Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:05' 20-02-2024
Dung lượng: 325.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Mục lục
Mở Đầu:
Chuyện Sư Thiều:
Chuyện Ông Giáo Quỳ:
Chuyện Chú Phụng:

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ
Nguyễn Huy Thiệp
www.dtv-ebook.com
Mở Đầu:
Tôi là Nhâm. Tôi sinh ở làng quê, lớn lên ở làng quê. Đi trên đường Năm
nhìn về làng tôi chỉ thấy một vệt xanh nhô trên đồng vàng. Xa mờ là vỏng
cung Đông Sơn, trông thì gần nhưng từ làng tôi đến đấy phải năm mười cây
số. Làng tôi gần biển, mùa hè vẫn có gió biển thổi về. Tháng Năm âm lịch là
mùa gặt. Mẹ tôi, chị Ngữ, chú Phụng với tôi ra đồng từ mờ sáng. Ba người
gặt, còn tôi gánh lúa.
Tôi gánh lúa về nhà, đi men theo đường mương. Nắng gắt lắm, ngoài trời
có lẽ phải bốn mươi độ. Bùn non bên vệ mương nứt nẻ, bong cong lên như
bánh đa.
Tôi mơ mộng lắm, hay nghĩ. Bố tôi là thiếu tá, cán bộ trung cấp kỹ thuật
hải quân, vẫn đi ra các đảo lắp ra đa với máy thông tin, mỗi năm về phép một
lần. Bố tôi thuộc hết tên các đảo. Mẹ tôi chẳng bao giờ đi xa khỏi làng. Mẹ
tôi bảo: "ở đâu chẳng thế, chỗ nào cũng toàn là người". Chú Phụng thì khác,
Chú Phụng đã đi nhiều nơi, chú Phụng bảo tôi khi chỉ có hai chú cháu với
nhau: "Trong thiên hạ không phải chỉ có người đâu, có các thánh nhân, có
yêu quái". Nhà chú Phụng toàn phụ nữ: mẹ vợ, vợ, bốn đứa con gái. Chú
Phụng đùa: "Chú đẹp giai nhất nhà".
Chị Ngữ là chị dâu tôi,lấy anh Kỷ. Anh Kỷ đang làm công nhân trên mỏ
thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng. Chị Ngữ là con ông giáo Quỳ. ông giáo Quỳ có
nhiều sách. Mọi người vẫn bảo ông là "đồ gàn", lại bảo ông là "lão dê già",
"Quỳ dê". ông giáo Quỳ có hai vợ, vợ cả sinh ra chị Ngữ, chị dâu tôi. Vợ hai
là thím Nhung, vừa là thợ may, vừa bán quán, sinh ra thằng Văn bạn tôi.

Thím Nhung trước kia là gái giang hồ ở Hải Phòng. ông giáo Quỳ lấy về làm
vợ nên uy tín chẳng còn gì.
Tôi gánh được chục gánh lúa thì đầy ùn cả sân. Tôi gọi cái Minh dọn rơm
để có chỗ xếp lúa. Cái Minh em gái tôi người nhỏ quắt, đen đúa nhưng mắt
sáng, lại dai sức. Cái Minh chui ở bếp ra, mặt đỏ gay, mồ hôi ướt đầm hai bên
vạt áo. Tôi ra bể nước mưa múc đầy cả một gáo dừa uống ừng ực. Nước mát
lịm. Mẹ tôi vẫn hay chan cơm nước mưa ăn với cà muối. Mẹ tôi không ăn
được thịt mỡ.
Sân nóng hừng hực, hơi nóng mờ mờ bốc lên ngây ngất. Mùi lúa ngột
ngạt. Đường làng đầy rơm rạ phơi ngổn ngang. Tôi đi qua cổng nhà dì Lưu
thấy có đám người xúm đông. Cái Mị con dì Lưu gọi tôi: "Anh Nhâm!" Tôi
vào thấy ông Ba Vện bưu điện xã đang nhét thư báo vào túi bạt sau yên xe
đạp. Cái Mị bảo tôi: "Có điện của chị Quyên ngoài Hà Nội".
Dì Lưu là em mẹ tôi, bị liệt mấy năm nay. Chú Sang chồng dì Lưu đang
công tác bên. Lào, chú là kỹ sư cầu đường. Anh trai chú Sang ngoài Hà Nội
có con gái là Quyên đi học Dại học bên Mỹ. Hồi bé Quyên đã có lần về thăm
quê.
Tôi cầm bức điện đọc: "Cô Lưu cho người ra ga đón cháu Quyên 14 giờ
ngày..." Tôi hỏi cái Mị: "Chiều nay à?" Cái Mị gật đầu.
Dì Lưu nằm nghiêng tựa lưng vào tường. Lúc nào dì Lưu cũng nằm như
thế đã sáu năm nay. Dì Lưu bảo tôi: "Nhâm giúp dì ra đón em Quyên nhé".
Tôi bảo: "Nhà cháu đang gặt". Dì Lưu bảo: "Để đấy đã. Gặt ở khoảnh nào?"
Tôi bảo: "Gặt ở khoảnh gieo bào thai hồng".
Cái Mị cầm bức điện ra đồng để nói với mẹ tôi. Cái Mị cùng tuổi cái
Minh em tôi nhưng cái Mị trắng hơn. Nó hay nói, hay làm nũng. Cái Mị bảo:
"Anh Nhân ơi, hôm nào anh làm cho em cái lồng lấy ổi". Lồng lấy ổi làm

