TÍCH HỢP LIÊN MÔN TOÁN 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thanh Hương
Ngày gửi: 18h:38' 08-11-2023
Dung lượng: 4.0 MB
Số lượt tải: 231
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thanh Hương
Ngày gửi: 18h:38' 08-11-2023
Dung lượng: 4.0 MB
Số lượt tải: 231
Số lượt thích:
0 người
DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP
I/ Tên dự án dạy học:
TÍCH HỢP: TOÁN - VẬT LÍ – HOÁ HỌC – SINH HỌC - LỊCH SỬ - ĐỊA LÍ
– GDCD QUA CHỦ ĐỀ:
GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH
HỆ PHƯƠNG TRÌNH (TOÁN 9) .
II/ Mục tiêu:
Sau bài học, HS đạt được:
1.Kiến thức:
* Học sinh được củng cố lại các bước giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ
phương trình: Phân tích bài toán, chọn ẩn số, biểu diễn các đại lượng chưa biết, lập phương
trình, giải phương trình - hệ phương trình, đối chiếu điều kiện của ẩn, trả lời bài toán.
* Biết sử dụng tích hợp kiến thức phân môn và liên môn để giải quyết các bài toán và các
nội dung, yêu cầu đặt ra trong bài học, cụ thể là:
+ Lịch sử: Biết được ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày Quốc Khánh (ngày 2/9); Hiểu
được quyền hạn của Việt Nam trong vùng biển nước mình.
+ Địa lí: Học sinh biết được vai trò của biển đối với sự phát triển kinh tế, chính trị của đất
nước, biết được vị trí địa lí của quần đảo Hoàng Sa, Biết được một số căn cứ để khẳng định chủ
quyền biển đảo nước ta.
(Địa lí 8: Bài 23, bài 24)
(Địa lí 9: Bài 38-39-40)
+ Môn Sinh học: Học sinh hiểu được sự đa dạng của các loài sinh vật biển dựa trên các
điều kiện tự nhiên, môi trường sống thuận lợi. Sự ô nhiễm môi trường biển làm suy giảm tài
nguyên sinh vật.
Sinh học 7
+ Môn Giáo dục công dân: Học sinh có tình yêu, tự hào về quê hương đất nước, có ý thức
trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ biển đảo quê hương.
+ Vật lí: Học sinh được củng cố lại công thức tính quãng đường, công thức trong toán
chuyển động, công thức liên hệ giữa khối lượng riêng, khối lượng và thể tích của
vật. (Vật lí 8 – bài 2).
+ Hóa học: Học sinh biết sử dụng công thức tính nồng độ chất tan trong dung
dịch. (Hóa học 8 - bài 42).
+ Toán học: Học sinh biết sử dụng công thức tính diện tích, chu vi hình chữ nhật.
(Hình học 8 - chương II- bài 2).
Học sinh biết sử dụng kiến thức về tỉ số của hai số và tỉ số %.
(Số học 6).
+ Tin học: Học sinh biết cách truy cập các trang mạng để tìm hiểu các thông tin về các vấn
đề xã hội cần thiết.
(Tin học 9 – bài 3).
+ Thông tin xã hội: Học sinh biết được sự kiện cá chết hàng loạt ở vùng biển Miền Trung
năm 2015, sự kiện tảo nở hoa độc hại (hay còn gọi là thủy triều đỏ) ở Đà Nẵng. Sự kiện tranh
chấp tại Biển Đông.
+Trong thực tiễn cuộc sống: Học sinh tính được kích thước mảnh đất của sân trường, số
cây con rau mẹ và Mai mang đi trồng, giá tiền mỗi quả trứng mẹ Lan đã mua…
+ Học sinh biết cách và có ý thức bảo vệ môi trường hơn.
+Rèn kỹ năng hợp tác nhom: cùng nhau bảo vệ môi trường.
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng lập bảng phân tích đối với dạng toán chuyển động, kĩ năng chọn ẩn và
biểu diễn các đại lượng chưa biết theo ẩn và theo các đại lượng đã biết, kĩ năng lập phương trình hệ phương trình, kĩ năng biến đổi và giải phương trình - hệ phương trình.
- Trình bày tốt các dạng bài tập áp dụng.
- Linh hoạt, chủ động, thông minh và khéo léo trong việc vận dụng kiến thức liên môn để
giải quết các tình huống cụ thể trong cuộc sống thực tiễn.
2.2/ Kỹ năng sống.
- Kỹ năng tư duy, phê phán, đánh giá; kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng quản lí thời gian.
- Kỹ năng nói; kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng và kỹ năng hợp tác; kỹ năng lắng nghe
tích cực.
- Kỹ năng thu thập và xử lí thông tin, quan sát phim ảnh; kỹ năng truy cập mạng Internet.
3. Thái độ:
- Có thái độ tự giác thực hiện những nội dung đã học trong bài: có niềm tự hào về lịch sử
dân tộc; có ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên biển; bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển
nói riêng; xác định mục đích học tập, lí tưởng sống đúng đắn.
- Có ý thức tự giác tích cực, hợp tác trong học tập; tích cực tìm hiểu thông tin xã hội để
biết được một phần thực trạng về tình hình xã hội hiện nay. Từ đó tìm thấy niềm vui, say mê
trong học tập và nghiên cứu.
- Thấy được mục đích đúng đắn là học tập, từ đó đề ra những biện pháp thiết thực nhằm
thực hiện mục tiêu mà mình đề ra.
4. Định hướng phát triển năng lực:
- Học sinh có năng lực vận dụng các bước giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ
phương trình; năng lực vận dụng tốt kiến thức các bộ môn Vật lí, Hóa học, Hình học, Số học có
liên quan để giải quyết các vấn đặt ra trong bài giảng.
- Học sinh hình thành năng lực tự học và tính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ toán học,
năng lực tư duy lô gic, năng lực sáng tạo, hợp tác nhóm, năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
- Học sinh có năng lực giải quyết các bài toán trong thực tiễn cuộc sống như thông qua
việc giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ phương trình để tính được kích thước mảnh đất
của sân trường, số cây con rau mẹ và Mai mang đi trồng, giá tiền mỗi quả trứng mà mẹ Lan đã
mua…
III/ Đối tượng dạy học của dự án.
Đối tượng học sinh lớp 9a trường THCS Xuân Phú, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đặc điểm học sinh: Học sinh có lực học khá, giỏi. Khả năng nhận thức khá tốt.
IV/ Ý nghĩa của bài học.
1. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn dạy học:
Dự án dạy học tích hợp với chủ đề “giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ phương
trình” không chỉ củng cố kiến thức và rèn kỹ năng về giải loại toán bằng cách lập phương trình hệ phương trình mà còn giúp các em học sinh biết vận dụng kiến thức, kỹ năng của nhiều môn
học như: Toán học, Hóa học, Vật lí, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân để giải quyết các tình
huống, các câu hỏi đặt ra trong quá trình dạy - học. Qua đó thấy rõ kiến thức các môn học như
Toán học - Vật lí – Hoá học … có liên quan mật thiết với nhau và đây chính là sợi dây liên kết
giữa những môn học, thấy rằng những tri thức mà các em đang có luôn tương quan xuyên suốt,
có ý nghĩa hỗ trợ tác động qua lại lẫn nhau.
Hơn nữa, dự án dạy học tích hợp với chủ đề “giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ
phương trình” còn hình thành cho học sinh các kỹ năng quan sát, hoạt động nhóm, trình bày trước
lớp, giao tiếp, giúp học sinh phát triển năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn,
năng lực phát triển tư duy, năng lực tính toán… Qua đó rèn ý thức tự giác tích cực chủ động
trong học tập, giáo dục tri thức, giáo dục kỹ năng sống, hình thành phẩm chất nhân cách, hình
thành năng lực cho học sinh. Rèn cho học sinh kỹ năng vận dụng liên môn các kiến thức trong
quá trình học tập bộ môn Toán nói riêng và tất cả các bộ môn khoa học khác nói chung một cách
linh hoạt và sáng tạo
2. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn đời sống:
Dự án dạy học tích hợp với chủ đề “giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ phương
trình” giúp các em học sinh hiểu hơn về vai trò của biển đối với đời sống con người, đối với sự
phát triển kinh tế của đất nước đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biết được
thực trạng về ô nhiễm môi trường biển hiện nay, biết được vị trí địa lí của quần đảo Hoàng Sa,
một số căn cứ về chủ quyền biển đảo nước ta, đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa; biết được một số thông tin thời sự về sự tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông hiện nay.
Qua đó giáo dục học sinh biết yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu chuộng hoà bình, có
ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển,
có ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương.
Đồng thời qua dự án các em thấy rằng các vấn đề trong cuộc sống luôn gắn liền với các kiến
thức trong học tập. Để từ đó học sinh có niềm tin yêu và hứng thú trong học tập, có những nhu
cầu tìm tòi, sự hiểu biết để phát hiện ra những cái hay, những đặc trưng riêng của Toán học đã
được ứng dụng trong thực tiễn. Các em thấy đựơc việc học nói chung và việc học bộ môn Toán
nói riêng có thể nói là vô cùng quan trọng và cần thiết. Các em thấy được mình cần phải tiếp tục
xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn, một động lực mạnh mẽ để rèn luyện bản
thân, cố gắng học tập và rèn luyện để có những kiến thức, những hiểu biết, trang bị cho mình một
nền tảng tri thức vững vàng, một ý thức kiên định trong học tập và trong cuộc sống, chuẩn bị
hành trang cho cuộc sống tương lai, góp phần xây dựng quê hương đất nước, trở thành người
công dân tốt, có ích cho xã hội.
