Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

triet hoc

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: nguyenthanh
Người gửi: Nguyễn Thanh Duẫn (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:53' 23-05-2008
Dung lượng: 87.5 KB
Số lượt tải: 31
Số lượt thích: 0 người
Lêi nãi ®Çu
TriÕt häc lµ m«n khoa häc mang tÝnh trõu t­îng vµ triÕt lý cao nh­ng nã cã quan hÖ mËt thiÕt víi hÇu hÕt c¸c nghµnh khoa häc kh¸c.§a sè c¸c nhµ triÕt häc ®Òu ®· tõng nghiªn cøu trong c¸c lÜnh vùc tù nhiªn nh­ : To¸n häc, Sinh häc, VËt lý, Thiªn v¨n häc,...Triªt häc còng lµ m«n khoa häc b¾t buéc trong ch­¬ng tr×nh ®µo t¹o th¹c sÜ vµ nghiªn cøu sinh trong tÊt c¶ c¸c nghµnh khoa häc
Lµ ng­êi ViÖt Nam, cho dï lµ d©n th­êng hay trÝ thøc, mçi chóng ta cÇn ph¶i cã tr¸ch nhiÖm t×m hiÓu nh÷ng vÊn ®Ò liªn quan ®Õn ®Êt n­íc, ®Õn d©n téc ®· s¶n sinh ra m×nh. Sù t×m hiÓu Êy gióp cho chóng ta cã nhËn thøc ®óng ®¾n vÒ t­ tö¬ng vÒ ®Êt n­íc con ng­êi vµ nÒn v¨n hãa ®Ëm ®µ b¶n s¾c d©n téc h¬n bèn ngµn n¨m lÞch sö. ThÕ nªn, sù nghiªn cøu nh÷ng mèi liªn quan víi d©n téc, thùc lµ ®iÒu cÇn thiÕt ®èi víi nh÷ng con ng­êi ViÖt Nam yªu n­íc, yªu quª h­¬ng xø së.
PhËt gi¸o ViÖt Nam cã bÒ dµy truyÒn thèng gÇn hai m­¬i thÕ kû, mét thêi gian ®ñ dµi ®Ó d©n téc ViÖt Nam thö th¸ch, chän läc trong ®¹o phËt nh÷ng g× phï hîp nhÊt cho sù cñng cè vµ ph¸t triÓn cña d©n téc ViÖt Nam. T­ t­ëng ®¹o PhËt ®· thÊm nhuÇn tinh thÇn d©n téc. Bëi sù liªn hÖ mËt thiÕt nµy nªn ng­êi d©n ViÖt coi ®¹o PhËt lµ §¹o cña tæ tiªn truyÒn l¹i.
Muèn thÊy râ nh÷ng t¸c ®éng cña nã ®èi víi v¨n hãa ng­êi ViÖt thÕ nµo chóng ta sÏ t×m hiÓu ®«i nÐt vÒ nã.










Chúng ta đều biết rằng mỗi một nền triết học luôn gắn liền với điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên nhất định. Do vậy để xem xét quan niệm của người Việt Nam về thế giới và con người qua đó thấy được những ảnh hưởng của phật giáo đối với thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt ta sẽ tìm hiểu về sự hình thành, phát triển và những đặc điểm của lịch sử tư tưởng Việt Nam.
I. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM.