bằng cây nứa tươi, đầu lồng hơi giống hom giỏ, có hàm răng mở ra. Tôi bảo:
"Em kiếm nứa đi". Cái Mị bảo: "Em có rồi. Mai anh làm nhé" Tôi nhẩm việc,
thấy kín hết chỗ từ sớm đến khuya. Cái Mị bảo: "Mai đấy". Tôi bảo: "ừ". Nhà
cái Mị có ba cây ổi, nó trèo ổi gãy cành có lần suýt ngã.
Chú Phụng đọc tờ điện báo nói: "Sao lại bưu cục S. N. N? Thế là nghĩa lý
gì? Bọn ở thành phố nhiều mưu kế lắm". Mẹ tôi bảo: "Dì Lưu đã nhờ đi thì
Nhâm đi đi. Cái áo mới mẹ để ở hòm, lấy mà mặc". Tôi bảo cái Mị: " Em về
đi. Anh phải gặt đến trưa, ăn cơm rồi đi luôn".
Cái Mị về một mình. Bóng nó cứ ngụp dần trên cánh đồng xa tít tắp đang
gặt nham nhở. Tôi cầm liềm. Quơ một vòng sát chân rạ. Giật mạnh. Bước
sang trái. Quơ liềm. Giật mạnh. Lại bước sang trái. Lại quơ liềm. Lại giật
mạnh. Cứ thế. Cứ thế mãi. Đất trên mặt ruộng ẩm ướt. Những con châu chấu
nhỏ xíu nhảy lách tách.
Đến giữa trưa thì đồng vắng lắm. Nhìn ra chỉ có bốn người nhà tôi giữa
đồng. Mẹ tôi ngồi bên vệ cỏ nhể gai ở chân. Chị Ngữ đội nón, khăn trùm mặt,
quấn xà cạp đến tận mắt cá chân, ngơ ngẩn nhìn về dãy núi xa phía vòng
cung Đông Sơn. Chú Phụng xếp lúa để gánh về. Chú Phụng hỏi: "Mày về
luôn chứ?" Tôi khô khốc miệng, không nói được, chỉ gật đầu. Hai chú cháu
tôi mỗi người một gánh đi về. Chú Phụng đi trước, tôi đi sau. Gánh lúa rất
nặng, tôi thấy chân mình run lắm cố bước. 100 bước. 200 bước. 1000 bước.
2000 bước. Cứ thế. Cứ thế mãi. Rồi cũng đến nhà.
Cái Minh dọn cơm cho tôi ăn rồi vội vàng mang cơm ra đồng cho mẹ tôi
và chị Ngữ.
Tôi ăn cơm. Cơm có rau khoai lang luộc, cà muối, cá tép kho khế. Tôi ăn
một lèo sáu bát cơm. Bây giờ đang mệt, nếu không mệt tôi đánh thông đấu
gạo.

