia, thì ta hóa kiếp cho làm con chèo bẻo ».
Tên kia tâu rằng : « Bây giờ con hóa làm chèo bẻo, thì
con phải làm những việc gì ? »
Ngọc Hoàng phán : « Ta cho mày hóa làm chèo bẻo, một
là để cho mày lại theo được cái nghiệp giữ lúa như xưa, hai là
để cho mày có dịp báo thù được hai tên kẻ trộm. Bao giờ lúa
chín, có châu chấu, cào cào đến ăn hại, thì ta cho mày cứ tha
hồ tự do bắt nó mà ăn thịt ».
Bởi sự tích này mà hằng năm cứ vào độ tháng mười gần

lúa chín, thì có chim chèo bẻo bay lượn khắp mọi cánh đồng
mà bắt châu chấu với cào cào.

13

9) CON TÔM VÀNG
Đời xưa có người giàu có, nuôi một con mèo cực đẹp. Ông
rất cưng yêu con mèo, mà con mèo cũng hết lòng với ông.
Một hôm, ông cho gọi thợ bạc đến trổ một con tôm bằng
vàng để làm đồ chơi. Con tôm vàng trổ khéo lắm không khác
gì con tôm thiệt. Nên ông lấy làm quí mến, ngồi đứng đâu,
thường vẫn đem theo. Phải một khi ông đi chơi vắng, bỏ
quên con tôm vàng ở nhà, lúc trở về tìm, thì con tôm vàng
mất đâu, tìm sao cũng không thấy.
Ông bèn gọi con mèo đến mà bảo rằng : « Mày ở nhà, có
biết con tôm vàng đâu, thì tìm ra cho được. Nếu không tìm
thấy, thì tao cứ mày tao trị tội ».
Con mèo thưa rằng : « Tôm vàng của ông ở đâu thì tôi
không biết, nhưng tôi biết trong nhà có con chuột, tính nó
hay gậm, hay tha, để tôi thử xin tra nó xem sao ».
Rồi con mèo đi tìm con chuột gầm gừ hỏi rằng : « Ông
chủ tao đánh mất con tôm vàng. Mày có tha đi đâu, thì phải
đưa trả ngay đây, không tao cắn chết ».
Con chuột run sợ nói rằng : « Con tôm vàng, thật tôi
không lấy. Nhưng tôi biết, hôm qua lúc ông chủ đi vắng,
người thợ bạc lẻn vào nhà lấy trộm rồi đem đi. Hay bây giờ
anh với tôi, ta phải đi lấy tôm vàng về cho được ». Mèo nghe
nói, vui lòng nhận đi ngay…
Nhà người thợ bạc ở cách một con sông, mèo chuột phải
lội qua mới sang đến nơi. Mèo thì ngồi đợi trước cửa, còn
chuột chạy vào lục lọi khắp mọi nơi. Chuột khoét mau thủng

một cái hòm, chui vào tìm bới, thì quả nhiên thấy con tôm
vàng trong ấy. Chuột vội cắn đem ra cho mèo. Mèo lấy làm
mừng lắm, ngậm con tôm vàng vào mồm. Hai con lại rủ nhau
lội qua sông để về nhà. Nhưng đang lúc lội, mèo luống cuống
làm sao, để cho tôm vàng sẩy rơi xuống nước.
Mèo lấy làm lo sợ, nói với chuột rằng : « Con tôm vàng ở
dưới đáy sông rồi ! Hai đứa chúng ta cùng không biết lặn cả.
Liệu làm thế nào bây giờ đây ? »
Chuột trách mèo : « Công tôi đã tìm thấy được tôm vàng,
anh lại đem đánh rơi đi. Việc ấy thật là lỗi ở anh, không can
gì đến tôi nữa ».
Giữa lúc hai con đang ngồi than thở bàn bạc với nhau,
mèo chợt thấy một con cá tự dưới sông nhảy vào bờ. Mèo
nhanh chân chạy lại, bắt con cá, ngoeo ngoeo nạt nộ rằng :
« Tao vừa đánh rơi con tôm vàng xuống sông. Có phải mày
đã ăn mất rồi, thì mày nhả ra trả tao đây. Không thì tao cắn,
tao nuốt ngay bây giờ ».
Cá nghe nói, sợ hãi thưa rằng : « Con tôm vàng, lúc nãy
tôi quả có bắt được ngỡ là tôm thật, tôi đã toan ăn, nhưng
đến lúc gậm, thấy nó rắn quá, tôi lại nhả ra bỏ. Hiện bây giờ
nó còn ở dưới đáy sông ».
Con mèo vội bảo : « Thế mày phải mau lặn xuống sông
lấy đem lên đây cho tao, thì tao mới tha mày ».
Cá uốn mình lặn xuống sông lấy ngay được tôm vàng
đem lên trả mèo.
Mèo thấy tôm vàng, chẳng thèm cảm ơn gì cả, đội ngay