V/ Thiết bị dạy học, học liệu
Giáo Viên:
* Các thiết bị, đồ dùng dạy học, học liệu sử dụng trong dạy học:
- Máy vi tính, máy chiếu Projecter.
- Một số sách tham khảo: Lịch sử; Vật lí; Địa lí; Tin học; Hóa học…
* Ứng dụng CNTT trong việc dạy và học của dự án:
- Sử dụng phần mềm PowerPoint trong trình chiếu.
- Phầm mềm hỗ trợ download.
- Phần mềm đổi đuôi, cắt ghép, xử lí phim ảnh.
Học sinh:
Sưu tập một bộ hình ảnh liên quan đến nội dung bài học như: Hình ảnh về hoạt động khai
thác thuỷ sản, khai thác dầu khí tại Biển Đông, hình ảnh cá chết hàng loạt tại vùng biển miền
Trung nước ta năm 2015, hình ảnh ô nhiễm môi trường biển, hình ảnh về hoạt động vệ sinh bảo
vệ môi trường biển, một số hình ảnh về Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo tại quần đảo
Hoàng Sa nước ta….
VI. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
TÍCH HỢP: TOÁN - VẬT LÍ – HOÁ HỌC – SINH HỌC - LỊCH SỬ - ĐỊA LÍ –
GDCD QUA CHỦ ĐỀ:
GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH - HỆ PHƯƠNG TRÌNH (TOÁN
9) .
Hoạt động 1: Tích hợp môn Lịch sử.
Bài toán 1: Trong dịp kỉ niệm 70 năm ngày thành lập nước CHXHCN Việt Nam có 180 học sinh
được điều về thăm quan diễu hành tại quảng trường Ba Đình Hà Nội. Người ta tính rằng, nếu
dùng loại xe lớn để chở một lượt hết số học sinh thì phải điều động ít hơn 2 xe so với dùng xe
nhỏ. Biết rằng mỗi ghế ngồi 1 học sinh và mỗi xe lớn có nhiều hơn mỗi xe nhỏ là 15 ghế. Tính số
xe lớn nếu loại xe này được huy động.
1/ Mục tiêu:
Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với loại toán tìm
số.
Hiểu được ý nghĩa lịch sử quan trọng ngày Quốc Khánh 2/9.
2/ Cách tổ chức thực hiện
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Hãy chọn ẩn và đặt điều kiện cho ẩn.
HS hoạt động nhóm theo yêu cầu của GV.
Giải:
GV phát phiếu học tập đã chuẩn bị sẵn
cho học sinh.
Giáo viên phát phiếu học tập, yêu cầu
học sinh hoạt động nhóm điền vào chỗ
trống trên phiếu học tập.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những
nhóm gặp khó khăn.
Sau 5 phút giáo viên thu phiếu học tập
và nhận xét rút kinh nghiệm bài làm của
học sinh trên phiếu học tập bằng máy
chiếu một số bài làm tiêu biểu.
Gọi số xe lớn cần huy động là x (xe), x.
Số xe nhỏ nếu huy động sẽ cần x+2 (xe).
Số ghế của mỗi xe lớn là: .
Số ghế của mỗi xe nhỏ là:
Vì mỗi xe lớn có nhiều hơn mỗi xe nhỏ là 15
ghế nên ta có phương trình:
x2 + 2x – 24 = 0
Giải phương trình trên ta được
(thỏa mãn đk), (loại vì không thỏa mãn điều
kiện).
Vậy nếu huy động loại xe lớn thì cần 4 xe.
GV chốt lại các bước trình bày lời giải
bài toán bằng cách lập phương trình- hệ
phương trình.
? Theo em ngày thành lập nước
CHXHCN Việt Nam là ngày, tháng,
năm nào?
Ngày đó tại quảng trường Ba Đình diễn
ra sự kiện lịch sử gì?
Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ lâm thời - tức là ủy ban Dân tộc
giải phóng Trung ương - Người đọc
bản Tuyên ngôn Độc Lập. Tuyên bố
với quốc dân đồng bào cả nước và
toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt Ngày thành lập nước CHXHCN Việt Nam là
đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ ngày: 2 - 9 – 1945
Cộng hoà đã ra đời. Bản Tuyên ngôn
Độc lập cũng đã mở ra một kỷ nguyên
mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam
có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình
đã trở thành công dân của một nước
tự do và độc lập. Và cũng bắt đầu từ
Tuyên ngôn 2/9, người dân Việt Nam
bắt đầu một cuộc sống mới.
Hoạt động 2: Tích hợp môn Hoá học.
Bài toán 2: Người ta đổ thêm 200g nước vào dung dịch chứa 40g muối thì nồng độ của dung dịch
giảm đi 10%. Hỏi trước khi đổ thêm nước thì dung dịch đó chứa bao nhiêu gam nước?
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với loại toán có sử
dụng kiến thức thuộc bộ môn Hóa học, cụ thể là công thức tính nồng độ phần trăm của chất trong
dung dịch, công thức tính khối lượng chất trong dung dịch để giải bài toán.
- Qua đó học sinh thấy được mối liên hệ giữa bộ môn Hoá học và Toán học trong quá trình
học tập cũng như trong thực tiễn cuộc sống, biết cách giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc
sống liên quan đến kiến thức môn học.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực môn
nào?
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực bộ môn
Viết công thức tính nồng độ của dung dịch. Hóa học.
C% =
Trong đó:
GV yêu cầu học sinh làm việc cá nhân trên C% : là nồng độ phần trăm của chất tan.
phiếu học tập: Điền vào chỗ trống để hoàn : là khối lượng chất tan.
: là khối lượng dung dịch.
chỉnh lời giải bài toán.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những em gặp HS làm việc cá nhân theo yêu cầu của GV.
khó khăn.
Sau 6 phút GV cho học sinh kiểm tra bài, Giải:
chia sẻ về bài làm giữa các bạn trong nhóm Gọi khối lượng nước trong dung dịch ban đầu
là x(g), x>0.
với nhau.
GV chia sẻ, trình chiếu đáp án, quy định Nồng độ của muối trong dung dịch ban đầu
thang điểm lên màn hình cho học sinh kiểm là: %.
tra bài chấm điểm lẫn nhau theo từng Sau khi đổ thêm 200g nước vào thì khối lượng
của dung dịch mới là: x+240(g).
nhóm.
GV tuyên dương học sinh làm tốt, những Nồng độ của muối dung dịch mới là:
nhóm hoạt động tích cực và rút kinh %
nghiệm những hạn chế trong bài của học Vì nồng độ muối trong dung dịch giảm đi 10%
nên ta có phương trình:
sinh.
x2 + 280x – 70400 = 0.
GV: Liên hệ.
Từ bài toán trên cho thấy, dựa vào công Giải phương trình trên ta được nghiệm (thỏa
thức tính nồng độ phần trăm chất tan mãn đk), (loại vì không thỏa mãn đk).
trong môn Hóa học để lập phương trình Vậy lượng nước ban đầu trong dung dịch là
và tính được khối lượng nước cần đổ 160g.
thêm theo yêu cầu của bài toán bài.
GV liên hệ tình trạng xâm nhập mặn tại
vùng đồng bằng Sông Cửu Long năm 2015
do nồng độ muối tăng cao vượt quá mức độ
cho phép. (xem hình ảnh minh họa trên
Cống Xuân Hòa đang khẩn trương
màn hình máy chiếu).
bơm nước ngọt vào cứu lúa
Trước tình trạng xâm nhập mặn ở vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long như trên, em
thử đề ra biện pháp khắc phục?
( còn không xa nữa đến ngày thu
hoạch nhưng lúa đã chết do bị
nhập mặn .)
GV đưa ra các biện pháp mà địa phương
thực hiện để hạn chế xâm nhập mặn.
Để đối phó với tình trạng hạn, xâm nhập
mặt, một số địa phương đã chủ động, tích
cực thực hiện nhiều biện pháp ngăn mặn,
giữ ngọt, tổ chức bơm chuyền cứu lúa, mở
vòi nước công cộng phục vụ nước sinh hoạt
cho nhân dân, giảm thiểu được thiệt hại...
GV chỉ rõ mục đích của việc ngăn không
cho nước biển xâm nhập và bơm nước ngọt
để rửa mặn tức là làm giảm đi nồng độ
muối trong nước đến nồng độ cho phép để
cây trồng, vật nuôi có thể sinh trưởng và
triển. Trong thực tiễn các em còn có thể
vận dụng phương pháp trên để xử lí một số
tình huống trong bữa ăn hàng ngày như
chế biến món ăn.
Qua đây ta có thể thấy được rằng môn
Hóa học và môn Toán có mối liên hệ chặt
chẽ, có tác động hỗ trợ qua lại lẫn nhau,
nhờ kiến thức bộ môn này để hỗ trợ giải
quyết vấn đề của môn kia cũng như giải
quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc
sống.
Hoạt động 3: Tích hợp môn Vật lí.