Tôi ra giếng tắm, thay quần áo. Tôi lấy chiếc áo mới ra mặc, nhưng thấy
ngượng nên thôi. Tôi mặc chiếc áo bộ đội bạc màu của bố tôi. Tôi sang nhà dì
Lưu lấy xe đạp. Dì Lưu bảo: "Cháu cầm lấy ít tiền". Dì Lưu đưa tôi năm
nghìn nhưng tôi chỉ lấy hai nghìn. Hai nghìn là hai cân thóc. Dì Lưu hỏi:
"Nhâm còn nhớ mặt em Quyên không?" Tôi gật đầu, thực ra tôi không nhớ
lắm, nhưng gặp tôi cũng nhận ra.
Tôi đạp xe ra ga. Từ làng tôi đến ga tám chín cây số. Lâu lắm tôi mới đi
xa thế này.
Con đường đất men theo rìa làng, qua đình làng, qua đầm sen rồi theo bờ
mương ngược về huyện lỵ. Tôi nghĩ. Những ý nghĩa của tôi mung lung.
Tôi nghĩ
Tôi nghĩ về sự đơn giản của ngôn từ
Sự bất lực của hình thức biểu đạt
Mà nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất
Sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất
Những số phận hưu hắt đầy mặt đất
Bao tháng ngày trôi đi
Bao kiếp người trôi đi
Sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được
Ai nhặt cho tôi buổi sáng mai này
Nhặt được ánh hoang vắng

trong mắt em gái tôi
Nhặt được sợi tóc bạc trên đầu mẹ tôi
Nhặt được niềm hy vọng hão huyền
trong lòng chị dâu tôi
Và nhặt được mùi vị nghèo nàn trên
cánh đồng quê
Tôi rốt ráo bắt tỉa tùng ý nghĩ
Tìm cách săn đuổi cho nó vào chuồng
Và tôi hú gọi trên cánh đồng lòng
Tru lên như con sói hoang
Tôi gắng gặt một lượm sống
Bó buộc lỏng lẻo bởi dải băng ngôn từ
Tôi hú gọi trên cánh đồng người
Tôi nhặt những ánh mắt đời
Hòng dõi theo ánh mắt tôi
Dõi vào cõi ý thức
Cõi ý thức mênh mông xa vời
Dầu tôi biết vô nghĩa, vô nghĩa, vô nghĩa

mà thôi.
Ga chiều huyện lỵ vắng vẻ. Mấy con gà rã cánh đi trên sân ga. Có khoảng
chục người chờ ở cổng. Vẳng lại tiếng nhạc ở băng cát xét nhà nào đang mở.
Tiếng hát của ca sĩ Nhã Phương chậm rãi: "Người đi qua đời tôi, có nhớ gì
không người? Em đi qua đời tôi, có nhớ gì không em?" Hàng phở, hàng giải
khát. La liệt là những sạp hàng quần áo, giày dép, đường sữa, thuốc lá. ô tô
chạy xuôi chạy ngược.
Trời rất trong. Nắng bừng bừng. Cả phố huyện say nắng.
Tiếng còi tàu hú từ xa dè dặt, vui mừng. Có ai nói to: "Tàu về". Cả phố
huyện vẫn mơ màng. Lại có ai gắt lên: "Tàu về". Tiếng còi tàu hăm dọa, chói
óc. Mọi người bỗng nhiên rối rít, cuống cuồng. Những bà, những chị, những
đứa trẻ bán hàng rong chạy xuôi chạy ngược. Tiếng rao hàng chen nhau:
"Nước đây! Ai bánh nào! Ai nước nào! Ai bánh nào! Ai nước nào!"
Tôi dắt xe đứng một chỗ nhìn. Người trên tàu ra đứng ngồi ngổn ngang ở
ngay bậc cửa. Đây là ga lẻ. Đồng quê tôi vô danh. Nơi tôi đứng đây vô danh.
Khoảng hơn chục người lần lượt qua cổng soát vé Tôi nhận ra mấy thầy cô
giáo cấp ba trường huyện. Bộ đội. Mấy người buôn chuyến. Mấy người thợ
sắt. Một ông to béo, đeo kính râm, mắt kính vẫn còn dán tem. Một thanh niên
cao, gầy tóc rễ tre, đôi mắt tư lự. Tôi biết người này, đấy là nhà thơ Văn
Ngọc. Sau anh Ngọc là một cặp vợ chồng già. Quyên.
Quyên xõa tóc, mặc áo pun, quần gin, đeo kính, khoác túi. Quyên trông
khác hẳn mọi người bởi toàn bộ thần thái toát ra.
Quyên qua cửa soát vé, nhìn quanh. Nhận ra tôi ngay. Quyên bảo: "Tôi là
Quyên. Có phải cô Lưu dặn anh đón tôi không?" Tôi bảo: "Vâng". Quyên
cười: "Cám ơn anh. Anh là thế nào với cô Lưu. Anh tên gì?" Tôi bảo: "Tôi là
Nhâm, tôi là con ông Hùng". Quyên hỏi: "Thế anh có họ hàng gì với tôi