Trên phương diện địa lý, Việt Nam là một nước nằm ở phía Đông – Nam châu Á. Vị trí địa lý đó đã tạo lập cơ sở tự nhiên cho khả năng giao lưu, thông thương về kinh tế, chính trị, văn hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc và Ấn Độ trong nhiều thế kỷ trước thời cận đại, đặc biệt là với Trung Quốc.
Trên phương diện kinh tế, lịch sử Việt Nam hàng ngàn năm qua là lịch sử của nền kinh tế nông nghiệp, căn bản dựa trên nông nghiệp thiên về trông trọt, đặc biệt là nông nghiệp lúa nước. Điều này xuất phát từ đặc điểm địa lý Việt Nam.
Trải qua hàng ngàn năm, nền nông nghiệp trồng trọt Việt Nam căn bản dựa trên trình độ lao động thủ công và kinh nghiệm truyền đời của người nông dân, hầu như không có một cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất.
Về chế độ tư hữu các tư liệu sản xuất, căn bản dựa trên sở hữu pháp lý của nhà nước về đất đai và các tài nguyên, có sự phân cấp quyền sở hữu thực tế cho các tổ chức làng xã quản lý và sử dụng
Lịch sử Việt Nam từ thời Lý (1010-1225) trở về trước, căn bản thuộc về phương thức sản xuất châu Á và đồng dạng nhiều hơn với đặc điểm kinh tế xã hội của các nước phía nam châu Á. Chỉ từ cuối thời Lý, trải qua các triều đại Trần, Lê, Nguyễn và cận đại mới có sự phát triển nhất định của chế độ tư hữu ruộng đất. Chính thực tế đó đã làm xuất hiện giai cấp địa chủ trong xã hội, nhưng cũng rất hạn chế.
Do căn bản dựa trên chế độ công hữu về đất đai dưới hình thức sở hữu pháp lý của nhà nước và sở hữu hiện thực làng xã nên về căn bản trong lịch sử Việt Nam không diễn ra sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Chỉ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và đặt ách cai trị thuộc địa mới dẫn tới sự phân hóa giai cấp có phần khốc liệt. Vì vậy, về cơ bản lực lượng thống trị trong xã hội Việt Nam truyền thống là đẳng cấp phong kiến cấu kết với giai cấp địa chủ trong các cơ sở xã làng xã nông thôn. Trong những thời kỳ Bắc thuộc và Pháp thuộc, các lực lượng thống trị đó thường trở thành công cụ cai trị của các thế lực ngoại xâm. Một bộ phận cấp tiến và có tinh thần dân tộc tổ chức dân cư đấu tranh, khởi nghĩa chống lại các thế lực thống trị đó để giành độc lập dân tộc.
Với một lịch sử thành văn trên hai ngàn năm đã có hơn một ngàn năm luôn phải đấu tranh dựng nước và giữ nước. Bởi vậy, lịch sử chính trị Việt Nam trước hết thể hiện ra trong hiện thực là lịch sử chống giặc ngoại xâm để xây dựng và bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc. Đây là đặc điểm có liên quan mật thiết với nội dung các tư tưởng triết học Việt Nam.
Về tổ chức xã hội, cơ cấu xã hội truyền thống Việt Nam là một hệ thống khép kín mà hệ thống dưới là cơ cấu các làng xã khép kín của các nhóm dân cư nông nghiệp. Mỗi làng xã Việt Nam là một cơ cấu kinh tế - chính trị - văn hóa hoàn chỉnh khép kín và được duy trì gần như bất biến qua nhiều thế kỷ.
Trong xã hội phong kiến độc lập tự chủ Việt Nam( từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII), nhà nước quan liêu đó luôn có hai nhiệm vụ cơ bản là tổ chức dân cư các làng xã chống giặc ngoại xâm và xây dựng, bảo trì hệ thống thủy lợi, tức là thực hiện chức năng kinh tế và an ninh của nhà nước phong kiến Việt Nam.
Với cơ sở kinh tế là nền nông nghiệp lạc hậu tồn tại hàng ngàn năm, lại được bảo tồn bởi một cơ cấu xã hội khép kín của các làng xã đã trở thành cơ sở hiện thực của “nền văn hóa làng mạc” hay “nền văn hóa dân dã”.
Tri thức là cơ sở trực tiếp cho ra sự đời và phát triển của triết học. Vốn tri thức cơ bản của các cư dân nông nghiệpViệt Nam truyền thống là các tri thức kinh nghiệm được hình thành một cách tự phát nhờ quan sát và tổng kết các hiện tượng cảu giới tự nhiên có liên quan trực tiếp tới kỹ thụật trồng trọt và đánh bắt. Những tri thức như vậy không đủ để hệ thống hóa thành các khoa học tự nhiên. Một số tri thức về nghề thủ công với tư cách là nghề phụ trong các làng xã không đủ đạt tới trình độ của công nghiệp và sản xuất hàng hóa phổ biến. Nó thường được phát hiện ngẫu nhiên và trở thành bí quyết của các làng nghề truyền thống. Các tri thức xã hội của người Việt Nam truyền thống căn bản bị giới hạn ở các hiểu biết mang tính quy phạm giao tiếp trong tổ chức làng xã. Thêm vào đó là những hiểu biết về truyền thống dân tộc mà chủ yếu là qua truyền khẩu.
Chính những điều kiện đại lý, kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội trên đây quy định nét đặc thù của tư tưởng người việt về thế giới quan và nhân sinh quan.
Quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam là quá trình phát triển song trùng hợp nhất giữa hai xu hướng là xu hướng tự thân và xu hướng tiếp biến các tư tưởng triết học được du nhập từ bên ngoài.
Trong quá trình tiếp biến các hệ tư tưởng triết học được du nhập từ bên ngoài thì Phật giáo đã đóng góp một vai trò đặc biệt quan trọng.
Rất nhiều quan điểm triết học của Phật giáo đã trở thành nhân tố hữu cơ của tư duy triết học, quan điểm triết học của người Việt Nam. Nhiều nội dung đã được biến đổi cho phù hợp với tư duy triết học truyền thống của người Việt Nam.
Triết học Phật giáo ra đời như thế nào? Nó truyền bá vào Việt Nam như thế nào?
II. LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO

Phật giáo ra đời khoảng thế kỷ VI trước công nguyên ở miền Bắc Ấn Độ, phía nam dãy Hymalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nê Pan bây giờ. Đạo phật ra đời trong làn sóng phản đối sự ngự trị của đạo Bàlamôn và chế độ đẳng cấp, lý giải căn nguyên nổi khổ và tìm con đường giải thoát con người khỏi nổi khổ triền miên, đè nặng trong xã hội nô lệ Ấn Độ.
Người sáng lập ra đạo Phật là thích ca Mâu ni có tên thật là Siddhattha (Tất Đạt Đa) họ là Cù Đàm (Gautama), con đầu vua Tịnh Phạn (Suddhodana) dòng họ Sakya, có kinh đô là thành Ca-ti-la- vệ (Kapilavatthu). Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc sống vương giả đi tu luyện tìm đường diệt trừ nổi khổ của chúng sinh. Sau sáu năm liền tu luyện, Tất Đạt Đa đã ngộ đạo, Tìm ra chân lý “Tứ diệt đế” và “Thập nhị nhân duyên”. Siddhattha Gautama đã trở thành Thích ca Mâu ni. Khi đó ngài đúng 35 tuổi.
Tư tưởng phật giáo ban đầu truyền miệng, sau đó viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là “Tam tạng” (Tripitaka) gồm ba bộ phận:
1) Tạng kinh (sutra – pitaka) ghi lời phật dạy.
2) Tạng luật (Vinaya – pitaka) gồm các giới luật của đạo Phật.
3) Tạng luận (Abhdharma – pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau.
Đạo Phật cho rằng vũ trụ là vô thủy, vô chung, vạn vật trong thế giới chỉ là dòng biến hóa vô thường, vô định không do một vị thần nào sáng tạo ra cả. Vì thế giới luôn là dòng biến ảo vô thường nên không có cái gọi là bản ngã, không có thực thể; tất cả theo luật nhân quả cứ biến đổi không ngừng, không nghỉ, theo quá trình sinh, trụ, di, diệt hay thành, trụ, hoại, không và chỉ có sự biến hóa ấy là thường hữu. Tất cả các sự vật, hiện tượng tồn tại trong vũ trụ, theo triết học Phật giáo, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên. Cái nhân (hetu) nhờ có cái duyên (pratitya) mới sinh ra được mà thành quả (phla). Quả lại nhờ có duyên mà thành ra nhân khác, nhân khác lại nhờ có duyên mà thành ra quả mới... Cứ thế, nối tiếp nhau vô cùng, vô tận mà thế giới, vạn vật, muôn loài cứ sinh sinh, hóa hóa mãi.
Con người cũng do nhân duyên kết hợp và được tạo thành bởi hai thành phần: thể xác và tinh thần. Hai thành phần ấy là kết quả hợp tan của ngũ uẩn. Cái tôi sinh lý, tức thể xác gọi là sắc (rupa) gồm: địa, thủy, hỏa, phong, tức là cái có thể cảm giác được. Cái tôi tâm lý, tinh thầnh, tức là tâm gọi là Danh (nâma), với bốn yếu tố chỉ có tên gọi mà không có hình chất là: Thụ (vedana), cảm thụ về khổ hay lạc đưa đến lãnh hội với thân hay tâm.
Tưởng (samjna) tức là suy nghĩ, tư tưởng.
Hành (samskara) ý muốn thúc đẩy hành động, tạo tác.
Thức (vijnana) nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý, phân biệt ta là ta...
Nhưng sắc không phải chỉ gồm cái nhìn thấy mà cái không nhìn thấy; nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của sắc, gọi là “vô sắc biểu”.
Hai thành phần tạo nên ngũ uẩn, do nhân duyên hợp thành mỗi con người cụ thể có danh sắc (nâma-runa). Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta, duyên tan ngũ uẩn ra thì không còn là ta, là diệt, nhưng không phải là mất đi mà là trở lại với ngũ uẩn. Ngay các yếu tố của ngũ uẩn cũng luôn biến hóa theo quy luật nhân quả không ngừng, không nghỉ. Nên vạn vật, con người cứ biến hó
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