Bài toán 3: Miếng kim loại thứ nhất nặng 880g, miếng kim loại thứ hai nặng 858g. Thể tích của
miếng thứ nhất nhỏ hơn thể tích của miếng thứ hai là 10cm 3, nhưng khối lượng riêng của miếng
thứ nhất lớn hơn khối lượng riêng của miếng thứ hai là 1g/cm 3. Tính khối lượng riêng của mỗi
miếng kim loại nói trên.
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với loại toán có
sử dụng kiến thức thuộc bộ môn Vật lí, cụ thể là sử dụng công thức liên hệ giữa khối
lượng, khối lượng riêng và thể tích của một vật.
Qua đó học sinh thấy được mối liên hệ giữa bộ môn Vật lí và Toán học trong quá trình học
tập.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực môn
nào?
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực bộ môn
Hãy viết công thức liên hệ giữa khối lượng, Vật lí.
khối lượng riêng và thể tích của vật?
m =D.V
trong đó:
Nếu gọi khối lượng riêng của miếng kim m là khối lượng của vật.
loại thứ nhất là x(g), ĐK:x>0.
D là khối lượng riêng của vật.
Viết biểu thức biểu thị khối lượng riêng của V là thể tích của vật.
miếng kim loại thứ hai ?
Giải:
Viết biểu thức biểu thị thể tích của miếng Nếu gọi khối lượng riêng của miếng kim loại
kim loại thứ nhất ?
thứ nhất là x(g/cm3 ), x>0.
Viết biểu thức biểu thị thể tích của miếng Khối lượng riêng của miếng kim loại thứ hai là:
kim loại thứ hai ?
x-1(g/cm3 ).
Lập phương trình bài toán?
Thể tích của miếng kim loại thứ nhất là: cm3.
GV yêu cầu học sinh đứng tại chỗ trình bày Thể tích của miếng kim loại thứ hai là: cm3.
lời giải.
Ta có phương trình:
GV yêu cầu học sinh chia sẻ về bài làm của Giải phương trình ta được (loại, vì không thỏa
bạn.
mãn điều kiện)
GV chia sẻ và rút kinh nghiệm cho học Vậy khối lượng riêng của miếng kim loại thứ
sinh.
nhất là: 8,8(g/cm3 ).
Khối lượng riêng của miếng kim loại thứ hai là:
7,8(g/cm3 ).
GV: Liên hệ.
Từ bài toán trên cho thấy từ công thức
tính khối lượng của một vật để suy ra thể
tích của vật đó Từ đó lập được phương
trình, giải quyết được bài toán. Qua đây ta
có thể thấy được rằng môn Vật lí và môn
Toán cũng có mối liên hệ chặt chẽ, có tác
động hỗ trợ qua lại lẫn nhau.
Hoạt động 4: * Tích hợp môn Địa lý .
Bài toán 4: Theo kế hoạch, một đội khai thác dầu khí phải khai thác 160 000 tấn dầu thô trong
một thời gian nhất định. Nhưng do sự nỗ lực về mọi mặt nên mỗi ngày đội đã khai thác nhiều hơn
so với kế hoạch là 800 tấn nên không những đội đã hoàn thành sớm hơn dự định 5 ngày mà còn
vượt mức 8000 tấn. Hỏi theo kế hoạch, đội phải khai thác trong bao nhiêu ngày?
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán năng
suất.
- Học sinh thấy được sự phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đó là nguồn tài
nguyên phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản).
Qua đây giáo dục học sinh biết yêu thiên nhiên, yêu biển, có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên nói chung và nguồn tài nguyên biển nói riêng.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Bài toán thuộc loại toán nào ?
Cách giải bài toán năng suất tương tự như cách
giải loại toán nào ?
Hãy điền nội dung để hoàn thiện bảng phân tích HS hoàn thiện bảng phân tích theo yêu
sau :
cầu của GV.
NS(tấn/ngày) Số ngày
Tổng số
dâù (tấn)
Kế
x
hoạch
Thực
hiện
Giải:
Hãy trao đổi theo nhóm trình bày lời giải vào bảng
Gọi thời gian mà đội đó dự định khai
phụ.
thác là x(ngày), ĐK:x > 5.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những nhóm gặp khó
Thời gian thực tế mà đội đã khai thác
khăn.
là: (x – 5) (ngày).
Sau 6 phút GV cho các nhóm kiểm tra bài lẫn
Năng suất mỗi ngày đội dự định khai
nhau.
thác là : (tấn).
GV yêu cầu học sinh chia sẻ bài làm giữa các
Năng suất mỗi ngày thực tế mà đội
nhóm, cho điểm nhóm có bài giải đúng và nhanh
khai thác là :(tấn).
nhất.
Ta có phương trình :
GV giới thiệu sản lượng khai thác dầu của nước ta
năm 2013
x2 – 15x – 1000 =0
Giàn khai thác dầu khí trên mỏ Sông Đốc Giải phương trình ta được
của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
(thỏa mãn đk), (loại, vì không thoả mãn
điều kiện của ẩn).
Vậy theo kế hoạch, đội phải khai thác
trong 40 ngày.
HS nghe giảng.
GV giới thiệu:
- Biển nước ta có nguồn tài nguyên vô cùng
phong phú, khoáng sản nổi bật là dầu khí (với
trữ lượng khoảng 3- 4 tỷ tấn), và nhiều loại
khoáng sản như: than, sắt, ti tan, cát thủy tinh...,
hải sản có tổng trữ lượng khoảng 3-4 triệu tấn.
- Để rõ hơn sự phong phú về nguồn tài nguyên
thủy sản của Biển đông, cô cùng các em xét bài
toán 5.
Hoạt động 5: * Tích hợp môn Địa lý, sinh học .
Bài toán 5: Sản lượng khai thác thuỷ sản của hai tỉnh A và B năm 2014 đạt 320 000 tấn. Sản
lượng khai thác của tỉnh A năm 2015 tăng 5%, còn tỉnh B tăng 1% nên tổng sản lượng khai thác
của hai tỉnh năm 2015 đạt 328 800 tấn. Tính sản lượng khai thác của mỗi tỉnh năm 2014.
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được củng cố kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán
có chứa tỉ số %.
- Học sinh lại một lần nữa thấy được sự phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đối
với sự phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản).
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Đưa ra bài toán 1 trên màn hình máy chiếu.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Để giải bài toán trên theo em ta có nên chọn
ẩn như thế nào?
Giải:
Đơn vị và điều kiện của ẩn là gì?
- Gọi sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh A năm
Gv lưu ý: Việc chọn ẩn khác nhau dẫn đến 2014 là x(tấn), 0< x < 320000.
điều kiện của ẩn và phương trình cũng khác - Gọi sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh B năm
nhau.
2014 là y(tấn), 0< y < 320000.
GV gọi 1HS lên bảng trình bày lời giải.
- Sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh A năm
Dưới lớp trình bày ra nháp.
2015 là x+5%.x =1,05.x (tấn).
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những em gặp - Sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh B năm
khó khăn.
2015 là y+ 1%.y = 1,01.y (tấn).
GV yêu cầu học sinh chia sẻ bài làm bài Theo bài ra ta có hệ phương trình:
làm của bạn trên bảng, cho điểm học sinh Giải hệ phương trình ta được .
và động viên, khuyến khích học sinh làm Ta thấy x =140000, y = 180000 (thỏa mãn điều
bài tốt.
kiện của ẩn).
GV cho học sinh quan sát một số hình ảnh Vậy sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh A , tỉnh
về khai thác thuỷ sản thuộc một số tỉnh miền B năm 2014 lần lượt là: 140000 (tấn), 180000
Trung nước ta trên màn hình máy chiếu.
(tấn).
HS nghe giảng.
- Với sản lượng khai thác thuỷ sản nói trên,
(ở mức độ tương đối). Song các em phần nào
có thể hình dung được được sự phong phú về
nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đối với sự
phát triển kinh tế của đât nước, đặc biệt là
nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản) thuộc
vùng biển chủ quyền của nước ta.
Như vậy có thể nói biển, đảo đối với Việt
Nam là một kho tàng tài nguyên vô giá, về
nguồn lợi thủy sản, khoáng sản, du lịch và
cũng là điều kiện phát triển ngành GTVT
biển. Đây là điều kiện để nước ta phát triển
kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và
hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới.
Song, thực trạng về ô nhiễm môi trường
biển đang là vấn đề báo động.
Qua môn Sinh học các em được biết thì yếu
tố nào gây ô nhiễm môi trường biển?
GV: Các hoạt động phát triển trên đất liền có
thể là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
biển như: sự đô thị hóa, phát triển các khu
công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng và
khai thác thủy sản nước lợ, các khu dân cư,
khai khoáng,… Chính chất thải từ các hoạt
động trên, không qua xử lý đổ ra sông suối
và cuối cùng đều đổ ra biển. Đây là nguyên
nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển
hiện nay
.GV trình chiếu một số nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường biển nước ta hiện nay lên
máy chiếu cho học sinh quan sát.
Khi môi trường biển bị ô nhiễm thì hậu quả Hình ảnh người dân chôn cá chết
gì sẽ xảy ra?
GV trình chiếu một số hậu quả của ô nhiễm
môi trường biển lên máy chiếu cho học sinh
quan sát.