không?" Tôi bảo: "Không". Quyên gật đầu: "Tốt. Cô Lưu thuê anh à?" Tôi
nhìn cái bóng tối sẫm trên nền xi măng. Tôi, thân phận tôi, ở đâu người ta
cũng nhận là kẻ làm thuê, làm mướn.
Chiều xuống chậm. Những bóng râm chạy đuổi nhau lướt trên mặt đất.
Chiều đánh rỗng nội tâm của ai hy vọng lý giải điều gì có nghĩa. Quyên hỏi:
"Nhà anh cấy bao nhiêu sào? Mỗi sào bao nhiêu thóc? Được bao nhiêu tiền?"
Tôi bảo: "Mỗi sào được hơn ba nồi, khoảng gần tạ, mỗi cân thóc một nghìn
tư". Quyên nhẩm: "Hai mươi triệu tấn thóc cho sáu mươi triệu người ". Tôi
bảo: "Có ai chỉ nghĩ đến ăn".
Qua đầm sen gập sư Thiều. Sư Thiều chào. Tôi chào lại. Sư Thiều bảo:
"Tôi vẫn nhớ dành cho cậu cây hồng tú cầu". Tôi bảo: "Để lúc nào qua chùa
con xin". Tôi thú chơi hoa. ông giáo Quỳ bảo: "Đấy là thú của kẻ biết đời chó
lắm". Sư Thiều bảo: "Có lấy ít sen về cắm lọ không?" Đầm sen của chùa mùa
này nhiều hoa.
Tôi dựng xe đẩy thuyền cho sư Thiều. Chiếc thuyền thúng chỉ vừa người
ngồi. Chèo khua nước. Quyên bảo: "Tôi muốn đi thuyền". Tôi gọi sư Thiều.
Sư Thiều ghé thuyền vào.
Sư Thiều ôm bó hoa sen đặt lên bờ. Quyên trèo lên thuyền. Tôi đẩy
thuyền ra.
Sư Thiều bảo: "Chiều người lụy ta". Tôi cười.
Tôi và sư Thiều ngồi ở trên bờ. Chiều vẫn xuống chậm. Nắng hoe vàng.
Trong lòng tôi rỗng hoác, rỗng lắm, một khoảng rỗng không. Quyên lên bờ.
Sư Thiều mời ăn ngó sen. Sư Thiều hỏi: "Ngon không?" Quyên bảo: Ngon.
Nấn ná một lát rồi về. Sư Thiều chào. Quyên chào lại. Quyên ôm bó hoa
sen. Sư Thiều tần ngần đứng trông theo.

Tôi đi trước. Quyên đi sau. Quyên hỏi tôi về sư Thiều.