lên đầu mà đi, vừa đi vừa bảo chuột rằng : « Tao ngậm tôm
vàng vào mồm, tao lại sợ nó sẩy ra như lúc nãy thì chết. Bây
giờ tao đội nó trên đầu vững vàng thế này, thì thật không còn
ngại gì nữa ».
Mèo nói thế, đã tưởng là khôn lắm. Nào ngờ chưa đi được
mấy bước, có con quạ lượn trên không, trông thấy tôm vàng
nhấp nhánh ở dưới tưởng cái gì ăn được, sà ngay xuống đớp,
rồi bay lên đậu trên cành đa cao chót vót.
Mèo thấy tôm vàng lại mất, hoảng hốt vừa giận vừa lo,
bàn với chuột rằng : « Trước tôm vàng rơi xuống nước, ta
còn sai cá lặn xuống, nó lấy lên được. Bây giờ tôm vàng ở
trên ngọn cây, ta biết mượn ai bay lên đó để đem về được
cho ta ».
Chuột tán nhảm : « Ừ, quạ nó là loài cầm thì nó bay,
mình là loại thú thì mình bay sao được ! »
14

Mèo ngồi nghĩ thoáng một lúc, nói rằng : « Giả chết bắt
quạ, giả chết bắt quạ ! » Thôi được rồi.
Rồi mèo chạy lại mé sông, uống thật nhiều nước cho
bụng căng ra. Đoạn đến nằm dưới gốc cây đa, ềnh cái bụng
trắng hếu ra giả làm chết. Quả nhiên con quạ đang đậu trên
cao ngậm tôm vàng không nổi, trông thấy mèo chết dưới gốc
cây, vội vàng bay xuống để ăn thịt mèo. Mèo thấy quạ đến
gần nhổm ngay dậy, giơ chân cào một cái thật mạnh, quạ sợ
mất vía, nhả luôn tôm vàng ra bay thẳng một mạch. Mèo lại
nhặt lấy tôm vàng, ngậm thật chắc vào mồm rồi ung dung
đưa về cho ông chủ. Ông chủ lại thấy tôm vàng, lấy làm
mừng rỡ vô cùng, và tự đó lại càng cưng yêu mèo bằng mấy

trước.

10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
Xưa có con muỗi với con dơi hai con có việc bất bình đi
thưa nhau. Muỗi thì mướn mèo làm thầy kiện, dơi thì cầu
15

chuột
làm thầy cãi. Thế nào thầy kiện mèo xơi quách mất
thịt thầy cãi chuột đi. Dơi mất thầy, dơi thua. Nhưng dơi
không chịu, chỉ chực báo thù lại được muỗi mới nghe. Muỗi
sợ, muỗi không dám thò đầu ra ban ngày, cứ đợi lúc nhá
nhem tối mới vo ve bay ra. Dơi biết chừng, cũng không ra
ban ngày, đợi lúc nào muỗi ra dơi cũng mới ra. Dơi ra dơi đớp
thật nhiều muỗi. Dơi ăn muỗi, cái mối oán thù gây ra từ đó.

11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
Xưa có con thỏ, một hôm, lạc rừng gặp một con chó săn.
Thỏ cắm đầu chạy. Chó theo vết đuổi. Hai con chạy qua ba
quả núi, đến quả núi thứ tư chạy quanh hơn năm vòng. Hai
con cùng mệt nhoài, không con nào chạy được nữa. Chợt có
người đi cày về trông thấy, đến bắt được cả chó lẫn thỏ. Vì
truyện này sau thiên hạ mới đặt câu ca rằng :
« Thỏ liệt, thì chó cũng què ;
Thỏ chết, chó cũng hết nghề chạy rông !
Theo đôi thì cũng uổng công !
Để cho điền phủ ngồi không ăn cùng ».