Một trong những hậu quả nặng nề của việc
ô nhiễm môi trường biển ở nước ta là hiện
tượng cá chết hàng loạt ở vùng biển miền
Trung (khoảng 70 tấn) vào tháng 4/2015
gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước.
GV đưa ra một số thông tin về hiện tượng
cá chết hàng loạt ở vùng biển miền Trung Hình ảnh cá chết hàng loạt ở Miền Trung
và hiện tượng thủy triều đỏ ở Việt Nam.
Theo em, mỗi chúng ta cần làm gì để góp
phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường biển?
Một trong những hoạt động nhằm góp phần
khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đó
là thu gom rác thải trên các bãi biển, Sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, hạn chế
thải các chất thải độc hại ra môi trường.
GV trình chiếu một số biện pháp bảo vệ môi
trường biển lên máy chiếu cho học sinh quan HS trả lời.
Môi trường biển bị ô nhiễm đã dẫn tới suy thoái
sát.
đa dạng sinh học biển, điển hình là hệ sinh thái
san hô. Vùng biển Việt Nam có khoảng 1.122
km2 rạn san hô, nếu hệ sinh thái này bị mất, biển
nước ta có nguy cơ sẽ trở thành "thủy mạc" không
còn tôm cá nữa. Đó là thông điệp mà các nhà môi
trường và bảo tồn thiên nhiên nước ta đã cảnh báo.
Hoạt động 6: Tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển.
Bài toán 6: Hai tổ thanh niên tình nguyện tham gia lao động vệ sinh nhặt giấy rác khu vực một
bãi biển.
Dự định hoàn thành công việc, hai tổ phải cùng làm trong 6 giờ. Nhưng sau khi làm chung được 2
giờ thì tổ II được điều đi làm việc khác, tổ I đã hoàn thành công việc còn lại trong 10 giờ. Hỏi nếu
làm riêng thì mỗi tổ phải hoàn thành công việc đó trong bao lâu?
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán làm
việc chung – riêng.
Đông đảo đoàn viên thanh niên và người dân thu gom rác thải tại
bãi biển.
- Qua bài toán giáo dục học sinh có ý thức tham gia các phong trào vệ sinh, bảo vệ môi
trường biển, và môi trường xung quanh ta.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
GV yêu cầu học sinh đọc và nghiên cứu đề Học sinh đọc và nghiên cứu đề bài
bài
Học sinh đứng tại chỗ trả lời
Bài toán thuộc loại toán nào?
Để giải loại toán này các em nên kẻ bảng Toán làm việc chung riêng.
phân tích để dễ kiểm soát.
GV yêu cầu học sinh làm việc cá nhân trình HS làm việc cá nhân theo yêu cầu của GV.
bày ra giấy.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những em gặp
khó khăn.
Sau 5 phút cho các em kiểm tra bài lẫn nhau
theo nhóm.
GV trình chiếu một số bài tiêu biểu để HS
cả lớp chia sẻ.
GV chia sẻ và sửa chữa thiếu xót nếu có.
GV liên hệ:
Như các em đã biết lợi ích từ biển đảo đem
lại cho nền kinh tế nước ta là như vậy.
Nhưng do đặc điểm lãnh thổ đất liền nước
ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc
vào Nam, chiều ngang hẹp (nơi rộng nhất
khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50
km), nên chiều sâu đất nước bị hạn
chế. Bởi thế, trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam còn có
vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu
phòng thủ đất nước ra hướng biển.
Song từ lâu, tình hình biển đảo đã trở
thành vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là vấn
đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của nước ta luôn bị Trung
Quốc xâm phạm. Cụ thể đó là sự kiện
Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn
khoan Hải Dương 981 vào vùng thềm lục
địa, vùng đặc quyền kinh tế của nước ta
điều đó vi phạm nghiêm trọng luật pháp
quốc tế, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh,
an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông.
Để tìm hiểu về vấn đề chủ quyền của quần
đảo Hoàng Sa cô cùng các em tìm hiểu bài
toán 7
Giàn khoan Hải Dương 981 đang hoạt động
khai thác nhiên liệu trên biển Đông
Hoạt động 7: Tích hợp môn Vật lí + Địa lí + Bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Bài toán 7: (Đảo Lăng Thuỷ Giác thuộc Đảo Hải Nam của Trung Quốc, Đảo Lí Sơn thuộc tỉnh
Quảng Ngãi - Việt Nam, Đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa).
Hai chiếc tàu thuỷ khởi hành cùng một lúc. Tàu thứ nhất dự định đi từ đảo Lăng Thuỷ
Giác đến quần đảo Hoàng Sa, tàu thứ hai dự định đi từ đảo Lí Sơn đến đảo Tri Tôn.
Nếu tàu thứ nhất đi với vận tốc 45km/h, tàu thứ hai đi với vận tốc 52km/h thì chúng đến
đích cùng một lúc.
Nếu tàu thứ nhất tăng vận tốc thêm 5km/h và tàu thứ hai tăng vận tốc thêm 8km/h thì tàu
thứ hai đến đích sớm hơn tàu thứ nhất 10 phút.
Tính khoảng cách từ đảo Lăng Thuỷ Giác đến quần đảo Hoàng Sa, Và khoảng cách từ đảo
Lí Sơn đến đảo Tri Tôn.
1/ Mục tiêu:
Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán
chuyển động.
Biết được khoảng cách tương đối của quần đảo Hoàng Sa tới Đảo Lí Sơn (Quảng Ngãi);
biết được khoảng cách của quần đảo Hoàng Sa (Việt Nam) so với Đảo Hải Nam (Trung
Quốc).
Thông qua bài toán 7 học sinh có ý thức tìm hiểu những căn cứ để khẳng định chủ quyền
quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Từ đó thấy được vai trò của việc học tập đối với việc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ nước ta.
Giáo dục học sinh trường THCS Xuân Phú hiểu được ý nghĩa của mô hình biển đảo và có
trách nhiệm bảo vệ mô hình biển đảo của nhà trường cũng như và có ý thức trách nhiệm
trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương, hướng về quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa
thân yêu.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
GV đưa đề bài trên màn hình máy chiếu.
GV: Yêu cầu học sinh đọc đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán thuộc loại toán nào?
GV yêu cầu học sinh hoạt động theo
nhóm trình bày nhanh bảng phân tích bài Bài toán thuộc loại toán chuyển động.
toán, lập hệ phương trình.
HS thực hiện theo yêu cầu của GV.
V(km/h)
t(h)
S(km)
Giải nhanh hệ phương trình lập được.
45
x/45
x
Vậy khoảng cách từ đảo Lăng Thuỷ TH 1 Tàu 1
Giác đến quần đảo Hoàng Sa?
Tàu 2
52
y/52
y
Và khoảng cách từ đảo Lí Sơn đến đảo
Tri Tôn ?
TH Tàu 1
50
x/50
x
GV đưa bản đồ về quần đảo Hoàng Sa 2
Tàu 2
60
y/60
y
lên màn hình máy chiếu và giới thiệu về
vị trí của quần đảo Hoàng Sa cho học Hpt:
sinh.
Giải hệ phương trình ta được: x = 225; y = 260
GV liên hệ:
(thoả mãn ĐK).
Vậy khoảng cách từ đảo Lí Sơn đến đảo Tri Tôn là:
Về khoảng cách đến đất liền, quần đảo 225km.
Hoàng Sa nằm gần Việt Nam hơn. Cụ Khoảng cách từ đảo Lăng Thuỷ Giác đến quần đảo
thể, Tri Tôn là một hòn đảo nhỏ thuộc Hoàng Sa là: 260
quần đảo Hoàng Sa, nằm cách Lý Sơn
khoảng 228km.( 123 hải lí). (trong bài
toán cô đã lấy số lệu tuơng đối là
225km để việc tính toán khỏi phức tạp)
Trong khi đó, khoảng cách từ đảo
Hoàng Sa đến Lăng Thuỷ giác thuộc
đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng
260km( 140 hải lí).
Có thể nói đây cũng là một trong
những căn cứ để khẳng định chủ
quyền Quần đảo Hoàng Sa là của Việt
Nam.
Ngoài ra, khi học các bộ môn Địa lí,
Ngữ Văn, Lịch sử chúng ta còn biết
được rất nhiều các căn cứ khác có cơ
sở pháp lí để khẳng định rằng Quần
đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. (Các
em có thể tìm đọc thêm cuốn
sách “Những cơ sở pháp lí khẳng định
chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của
Việt Nam” để hiểu thêm về chủ quyền
Biển Đảo của nước ta).
Đảo Lí Sơn gần quần đảo...
I/ Tên dự án dạy học:
TÍCH HỢP: TOÁN - VẬT LÍ – HOÁ HỌC – SINH HỌC - LỊCH SỬ - ĐỊA LÍ
– GDCD QUA CHỦ ĐỀ:
GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH
HỆ PHƯƠNG TRÌNH (TOÁN 9) .
II/ Mục tiêu:
Sau bài học, HS đạt được:
1.Kiến thức:
* Học sinh được củng cố lại các bước giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ
phương trình: Phân tích bài toán, chọn ẩn số, biểu diễn các đại lượng chưa biết, lập phương
trình, giải phương trình - hệ phương trình, đối chiếu điều kiện của ẩn, trả lời bài toán.