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ
Nguyễn Huy Thiệp
www.dtv-ebook.com
Chuyện Sư Thiều:
Sư Thiều mồ côi cha mẹ. Năm 15 tuổi có người trông thấy tướng lạ bảo:
"Nên xuất gia, trong trần gian không có chỗ chứa cậu ". Sư Thiều nghe lời, đi
du phương nhiều nơi, tìm hiểu qua nhiều bậc thiện tri thức nhưng chẳng ngộ.
Sư Thiều nói: "Nay phật ở nơi không có Phật". Lại nói:
"Đạo không tâm hợp người
Người không tâm hợp đạo".
Sư Thiều tìm thấy một nền chùa cũ bèn phát công đức, tìm cách tu dựng
lại, không hiểu sao gọi là "Bạch xỉ tự" (Chùa trắng răng). Sư Thiều hay đọc
thơ, có câu:
"Cô luân độc chiếu giang sơn tịnh
Tự tiếu nhất thinh thiên địa kinh".
Nghĩa là:
"Một vầng riêng chiếu non sông lặng
Chợt cười một tiếng đất trời kinh".
Lại có câu:
"Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm

Bất thị thi nhân mạc hiến thi"
Nghĩa là:
"Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải nhà thơ chớ hiến thơ".
Sư Thiều bảo: "Phật dạy con người tu một cách thực tế, tìm lại bản lai
diện mục của mình. Phật quá thực tế nên không phải ai cũng hiểu".
°
Tôi và Quyên về nhà. Dì Lưu nước mắt lã chã gọi: "Cháu! Cháu ơi!"
Quyên ngồi bên giường bảo: "Bố mẹ cháu nhớ ngày giỗ ông nhưng bận
không về được, bảo gửi cho cô chú ít tiền". Dì Lưu bảo: "Cô chú không cần
tiền, chỉ cần tình cảm". Quyên lấy ở túi ra năm triệu đồng đưa cho dì Lưu.
Quyên bảo: "Chị cho Mị cái áo". Cái Mị cười bẽn lẽn bảo: "Em cám ơn chị".
Tôi bảo dì Lưu: "Cháu về đây". Tôi nhét trả dì Lưu hai nghìn đồng xuống gối
rồi về.
ở nhà đang tuốt lúa. Chị Ngữ hỏi: "Con bé Quyên có xinh không?" Tôi
bảo: "Xinh!"
ăn cơm xong thì tối mịt. Trời đổ mưa rào. Sấm sét nổ vang trời. Cả nhà tôi
lục đục chuyển thóc ra khỏi chỗ dột. Xong mọi việc thì đồng hồ đã 11 giờ
khuya. Trời vẫn mưa. Tôi bỗng thấy bồn chồn lòng dạ, không ngồi yên được.
Tôi bảo mẹ tôi: "Con muốn ra đồng bắt ếch. Mưa này có nhiều ếch". Mẹ tôi
bảo: " Con không sợ sấm sét ư con?" Tôi cười.
Mẹ tôi chẳng hiểu nụ cười của tôi đâu. Tôi cười như một tên thổ phỉ, cười
như một gã nặc nô, cười như một tên quỷ sứ cười móng chân tay mình sao lại
đen dài như thế.

BàI HáT PHụ ĐóNG BắT ếCH
Hồn ếch ta đã về đây
Phải nằm khô cạn, ta nay lên bờ
ở bờ những hốc cùng hang
Chăn chiếu chẳng có trăm đường xót xa
Lạy trời cho đến tháng ba
Được trận mưu lớn ta ra ngồi ngoài
Ngồi ngoài rộng rãi thảnh thơi
Phòng khi mưa nắng ngồi ngoài kiếm ăn
Trước kia ta vẫn tu thân.
Ta tu chẳng được thì thân ta hèn
Ta gặp thằng bé đen đen
Nó đứng nó nhìn nó chẳng nói chi
Ta gặp thằng bé đen sì.
Tay thì cái giỏ tay thì cần câu
Nó có chiếc nón đội đầu
Khăn vuông chít tóc ra màu xinh thay
Nó có cái quạt cầm tay