12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
Xưa có con lừa, nghe tiếng con ngựa có tài, một hôm,
đến chơi với ngựa, và thách rằng :
- Ta đây một đấng anh hùng ;
Nghe ngươi tài nghệ, thử cùng thi nhau.
Ngựa khinh lừa, không thèm thi, đáp lại rằng :
- Anh hùng chơi với anh hùng ;
Bõ chi cá chậu, chim lồng mà thi.
Lừa giận lắm, cứ thách mãi. Sau ngựa phải ừ chịu. Hai
con cùng ra chạy thi với nhau mấy vòng. Ngựa thì chạy
nhanh như mưa tuôn, như nước chảy. Lừa ta thì lạch đạch
theo đã chẳng kịp, lại còn luống cuống ngã bổ ngửa ra. Ngựa
đứng lại, cười rằng :
- Chừa chưa ? Chừa chưa ?
Đã biết chưa lừa !
Trước kia, chỉ biết mặt nhau ;
Bây giờ mới biết tài nhau một lần.
Lừa nín thin thít, ngựa lại nói luôn nữa rằng :
- Ta đây nào có phải như người,
Bấy lâu đánh giặc đông, tây ;
Cuốn mây, thổi gió, ai tầy công ta !

13) TU HÚ GỌI CÔ
Xưa phải một năm Trời làm đói kém lắm, nhà kia có hai
cô cháu, không biết kiếm gì mà ăn cho đủ. Cả nhà chỉ còn
được một dúm đỗ. Hai cô cháu phải đem nấu lên, rồi chia
nhau lần lượt ngậm hơi cho đỡ đói. Ngậm đi ngậm lại đã bao
nhiêu ngày, các hột đỗ sau cứ dần dần mòn xác đi không còn
gì nữa. Phải khi cháu ngậm, hột đỗ nó trôi vào cuống họng
không sao móc ra được. Thành cô không còn gì ngậm hơi, cô
đói lả ra, cô chết. Cháu thấy cô chết, sinh ra buồn bực, vả,
đói quá, sức đã kiệt cùng, lăn ra chết nốt. Chết rồi cái hồn
hóa ra làm con tu hú.
Cho nên bây giờ khi nào đến tiết mùa hè, cây kê, cây đỗ
nở hạt, tu hú có lắm cái ăn, thì nó lại sực nhớ đến cô nó trước
mà nó cứ kêu « cô nó » :

16

- Cô hố ! Cô hố !
Lúa đã trổ,
Đỗ đã chín ;
Bay về mà ăn !
Và bởi vậy sau mới có câu hát rằng :
« Một miếng khi đói ;
Bằng gói khi no.
Kìa con tu hú :
« Thưa cô »

17

nó gọi hoài ».

Còn có người nói tu hú sau nhớ đến cô quá, có làm bài
phụ vong linh cô nó lên. Bài phụ rằng :

« Hồn vậy ! Hồn vậy !
Hồn ở nơi nào, hồn về.
Hoặc, hồn ở cây xanh,
Hoặc hồn ở lá đỏ,
Xin hồn về áp vào con đồng :
Hoàn phong phát động.
Nhật bất khả quá,
Dạ bất khả tri,
Cấp cấp như luật lệnh ! »
Hồn cô nó lên, nói rằng :
- Cháu ơi ! Cháu ơi !
Cô với cháu là dấu một nhà,
Ai nghĩ khi âm dương bất hòa,
Cơ tạo biến ra dâu bể !
Thôi phải sao, chịu vậy.
Biết nói năng chi nữa ?
Cháu đã có lòng,
Hồn cô đây cũng thỏa.
Sau này cháu cứ nhớ cô,
Đừng có quên cô là được vậy.