* Biết sử dụng tích hợp kiến thức phân môn và liên môn để giải quyết các bài toán và các
nội dung, yêu cầu đặt ra trong bài học, cụ thể là:
+ Lịch sử: Biết được ý nghĩa lịch sử trọng đại của ngày Quốc Khánh (ngày 2/9); Hiểu
được quyền hạn của Việt Nam trong vùng biển nước mình.
+ Địa lí: Học sinh biết được vai trò của biển đối với sự phát triển kinh tế, chính trị của đất
nước, biết được vị trí địa lí của quần đảo Hoàng Sa, Biết được một số căn cứ để khẳng định chủ
quyền biển đảo nước ta.
(Địa lí 8: Bài 23, bài 24)
(Địa lí 9: Bài 38-39-40)
+ Môn Sinh học: Học sinh hiểu được sự đa dạng của các loài sinh vật biển dựa trên các
điều kiện tự nhiên, môi trường sống thuận lợi. Sự ô nhiễm môi trường biển làm suy giảm tài
nguyên sinh vật.
Sinh học 7
+ Môn Giáo dục công dân: Học sinh có tình yêu, tự hào về quê hương đất nước, có ý thức
trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ biển đảo quê hương.
+ Vật lí: Học sinh được củng cố lại công thức tính quãng đường, công thức trong toán
chuyển động, công thức liên hệ giữa khối lượng riêng, khối lượng và thể tích của
vật. (Vật lí 8 – bài 2).
+ Hóa học: Học sinh biết sử dụng công thức tính nồng độ chất tan trong dung
dịch. (Hóa học 8 - bài 42).
+ Toán học: Học sinh biết sử dụng công thức tính diện tích, chu vi hình chữ nhật.
(Hình học 8 - chương II- bài 2).
Học sinh biết sử dụng kiến thức về tỉ số của hai số và tỉ số %.
(Số học 6).
+ Tin học: Học sinh biết cách truy cập các trang mạng để tìm hiểu các thông tin về các vấn
đề xã hội cần thiết.
(Tin học 9 – bài 3).
+ Thông tin xã hội: Học sinh biết được sự kiện cá chết hàng loạt ở vùng biển Miền Trung
năm 2015, sự kiện tảo nở hoa độc hại (hay còn gọi là thủy triều đỏ) ở Đà Nẵng. Sự kiện tranh
chấp tại Biển Đông.
+Trong thực tiễn cuộc sống: Học sinh tính được kích thước mảnh đất của sân trường, số
cây con rau mẹ và Mai mang đi trồng, giá tiền mỗi quả trứng mẹ Lan đã mua…
+ Học sinh biết cách và có ý thức bảo vệ môi trường hơn.
+Rèn kỹ năng hợp tác nhom: cùng nhau bảo vệ môi trường.
2. Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng lập bảng phân tích đối với dạng toán chuyển động, kĩ năng chọn ẩn và
biểu diễn các đại lượng chưa biết theo ẩn và theo các đại lượng đã biết, kĩ năng lập phương trình hệ phương trình, kĩ năng biến đổi và giải phương trình - hệ phương trình.
- Trình bày tốt các dạng bài tập áp dụng.
- Linh hoạt, chủ động, thông minh và khéo léo trong việc vận dụng kiến thức liên môn để
giải quết các tình huống cụ thể trong cuộc sống thực tiễn.
2.2/ Kỹ năng sống.
- Kỹ năng tư duy, phê phán, đánh giá; kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề.
- Kỹ năng quản lí thời gian.
- Kỹ năng nói; kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng và kỹ năng hợp tác; kỹ năng lắng nghe
tích cực.
- Kỹ năng thu thập và xử lí thông tin, quan sát phim ảnh; kỹ năng truy cập mạng Internet.
3. Thái độ:
- Có thái độ tự giác thực hiện những nội dung đã học trong bài: có niềm tự hào về lịch sử
dân tộc; có ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên biển; bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển
nói riêng; xác định mục đích học tập, lí tưởng sống đúng đắn.
- Có ý thức tự giác tích cực, hợp tác trong học tập; tích cực tìm hiểu thông tin xã hội để
biết được một phần thực trạng về tình hình xã hội hiện nay. Từ đó tìm thấy niềm vui, say mê
trong học tập và nghiên cứu.
- Thấy được mục đích đúng đắn là học tập, từ đó đề ra những biện pháp thiết thực nhằm
thực hiện mục tiêu mà mình đề ra.
4. Định hướng phát triển năng lực:
- Học sinh có năng lực vận dụng các bước giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ
phương trình; năng lực vận dụng tốt kiến thức các bộ môn Vật lí, Hóa học, Hình học, Số học có
liên quan để giải quyết các vấn đặt ra trong bài giảng.
- Học sinh hình thành năng lực tự học và tính toán, năng lực sử dụng ngôn ngữ toán học,
năng lực tư duy lô gic, năng lực sáng tạo, hợp tác nhóm, năng lực sử dụng công nghệ thông tin.
- Học sinh có năng lực giải quyết các bài toán trong thực tiễn cuộc sống như thông qua
việc giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ phương trình để tính được kích thước mảnh đất
của sân trường, số cây con rau mẹ và Mai mang đi trồng, giá tiền mỗi quả trứng mà mẹ Lan đã
mua…
III/ Đối tượng dạy học của dự án.
Đối tượng học sinh lớp 9a trường THCS Xuân Phú, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
Đặc điểm học sinh: Học sinh có lực học khá, giỏi. Khả năng nhận thức khá tốt.
IV/ Ý nghĩa của bài học.
1. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn dạy học:
Dự án dạy học tích hợp với chủ đề “giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ phương
trình” không chỉ củng cố kiến thức và rèn kỹ năng về giải loại toán bằng cách lập phương trình hệ phương trình mà còn giúp các em học sinh biết vận dụng kiến thức, kỹ năng của nhiều môn
học như: Toán học, Hóa học, Vật lí, Địa lý, Lịch sử, Giáo dục công dân để giải quyết các tình
huống, các câu hỏi đặt ra trong quá trình dạy - học. Qua đó thấy rõ kiến thức các môn học như
Toán học - Vật lí – Hoá học … có liên quan mật thiết với nhau và đây chính là sợi dây liên kết
giữa những môn học, thấy rằng những tri thức mà các em đang có luôn tương quan xuyên suốt,
có ý nghĩa hỗ trợ tác động qua lại lẫn nhau.
Hơn nữa, dự án dạy học tích hợp với chủ đề “giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ
phương trình” còn hình thành cho học sinh các kỹ năng quan sát, hoạt động nhóm, trình bày trước
lớp, giao tiếp, giúp học sinh phát triển năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn,
năng lực phát triển tư duy, năng lực tính toán… Qua đó rèn ý thức tự giác tích cực chủ động
trong học tập, giáo dục tri thức, giáo dục kỹ năng sống, hình thành phẩm chất nhân cách, hình
thành năng lực cho học sinh. Rèn cho học sinh kỹ năng vận dụng liên môn các kiến thức trong
quá trình học tập bộ môn Toán nói riêng và tất cả các bộ môn khoa học khác nói chung một cách
linh hoạt và sáng tạo
2. Ý nghĩa của dự án đối với thực tiễn đời sống:
Dự án dạy học tích hợp với chủ đề “giải bài toán bằng cách lập phương trình - hệ phương
trình” giúp các em học sinh hiểu hơn về vai trò của biển đối với đời sống con người, đối với sự
phát triển kinh tế của đất nước đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biết được
thực trạng về ô nhiễm môi trường biển hiện nay, biết được vị trí địa lí của quần đảo Hoàng Sa,
một số căn cứ về chủ quyền biển đảo nước ta, đặc biệt là đối với hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa; biết được một số thông tin thời sự về sự tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông hiện nay.
Qua đó giáo dục học sinh biết yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu chuộng hoà bình, có
ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển,
có ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương.
Đồng thời qua dự án các em thấy rằng các vấn đề trong cuộc sống luôn gắn liền với các kiến
thức trong học tập. Để từ đó học sinh có niềm tin yêu và hứng thú trong học tập, có những nhu
cầu tìm tòi, sự hiểu biết để phát hiện ra những cái hay, những đặc trưng riêng của Toán học đã
được ứng dụng trong thực tiễn. Các em thấy đựơc việc học nói chung và việc học bộ môn Toán
nói riêng có thể nói là vô cùng quan trọng và cần thiết. Các em thấy được mình cần phải tiếp tục
xây dựng cho mình một động cơ học tập đúng đắn, một động lực mạnh mẽ để rèn luyện bản
thân, cố gắng học tập và rèn luyện để có những kiến thức, những hiểu biết, trang bị cho mình một
nền tảng tri thức vững vàng, một ý thức kiên định trong học tập và trong cuộc sống, chuẩn bị
hành trang cho cuộc sống tương lai, góp phần xây dựng quê hương đất nước, trở thành người
công dân tốt, có ích cho xã hội.
V/ Thiết bị dạy học, học liệu
Giáo Viên:
* Các thiết bị, đồ dùng dạy học, học liệu sử dụng trong dạy học:
- Máy vi tính, máy chiếu Projecter.