Nó có ống nứa bỏ đầy ngoé con
Nó có chiếc cán thon thon
Nó có sợi chỉ son son dài dài
ếch tôi mới ngồi bờ khoai
Nó giật một cái đã sai quai hàm
Mẹ ơi lấy thuốc cho con
Lấy những lá ớt cùng là xương sông
ếch tôi ở tận hang cùng
Bên bờ rau muống phía trong bè dừa
Thằng Măng là con chú Tre
Nó bắt tôi về làm tội lột da
Thằng Hành cho chí thằng Hoa
Mắm muối cho vào cay hỡi đắng cay
Bụt ơi bụt hiện xuống đây
Lượm oan hồn ếch đón bay về trời
Trăm năm lẫn lộn khóc cười
Kiếp ếch kiếp người cay hỡi đắng cay...
Đồng vắng lặng. Tiếng ếch ộp oạp. Tiếng ễnh ương rất vang, rất to. Tiếng

côn trùng rỉ rắc.
Mưa
Mưa miên man.
Tôi cầm đèn pin, chân xéo bừa lên các chân rạ ẩm ướt. ếch có nhiều, đờ
đẫn dưới ánh đèn, chỉ cần bắt cho vào rọ. Sấm sét nổ vang trời. Chớp lóe
sáng. Vũ trụ mở ra vô cùng vô tận. Gió ào ào, nghe như có muôn vàn cánh
chim bay đang vỗ trên đầu. Một cảm giác kinh dị xâm chiếm toàn thân khiến
tôi bủn rủn. Tôi rõ ràng thấy có một bóng hình vĩ đại đang lướt nhanh qua,
đang chuyển vận mãnh liệt trên đầu. Tôi nằm áp xuống bờ rạ, tâm trạng bàng
hoàng, thổn thức. Tôi tin chắc ở lực lượng siêu việt bên trên tôi kia, đang
chuyển vận rầm rộ kia, thấu hiểu tất cả, phân minh lắm, rạch ròi, chắc chắn
bảo dưỡng tính thiện trong tâm linh con người, có khả năng an ủi, âu yếm đến
từng số phận. Điều ấy khiến tôi an lòng.
Tôi đã đúng
Tôi an lòng bởi sự lựu chọn hình thức
biểu đạt này
Hình thức khó khăn, tầm thường,
vô nghĩa, phù phiếm
Để sáng danh giá trị thiện tri thức
Trên cánh đồng hoang này
Cánh đồng hoang của mê muội và cái ác
nhởn nhơ

Ai đấy?
Ai cất lên tiếng sáo nỉ non trong đêm
Và những anh linh nào, nhũ ng hồn ma
nào quờ quạng
Tiếng thở nào rất khẽ
Nụ cười nào rất khẽ
Cất lên ghê rợn từ hàm răng trắng
Những tiếng thì thầm nào
Những lời rên rỉ côn trùng, không nghĩa lý gì
Chỉ riêng tiếng sáo mục đong nhỏ nhoi,
Đi hoang trên cánh đồng lòng
Đi hoang trên cánh đồng người
Kẻ tha nhân nào sống sót
Gã tri âm nào lắng nghe
Cội rễ nào gọi về
Rung tiếng tơ đồng
Đêm vô minh này còn ai thức chong
Ai rảo bảo phiêu du trên đông

Trong cõi trần ai mênh mông
Mưa ngớt dần. Tôi đi qua khoảnh ruộng này, khoảnh ruộng khác. Bọn ếch
củng biến đâu mất. Thỉnh thoảng chỉ thấy một con nhái bén phóng vèo theo
rạch nước. Thấp thoáng chân trời phía vòng cung Đông Sơn ánh lửa le lói.
Tôi cảm giác thấy mình lạc hướng. Tôi không biết bây giờ là mấy giờ nhưng
bỗng nhiên nghe thấy tiếng gà kêu. Tiếng gà kêu khắc khoải, chẳng trình tự
gì, khi đổ hồi khi tiếng một. Tôi đi lúc lâu chẳng thấy có con ếch nào, bỗng
nhiên nhận ra mình đã lạc đến tận rạch sông Cấm lúc nào chẳng biết. Trên
trời, đơn độc một vì sao Mai.
Mãi đến tận mờ sáng tôi mới lần về đến rìa làng. Không khí rất sạch. Làng
quê quen thuộc, yên tĩnh. Sau mưa, quang cảnh hiện lên vừa đỏm dáng, vừa
tinh khiết.
Qua nhà thím Nhung, tôi dừng lại. Ngôi nhà nhỏ nép ven đường. Phiên
liếp hé mở. Một bóng người vội vã lách ra. Người ấy trông trước trông sau
rồi vụt chạy nhanh khuất sau bụi duối. Trộm chăng? Tôi định kêu lên thì
nhận ra chú Phụng. Một lát, thím Nhung mở cửa bước ra, vẻ bình thản, mặc
bộ đồ váy ngủ phong phanh. Thím Nhung hơn ba mươi tuổi, người cân đối,
xinh đẹp.
Tôi xách giỏ ếch đi sau chú Phụng. Đến chỗ rẽ, chú Phụng ngoái lại thấy
tôi. Chú Phụng hỏi: "ếch có nhiều không?" Tôi không trả lời. Chú Phụng
thoáng giật mình. Chú căn vặn: Mày sao thế? Tôi bỗng thấv buồn da diết. Tôi
buồn cho thím Nhung, buồn cho chú Phụng, cho ông giáo Quỳ.
Tôi buồn cho tôi.
Chú Phụng bỏ đi, vẻ bất cần. Tôi về nhà. Hóa ra cũng chỉ có khoảng hai
chục con ếch. Chị Ngữ bảo: " Chẳng bõ. Thế mà cũng đi suốt đêm". Mẹ tôi
cười: "Chắc cu cậu vừa bắt ếch, vừa ngủ gật". Cái Minh sửa soạn đến trường