14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
Xưa một bà Tiên ở trên trời có một vườn đào đẹp lắm.
Chim chào mào lẻn vào rả rích ăn hết bao nhiêu quả. Đến
hôm bà Tiên ra chơi vườn, thấy mất nhiều đào, bà cho đôi
chim khách đến hỏi.
Khách thưa rằng : « Mấy hôm nay, tôi chỉ thấy chào mào
nó vơ vẩn ở đấy. Chắc chỉ nó ăn trộm đào thôi ».
Bà Tiên nghe nói giận lắm, đến thưa với Trời. Trời liền sai
cà cưỡng đi bắt chào mào lại.
Chào mào kêu với Trời rằng : « Con khách nó đặt cho tôi
điều gian xảo. Nó nói bâng quơ, không có bằng chứng gì cả.
Nó thật đã vu cáo cho tôi. Vu phản tội đồng, xin Trời cho xét
lại ».
Trời thấy chào mào nói có lý. Mới phán rằng : « Dâm tắc
tang, đạo tắc tích. Nay không ai bắt được nó quả tang ăn
trộm đào, thì ta cũng không tra ra sao được ». Nói đoạn, Trời
tha cho chào mào về.
Mùa sau, đào chín, chào mào ăn quen bén mùi, lại lẻn
vào vườn đào ăn trộm quả. Không ngờ bà Tiên đã cho chèo
bẻo rình đấy từ trước. Nên lúc chào mào ta đang ngồi ăn đào,
miệng ăn, tay lấy như của nhà mình, thì chèo bẻo tóm ngay
được, nắm đầu lôi đi. Bà Tiên giận quá, liền sai bắt nó đưa lại
cho Trời. Bận này thì chào mào cứ cúi đầu gục mỏ xuống,
không còn dám nỏ mồm như bận trước nữa.
Trời nổi lôi đình quát mắng ầm ầm : « Mày thật là một

quân đã đi làm đĩ lại còn già hàm. Phen này hẳn mày không
cãi được nữa. Tao phải trị cho mày biết tay mới được ».
Trời liền sai con cắt ra đập vào đầu chào mào. Chào mào
như không có ý sợ. Trời điên tiết, đứng phắt dậy đá thốc một
cái vào đít, chào mào ngã lộn xuống hạ giới, máu chảy đỏ lòe
loẹt. Bởi vậy mà từ đó chào mào vẫn còn cái đít đỏ. Nên mới
có những câu tục ngữ :
« Chào mào đỏ đít,
Chiêm bao chào mào đỏ đít ».

18

Và bây giờ trẻ con đùa với nhau, có khi cầm hai cẳng dốc
đầu xuống đất mà nói rằng :
« Chào mào, mào chào !
Sao đỏ lỗ đít ».

19

15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
Xưa có con chào mào và con cú làm bạn với nhau thân
thiết lắm. Hễ cú đi đâu thì gửi nhà cho chào mào trông hộ,
mà chào mào đi đâu cũng giao nhà cho cú giữ hộ. Hai con giữ
nhà giúp lẫn nhau rất cẩn thận không con nào mất gì bao giờ
cả. Phải một khi chào mào đi vắng đâu nhiều ngày quá, cú
giữ nhà hộ, sinh tính tham lam làm sao, chào mào để lại bao
nhiêu hoa quả, của cải gì là cú vét thu sạch. Đến khi chào
mào về đã thấy mất hết cả đồ ăn thức đựng, lại chẳng thấy
cú đâu, lấy làm giận lắm muốn đi tìm cho được. Nhưng cú
lỉnh mặt tài, chào mào lùng đâu cũng không thấy, đành về tổ
đứng chửi : « Cha cú ! Cha cú ! »
Rồi tự đó chào mào không chơi với cú nữa. Và thành tự
đó chào mào kiếm ăn đâu, hễ thấy cú mon men lại, là rủ
nhau từng đám đến vừa đánh, vừa chửi : « Cha cú ! Cha cú »
20

để chực đòi hỏi những của đã mất trộm khi xưa. Cú đành
chịu không dám chọi lại. Và bởi truyện này, trẻ mới có câu
thường hát rằng :
« Chào mào ơi hỡi chào mào !
Hễ thấy con cú nơi nao đánh liền.
Cú đành ngồi chịu, cú nhìn,
Chào mào quấn quít giữ gìn trước sau ».

16) CON ...
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