- Một số sách tham khảo: Lịch sử; Vật lí; Địa lí; Tin học; Hóa học…
* Ứng dụng CNTT trong việc dạy và học của dự án:
- Sử dụng phần mềm PowerPoint trong trình chiếu.
- Phầm mềm hỗ trợ download.
- Phần mềm đổi đuôi, cắt ghép, xử lí phim ảnh.
Học sinh:
Sưu tập một bộ hình ảnh liên quan đến nội dung bài học như: Hình ảnh về hoạt động khai
thác thuỷ sản, khai thác dầu khí tại Biển Đông, hình ảnh cá chết hàng loạt tại vùng biển miền
Trung nước ta năm 2015, hình ảnh ô nhiễm môi trường biển, hình ảnh về hoạt động vệ sinh bảo
vệ môi trường biển, một số hình ảnh về Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo tại quần đảo
Hoàng Sa nước ta….
VI. Hoạt động dạy học và tiến trình dạy học
TÍCH HỢP: TOÁN - VẬT LÍ – HOÁ HỌC – SINH HỌC - LỊCH SỬ - ĐỊA LÍ –
GDCD QUA CHỦ ĐỀ:
GIẢI BÀI TOÁN BẰNG CÁCH LẬP PHƯƠNG TRÌNH - HỆ PHƯƠNG TRÌNH (TOÁN
9) .
Hoạt động 1: Tích hợp môn Lịch sử.
Bài toán 1: Trong dịp kỉ niệm 70 năm ngày thành lập nước CHXHCN Việt Nam có 180 học sinh
được điều về thăm quan diễu hành tại quảng trường Ba Đình Hà Nội. Người ta tính rằng, nếu
dùng loại xe lớn để chở một lượt hết số học sinh thì phải điều động ít hơn 2 xe so với dùng xe
nhỏ. Biết rằng mỗi ghế ngồi 1 học sinh và mỗi xe lớn có nhiều hơn mỗi xe nhỏ là 15 ghế. Tính số
xe lớn nếu loại xe này được huy động.
1/ Mục tiêu:
Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với loại toán tìm
số.
Hiểu được ý nghĩa lịch sử quan trọng ngày Quốc Khánh 2/9.
2/ Cách tổ chức thực hiện
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Hãy chọn ẩn và đặt điều kiện cho ẩn.
HS hoạt động nhóm theo yêu cầu của GV.
Giải:
GV phát phiếu học tập đã chuẩn bị sẵn
cho học sinh.
Giáo viên phát phiếu học tập, yêu cầu
học sinh hoạt động nhóm điền vào chỗ
trống trên phiếu học tập.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những
nhóm gặp khó khăn.
Sau 5 phút giáo viên thu phiếu học tập
và nhận xét rút kinh nghiệm bài làm của
học sinh trên phiếu học tập bằng máy
chiếu một số bài làm tiêu biểu.
Gọi số xe lớn cần huy động là x (xe), x.
Số xe nhỏ nếu huy động sẽ cần x+2 (xe).
Số ghế của mỗi xe lớn là: .
Số ghế của mỗi xe nhỏ là:
Vì mỗi xe lớn có nhiều hơn mỗi xe nhỏ là 15
ghế nên ta có phương trình:
x2 + 2x – 24 = 0
Giải phương trình trên ta được
(thỏa mãn đk), (loại vì không thỏa mãn điều
kiện).
Vậy nếu huy động loại xe lớn thì cần 4 xe.
GV chốt lại các bước trình bày lời giải
bài toán bằng cách lập phương trình- hệ
phương trình.
? Theo em ngày thành lập nước
CHXHCN Việt Nam là ngày, tháng,
năm nào?
Ngày đó tại quảng trường Ba Đình diễn
ra sự kiện lịch sử gì?
Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính
phủ lâm thời - tức là ủy ban Dân tộc
giải phóng Trung ương - Người đọc
bản Tuyên ngôn Độc Lập. Tuyên bố
với quốc dân đồng bào cả nước và
toàn thể nhân loại trên thế giới, bắt Ngày thành lập nước CHXHCN Việt Nam là
đầu từ nay Nước Việt Nam Dân chủ ngày: 2 - 9 – 1945
Cộng hoà đã ra đời. Bản Tuyên ngôn
Độc lập cũng đã mở ra một kỷ nguyên
mới, lần đầu tiên người dân Việt Nam
có quyền ngẩng cao đầu, tự hào mình
đã trở thành công dân của một nước
tự do và độc lập. Và cũng bắt đầu từ
Tuyên ngôn 2/9, người dân Việt Nam
bắt đầu một cuộc sống mới.
Hoạt động 2: Tích hợp môn Hoá học.
Bài toán 2: Người ta đổ thêm 200g nước vào dung dịch chứa 40g muối thì nồng độ của dung dịch
giảm đi 10%. Hỏi trước khi đổ thêm nước thì dung dịch đó chứa bao nhiêu gam nước?
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với loại toán có sử
dụng kiến thức thuộc bộ môn Hóa học, cụ thể là công thức tính nồng độ phần trăm của chất trong
dung dịch, công thức tính khối lượng chất trong dung dịch để giải bài toán.
- Qua đó học sinh thấy được mối liên hệ giữa bộ môn Hoá học và Toán học trong quá trình
học tập cũng như trong thực tiễn cuộc sống, biết cách giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc
sống liên quan đến kiến thức môn học.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực môn
nào?
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực bộ môn
Viết công thức tính nồng độ của dung dịch. Hóa học.
C% =
Trong đó:
GV yêu cầu học sinh làm việc cá nhân trên C% : là nồng độ phần trăm của chất tan.
phiếu học tập: Điền vào chỗ trống để hoàn : là khối lượng chất tan.
: là khối lượng dung dịch.
chỉnh lời giải bài toán.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những em gặp HS làm việc cá nhân theo yêu cầu của GV.
khó khăn.
Sau 6 phút GV cho học sinh kiểm tra bài, Giải:
chia sẻ về bài làm giữa các bạn trong nhóm Gọi khối lượng nước trong dung dịch ban đầu
là x(g), x>0.
với nhau.
GV chia sẻ, trình chiếu đáp án, quy định Nồng độ của muối trong dung dịch ban đầu
thang điểm lên màn hình cho học sinh kiểm là: %.
tra bài chấm điểm lẫn nhau theo từng Sau khi đổ thêm 200g nước vào thì khối lượng
của dung dịch mới là: x+240(g).
nhóm.
GV tuyên dương học sinh làm tốt, những Nồng độ của muối dung dịch mới là:
nhóm hoạt động tích cực và rút kinh %
nghiệm những hạn chế trong bài của học Vì nồng độ muối trong dung dịch giảm đi 10%
nên ta có phương trình:
sinh.
x2 + 280x – 70400 = 0.
GV: Liên hệ.
Từ bài toán trên cho thấy, dựa vào công Giải phương trình trên ta được nghiệm (thỏa
thức tính nồng độ phần trăm chất tan mãn đk), (loại vì không thỏa mãn đk).
trong môn Hóa học để lập phương trình Vậy lượng nước ban đầu trong dung dịch là
và tính được khối lượng nước cần đổ 160g.
thêm theo yêu cầu của bài toán bài.
GV liên hệ tình trạng xâm nhập mặn tại
vùng đồng bằng Sông Cửu Long năm 2015
do nồng độ muối tăng cao vượt quá mức độ
cho phép. (xem hình ảnh minh họa trên
Cống Xuân Hòa đang khẩn trương
màn hình máy chiếu).
bơm nước ngọt vào cứu lúa
Trước tình trạng xâm nhập mặn ở vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long như trên, em
thử đề ra biện pháp khắc phục?
( còn không xa nữa đến ngày thu
hoạch nhưng lúa đã chết do bị
nhập mặn .)
GV đưa ra các biện pháp mà địa phương
thực hiện để hạn chế xâm nhập mặn.
Để đối phó với tình trạng hạn, xâm nhập
mặt, một số địa phương đã chủ động, tích
cực thực hiện nhiều biện pháp ngăn mặn,
giữ ngọt, tổ chức bơm chuyền cứu lúa, mở
vòi nước công cộng phục vụ nước sinh hoạt
cho nhân dân, giảm thiểu được thiệt hại...
GV chỉ rõ mục đích của việc ngăn không
cho nước biển xâm nhập và bơm nước ngọt
để rửa mặn tức là làm giảm đi nồng độ
muối trong nước đến nồng độ cho phép để
cây trồng, vật nuôi có thể sinh trưởng và
triển. Trong thực tiễn các em còn có thể
vận dụng phương pháp trên để xử lí một số
tình huống trong bữa ăn hàng ngày như
chế biến món ăn.
Qua đây ta có thể thấy được rằng môn
Hóa học và môn Toán có mối liên hệ chặt
chẽ, có tác động hỗ trợ qua lại lẫn nhau,
nhờ kiến thức bộ môn này để hỗ trợ giải
quyết vấn đề của môn kia cũng như giải
quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc
sống.
Hoạt động 3: Tích hợp môn Vật lí.
Bài toán 3: Miếng kim loại thứ nhất nặng 880g, miếng kim loại thứ hai nặng 858g. Thể tích của
miếng thứ nhất nhỏ hơn thể tích của miếng thứ hai là 10cm 3, nhưng khối lượng riêng của miếng
thứ nhất lớn hơn khối lượng riêng của miếng thứ hai là 1g/cm 3. Tính khối lượng riêng của mỗi
miếng kim loại nói trên.