để sinh hoạt hè. Nó mặc quần phăng xanh, áo trắng, đây là bộ diện nhất mà
nó chỉ mặc trong dịp hè. Cái Minh ghé tai tôi bảo: " Em biết anh đi đâu rồi,
nhưng em không nói. Không phải anh đi bắt ếch. Cái Minh cười. Tôi nhìn
vào mắt nó. Nó biết. Tôi đâu ngờ rằng chỉ vài giờ sau tôi đã phải khóc nó. Nó
biết, đơn giản vì gần như nó đã trải qua, thấu suốt. Đến lúc ấy, lúc nó chết,
chỉ còn hơn bốn giờ nữa để nó đùa cợt và ngộ cho xong hết thảy mọi điều.
Mẹ tôi bảo: "Con mang mấy con ếch sang cho nhà bác giáo Quỳ nhắm rượu.
Tôi bảo: Vâng.
Nói xong đi tắm.
Mẹ tôi và chị Ngữ ra đồng dỡ lạc. Đấy cũng là công việc của tôi buổi
sáng. Tôi xách xâu ếch qua nhà ông giáo Quỳ. Qua nhà dì Lưu thấy Quyên
gọi: "Anh gì ơi!. Tôi bảo. "Tôi là Nhâm. Cái Mị đâu rồi? Quyên bảo: Mị đến
trường. Anh đi đâu cho tôi đi với.
Chúng tôi đến nhà ông giáo Quỳ.