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với loại toán có
sử dụng kiến thức thuộc bộ môn Vật lí, cụ thể là sử dụng công thức liên hệ giữa khối
lượng, khối lượng riêng và thể tích của một vật.
Qua đó học sinh thấy được mối liên hệ giữa bộ môn Vật lí và Toán học trong quá trình học
tập.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực môn
nào?
Bài toán có nội dung thuộc lĩnh vực bộ môn
Hãy viết công thức liên hệ giữa khối lượng, Vật lí.
khối lượng riêng và thể tích của vật?
m =D.V
trong đó:
Nếu gọi khối lượng riêng của miếng kim m là khối lượng của vật.
loại thứ nhất là x(g), ĐK:x>0.
D là khối lượng riêng của vật.
Viết biểu thức biểu thị khối lượng riêng của V là thể tích của vật.
miếng kim loại thứ hai ?
Giải:
Viết biểu thức biểu thị thể tích của miếng Nếu gọi khối lượng riêng của miếng kim loại
kim loại thứ nhất ?
thứ nhất là x(g/cm3 ), x>0.
Viết biểu thức biểu thị thể tích của miếng Khối lượng riêng của miếng kim loại thứ hai là:
kim loại thứ hai ?
x-1(g/cm3 ).
Lập phương trình bài toán?
Thể tích của miếng kim loại thứ nhất là: cm3.
GV yêu cầu học sinh đứng tại chỗ trình bày Thể tích của miếng kim loại thứ hai là: cm3.
lời giải.
Ta có phương trình:
GV yêu cầu học sinh chia sẻ về bài làm của Giải phương trình ta được (loại, vì không thỏa
bạn.
mãn điều kiện)
GV chia sẻ và rút kinh nghiệm cho học Vậy khối lượng riêng của miếng kim loại thứ
sinh.
nhất là: 8,8(g/cm3 ).
Khối lượng riêng của miếng kim loại thứ hai là:
7,8(g/cm3 ).
GV: Liên hệ.
Từ bài toán trên cho thấy từ công thức
tính khối lượng của một vật để suy ra thể
tích của vật đó Từ đó lập được phương
trình, giải quyết được bài toán. Qua đây ta
có thể thấy được rằng môn Vật lí và môn
Toán cũng có mối liên hệ chặt chẽ, có tác
động hỗ trợ qua lại lẫn nhau.
Hoạt động 4: * Tích hợp môn Địa lý .
Bài toán 4: Theo kế hoạch, một đội khai thác dầu khí phải khai thác 160 000 tấn dầu thô trong
một thời gian nhất định. Nhưng do sự nỗ lực về mọi mặt nên mỗi ngày đội đã khai thác nhiều hơn
so với kế hoạch là 800 tấn nên không những đội đã hoàn thành sớm hơn dự định 5 ngày mà còn
vượt mức 8000 tấn. Hỏi theo kế hoạch, đội phải khai thác trong bao nhiêu ngày?
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán năng
suất.
- Học sinh thấy được sự phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đó là nguồn tài
nguyên phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản).
Qua đây giáo dục học sinh biết yêu thiên nhiên, yêu biển, có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên nói chung và nguồn tài nguyên biển nói riêng.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Bài toán thuộc loại toán nào ?
Cách giải bài toán năng suất tương tự như cách
giải loại toán nào ?
Hãy điền nội dung để hoàn thiện bảng phân tích HS hoàn thiện bảng phân tích theo yêu
sau :
cầu của GV.
NS(tấn/ngày) Số ngày
Tổng số
dâù (tấn)
Kế
x
hoạch
Thực
hiện
Giải:
Hãy trao đổi theo nhóm trình bày lời giải vào bảng
Gọi thời gian mà đội đó dự định khai
phụ.
thác là x(ngày), ĐK:x > 5.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những nhóm gặp khó
Thời gian thực tế mà đội đã khai thác
khăn.
là: (x – 5) (ngày).
Sau 6 phút GV cho các nhóm kiểm tra bài lẫn
Năng suất mỗi ngày đội dự định khai
nhau.
thác là : (tấn).
GV yêu cầu học sinh chia sẻ bài làm giữa các
Năng suất mỗi ngày thực tế mà đội
nhóm, cho điểm nhóm có bài giải đúng và nhanh
khai thác là :(tấn).
nhất.
Ta có phương trình :
GV giới thiệu sản lượng khai thác dầu của nước ta
năm 2013
x2 – 15x – 1000 =0
Giàn khai thác dầu khí trên mỏ Sông Đốc Giải phương trình ta được
của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
(thỏa mãn đk), (loại, vì không thoả mãn
điều kiện của ẩn).
Vậy theo kế hoạch, đội phải khai thác
trong 40 ngày.
HS nghe giảng.
GV giới thiệu:
- Biển nước ta có nguồn tài nguyên vô cùng
phong phú, khoáng sản nổi bật là dầu khí (với
trữ lượng khoảng 3- 4 tỷ tấn), và nhiều loại
khoáng sản như: than, sắt, ti tan, cát thủy tinh...,
hải sản có tổng trữ lượng khoảng 3-4 triệu tấn.
- Để rõ hơn sự phong phú về nguồn tài nguyên
thủy sản của Biển đông, cô cùng các em xét bài
toán 5.
Hoạt động 5: * Tích hợp môn Địa lý, sinh học .
Bài toán 5: Sản lượng khai thác thuỷ sản của hai tỉnh A và B năm 2014 đạt 320 000 tấn. Sản
lượng khai thác của tỉnh A năm 2015 tăng 5%, còn tỉnh B tăng 1% nên tổng sản lượng khai thác
của hai tỉnh năm 2015 đạt 328 800 tấn. Tính sản lượng khai thác của mỗi tỉnh năm 2014.
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được củng cố kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán
có chứa tỉ số %.
- Học sinh lại một lần nữa thấy được sự phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đối
với sự phát triển kinh tế của đất nước, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản).
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Đưa ra bài toán 1 trên màn hình máy chiếu.
Cho học sinh nghiên cứu đề bài.
HS đọc đề bài.
Bài toán cho biết gì? Yêu cầu gì?
HS trả lời
Để giải bài toán trên theo em ta có nên chọn
ẩn như thế nào?
Giải:
Đơn vị và điều kiện của ẩn là gì?
- Gọi sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh A năm
Gv lưu ý: Việc chọn ẩn khác nhau dẫn đến 2014 là x(tấn), 0< x < 320000.
điều kiện của ẩn và phương trình cũng khác - Gọi sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh B năm
nhau.
2014 là y(tấn), 0< y < 320000.
GV gọi 1HS lên bảng trình bày lời giải.
- Sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh A năm
Dưới lớp trình bày ra nháp.
2015 là x+5%.x =1,05.x (tấn).
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những em gặp - Sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh B năm
khó khăn.
2015 là y+ 1%.y = 1,01.y (tấn).
GV yêu cầu học sinh chia sẻ bài làm bài Theo bài ra ta có hệ phương trình:
làm của bạn trên bảng, cho điểm học sinh Giải hệ phương trình ta được .
và động viên, khuyến khích học sinh làm Ta thấy x =140000, y = 180000 (thỏa mãn điều
bài tốt.
kiện của ẩn).
GV cho học sinh quan sát một số hình ảnh Vậy sản lượng khai thác thuỷ sản của tỉnh A , tỉnh
về khai thác thuỷ sản thuộc một số tỉnh miền B năm 2014 lần lượt là: 140000 (tấn), 180000
Trung nước ta trên màn hình máy chiếu.
(tấn).
HS nghe giảng.
- Với sản lượng khai thác thuỷ sản nói trên,
(ở mức độ tương đối). Song các em phần nào
có thể hình dung được được sự phong phú về
nguồn tài nguyên thiên nhiên biển đối với sự
phát triển kinh tế của đât nước, đặc biệt là
nguồn tài nguyên sinh vật (thủy sản) thuộc
vùng biển chủ quyền của nước ta.
Như vậy có thể nói biển, đảo đối với Việt
Nam là một kho tàng tài nguyên vô giá, về
nguồn lợi thủy sản, khoáng sản, du lịch và
cũng là điều kiện phát triển ngành GTVT
biển. Đây là điều kiện để nước ta phát triển
kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và
hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế
giới.
Song, thực trạng về ô nhiễm môi trường
biển đang là vấn đề báo động.
Qua môn Sinh học các em được biết thì yếu
tố nào gây ô nhiễm môi trường biển?
GV: Các hoạt động phát triển trên đất liền có
thể là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
biển như: sự đô thị hóa, phát triển các khu
công nghiệp, nông nghiệp, nuôi trồng và
khai thác thủy sản nước lợ, các khu dân cư,
khai khoáng,… Chính chất thải từ các hoạt
động trên, không qua xử lý đổ ra sông suối
và cuối cùng đều đổ ra biển. Đây là nguyên
nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển
hiện nay
.GV trình chiếu một số nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường biển nước ta hiện nay lên
máy chiếu cho học sinh quan sát.
Khi môi trường biển bị ô nhiễm thì hậu quả Hình ảnh người dân chôn cá chết
gì sẽ xảy ra?
GV trình chiếu một số hậu quả của ô nhiễm
môi trường biển lên máy chiếu cho học sinh
quan sát.
Một trong những hậu quả nặng nề của việc
ô nhiễm môi trường biển ở nước ta là hiện
tượng cá chết hàng loạt ở vùng biển miền
Trung (khoảng 70 tấn) vào tháng 4/2015
gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước.
GV đưa ra một số thông tin về hiện tượng
cá chết hàng loạt ở vùng biển miền Trung Hình ảnh cá chết hàng loạt ở Miền Trung
và hiện tượng thủy triều đỏ ở Việt Nam.
Theo em, mỗi chúng ta cần làm gì để góp
phần khắc phục tình trạng ô nhiễm môi
trường biển?
Một trong những hoạt động nhằm góp phần
khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đó
là thu gom rác thải trên các bãi biển, Sử
dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, hạn chế
thải các chất thải độc hại ra môi trường.
GV trình chiếu một số biện pháp bảo vệ môi
trường biển lên máy chiếu cho học sinh quan HS trả lời.
Môi trường biển bị ô nhiễm đã dẫn tới suy thoái
sát.
đa dạng sinh học biển, điển hình là hệ sinh thái
san hô. Vùng biển Việt Nam có khoảng 1.122
km2 rạn san hô, nếu hệ sinh thái này bị mất, biển
nước ta có nguy cơ sẽ trở thành "thủy mạc" không
còn tôm cá nữa. Đó là thông điệp mà các nhà môi
trường và bảo tồn thiên nhiên nước ta đã cảnh báo.
Hoạt động 6: Tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường biển.
Bài toán 6: Hai tổ thanh niên tình nguyện tham gia lao động vệ sinh nhặt giấy rác khu vực một
bãi biển.
Dự định hoàn thành công việc, hai tổ phải cùng làm trong 6 giờ. Nhưng sau khi làm chung được 2
giờ thì tổ II được điều đi làm việc khác, tổ I đã hoàn thành công việc còn lại trong 10 giờ. Hỏi nếu
làm riêng thì mỗi tổ phải hoàn thành công việc đó trong bao lâu?
1/ Mục tiêu:
- Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán làm
việc chung – riêng.
Đông đảo đoàn viên thanh niên và người dân thu gom rác thải tại
bãi biển.
- Qua bài toán giáo dục học sinh có ý thức tham gia các phong trào vệ sinh, bảo vệ môi
trường biển, và môi trường xung quanh ta.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
GV yêu cầu học sinh đọc và nghiên cứu đề Học sinh đọc và nghiên cứu đề bài
bài
Học sinh đứng tại chỗ trả lời
Bài toán thuộc loại toán nào?
Để giải loại toán này các em nên kẻ bảng Toán làm việc chung riêng.
phân tích để dễ kiểm soát.
GV yêu cầu học sinh làm việc cá nhân trình HS làm việc cá nhân theo yêu cầu của GV.
bày ra giấy.
GV theo dõi, giúp đỡ, hỗ trợ những em gặp
khó khăn.
Sau 5 phút cho các em kiểm tra bài lẫn nhau
theo nhóm.
GV trình chiếu một số bài tiêu biểu để HS
cả lớp chia sẻ.
GV chia sẻ và sửa chữa thiếu xót nếu có.
GV liên hệ:
Như các em đã biết lợi ích từ biển đảo đem
lại cho nền kinh tế nước ta là như vậy.
Nhưng do đặc điểm lãnh thổ đất liền nước
ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc
vào Nam, chiều ngang hẹp (nơi rộng nhất
khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50
km), nên chiều sâu đất nước bị hạn
chế. Bởi thế, trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, biển đảo Việt Nam còn có
vai trò quan trọng, làm tăng chiều sâu
phòng thủ đất nước ra hướng biển.
Song từ lâu, tình hình biển đảo đã trở
thành vấn đề rất phức tạp, đặc biệt là vấn
đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của nước ta luôn bị Trung
Quốc xâm phạm. Cụ thể đó là sự kiện
Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn
khoan Hải Dương 981 vào vùng thềm lục
địa, vùng đặc quyền kinh tế của nước ta
điều đó vi phạm nghiêm trọng luật pháp
quốc tế, đe dọa hòa bình, ổn định, an ninh,
an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông.
Để tìm hiểu về vấn đề chủ quyền của quần
đảo Hoàng Sa cô cùng các em tìm hiểu bài
toán 7
Giàn khoan Hải Dương 981 đang hoạt động
khai thác nhiên liệu trên biển Đông
Hoạt động 7: Tích hợp môn Vật lí + Địa lí + Bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Bài toán 7: (Đảo Lăng Thuỷ Giác thuộc Đảo Hải Nam của Trung Quốc, Đảo Lí Sơn thuộc tỉnh
Quảng Ngãi - Việt Nam, Đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa).
Hai chiếc tàu thuỷ khởi hành cùng một lúc. Tàu thứ nhất dự định đi từ đảo Lăng Thuỷ
Giác đến quần đảo Hoàng Sa, tàu thứ hai dự định đi từ đảo Lí Sơn đến đảo Tri Tôn.
Nếu tàu thứ nhất đi với vận tốc 45km/h, tàu thứ hai đi với vận tốc 52km/h thì chúng đến
đích cùng một lúc.
Nếu tàu thứ nhất tăng vận tốc thêm 5km/h và tàu thứ hai tăng vận tốc thêm 8km/h thì tàu
thứ hai đến đích sớm hơn tàu thứ nhất 10 phút.
Tính khoảng cách từ đảo Lăng Thuỷ Giác đến quần đảo Hoàng Sa, Và khoảng cách từ đảo
Lí Sơn đến đảo Tri Tôn.
1/ Mục tiêu:
Học sinh được rèn kỹ năng giải bài toán bằng cách lập phương trình đối với dạng toán
chuyển động.
Biết được khoảng cách tương đối của quần đảo Hoàng Sa tới Đảo Lí Sơn (Quảng Ngãi);
biết được khoảng cách của quần đảo Hoàng Sa (Việt Nam) so với Đảo Hải Nam (Trung
Quốc).
Thông qua bài toán 7 học sinh có ý thức tìm hiểu những căn cứ để khẳng định chủ quyền
quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Từ đó thấy được vai trò của việc học tập đối với việc
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ nước ta.
Giáo dục học sinh trường THCS Xuân Phú hiểu được ý nghĩa của mô hình biển đảo và có
trách nhiệm bảo vệ mô hình biển đảo của nhà trường cũng như và có ý thức trách nhiệm
trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương, hướng về quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa
thân yêu.
2/ Cách tổ chức dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh.
GV đưa đề bài trên màn hình máy chiếu.
GV: Yêu cầu học sinh đọc đề bài.
HS đọc đề bài và nghiên cứu bài toán.
Bài toán thuộc loại toán nào?
GV yêu cầu học sinh hoạt động theo
nhóm trình bày nhanh bảng phân tích bài Bài toán thuộc loại toán chuyển động.
toán, lập hệ phương trình.
HS thực hiện theo yêu cầu của GV.
V(km/h)
t(h)
S(km)
Giải nhanh hệ phương trình lập được.
45
x/45
x
Vậy khoảng cách từ đảo Lăng Thuỷ TH 1 Tàu 1
Giác đến quần đảo Hoàng Sa?
Tàu 2
52
y/52
y
Và khoảng cách từ đảo Lí Sơn đến đảo
Tri Tôn ?
TH Tàu 1
50
x/50
x
GV đưa bản đồ về quần đảo Hoàng Sa 2
Tàu 2
60
y/60
y
lên màn hình máy chiếu và giới thiệu về
vị trí của quần đảo Hoàng Sa cho học Hpt:
sinh.
Giải hệ phương trình ta được: x = 225; y = 260
GV liên hệ:
(thoả mãn ĐK).
Vậy khoảng cách từ đảo Lí Sơn đến đảo Tri Tôn là:
Về khoảng cách đến đất liền, quần đảo 225km.
Hoàng Sa nằm gần Việt Nam hơn. Cụ Khoảng cách từ đảo Lăng Thuỷ Giác đến quần đảo
thể, Tri Tôn là một hòn đảo nhỏ thuộc Hoàng Sa là: 260
quần đảo Hoàng Sa, nằm cách Lý Sơn
khoảng 228km.( 123 hải lí). (trong bài
toán cô đã lấy số lệu tuơng đối là
225km để việc tính toán khỏi phức tạp)
Trong khi đó, khoảng cách từ đảo
Hoàng Sa đến Lăng Thuỷ giác thuộc
đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng
260km( 140 hải lí).
Có thể nói đây cũng là một trong
những căn cứ để khẳng định chủ
quyền Quần đảo Hoàng Sa là của Việt
Nam.
Ngoài ra, khi học các bộ môn Địa lí,
Ngữ Văn, Lịch sử chúng ta còn biết
được rất nhiều các căn cứ khác có cơ
sở pháp lí để khẳng định rằng Quần
đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. (Các
em có thể tìm đọc thêm cuốn
sách “Những cơ sở pháp lí khẳng định
chủ quyền quần đảo Hoàng Sa là của
Việt Nam” để hiểu thêm về chủ quyền
Biển Đảo của nước ta).
Đảo Lí Sơn gần quần đảo...
 









Các ý kiến mới nhất