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ
Nguyễn Huy Thiệp
www.dtv-ebook.com
Chuyện Ông Giáo Quỳ:
Ông giáo Quỳ dạy cấp một, tính thương người, hay đọc sách từ nhỏ. Lớn
lên, cha mẹ đi hỏi vợ cho, ông giáo Quỳ bảo: Cô đừng lấy tôi rồi khổ một
đời. Người kia bảo: Khổ cũng lấy. ông giáo Quỳ bảo: Lời tôi thì đừng sợ
nghèo là một, đừng sợ nhục là hai, đừng ghen tuông là ba, phải trọng liêm sỉ
là bốn. Người kia bảo: Biết trọng liêm sỉ thì ba việc trước là thường. Hai vợ
chồng lấy nhau ăn ở tâm đắc. ông giáo Quỳ về sau bị đuổi việc vì dạy trẻ con
không chịu dạy theo sách giáo khoa, cứ tục ngữ ca dao mà dạy. Một lần đi
chấm thi ở Hải Phòng, thấy cô gái giang hồ đang bụng mang dạ chửa không
có nơi sinh nở thì đưa về làm vợ hai, vợ cả cũng chẳng nói gì, còn cấp tiền
cho để làm nhà riêng. Biết vợ hai phong tình, vẫn hay đi lại với nhiều người,
ông giáo Quỳ cũng mặc, chỉ bảo: Cô ngủ với ai thì nhớ đòi tiền, không có
tiền thì lấy thóc hay lấy lợn vịt thế vào chử đừng ngủ không. Cả làng cười,
ông giáo Quỳ cũng mặc. ông giáo Quỳ hay uống rượu, rượu vào thơ ra, có
nhiều bài nghe cũng được. Ông giáo Quỳ ở nhà một mình, nằm võng đọc
sách. Tôi và Quyên chào. ông giáo Quỳ vội nhỏm dậy pha nước. Chúng tôi
ngồi ở chõng tre dưới dàn thiên lý. ông giáo hỏi Quyên: Cô học đại học bên
Mỹ thì lợi cho ai? Quyên bảo: Lợi cho cháu, cho gia đình, cho đất nước". ông
giáo Quỳ cười: "Đừng nghĩ đến lợi, nghĩ đến lợi nhọc mình.
Chúng tôi ngồi ăn khoai sọ chấm muối vừng. Ông giáo Quỳ cầm quyển
sách nhét xuống chiếu. Quyên bảo: Bác làm thế nát mất sách rồi còn gì. Ông
giáo Quý cười: Nát thì thôi. Đọc sách để có tri thức. Có tri thức để sống đời
mình có nghĩa. Nắng lọc qua dàn hoa rải những vệt nắng trên đất. Cả ông
giáo Quỳ, cả Quyên, cả tôi đều cùng im lặng. Tôi muốn ra đồng. Quyên bảo:

Tôi về lần này rất muốn có một ấn tượng đúng về đồng quê. Anh đi đâu cho
tôi đi với". Tôi lưỡng lự. Ông giáo Quỳ cười: Cô ấy là đàn bà, sao lại chối từ
đàn bà được?
Chúng tôi chào ông Quỳ rồi ra đồng. Quyên bảo: "Cánh đồng rộng
quá...Anh có biết cánh đồng bắt đầu từ đâu không?
Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu
trong lòng tôi
Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng
Đứng bên ni đồng mênh mông bát ngát
Đứng bên tê đồng bát ngát mênh mông.
Tôi làm sao quên được nơi mẹ smh tôi
Mẹ đã buộc cuống rốn tôi bằng sợi chỉ
Tắm gội cho tôi bằng nước ao đầm trước
Tôi biết khóc cững vô ích vì tất cả phải chờ đợi
Phải chờ đợi từ tháng giêng đên tháng chạp
Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà
Tôi đi qua rất nhiều bờ ngang bờ dọc lầm lạc
Đi qua rất nhiều gian khó, thô tục
Tôi phải gieo trồng, gặt hái trên

cánh đồng này
Phải thuộc tên nhiều loài sâu bọ
Còn cánh đồng thì khi mu a, khi năng.
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu
Rồi ngày kia.
(Cái ngày xung tháng hạn)
Có một người đàn bà đến làm cho tôi đau
Nàng dạy tôi thói bạc tình
Bằng cách phản bội tôi như có thể
phản bội một ngươi thường
Tôi lẳng lặng chôn nỗi căm ghé cánh đồng.
Trong mạch đất hiểm có hình lưỡi kiếm
Những bông hoa mơ ước héo trên tay
Công việc trở nên nặng nề hơn trước
Tôi bán những sản vật làm ra
với giá rẻ như bèo
Đã có những mùa thu hoạch lớn
Tôi cũng đã phá sản đôi lần

Khi chiều xuống, hoàng hôn tĩnh lặng
Tôi không kịp xem những vết sẹo trên người
Chỉ biết rằng tôi đã mang thương tích
Đêm
Những vì sao thắp nến trên bầu trời
Tôi đắp tấm vải liệm sực mùi
đồng nội lên người
Khi ấy, bạn ơi, bạn trẻ ơi
Bạn hiểu cho tôi
Tôi đã gắng làm cho cánh đồng phì nhiêu
Tôi dẫn Quyên đi qua cánh đồng màu. Quyên hỏi. Giá nông phẩm quê anh
năm nay tăng giảm thế nào? Tôi bảo: Tăng 0,4%. Quyên bảo: Chết thật! Thế
mà hàng công nghiệp tăng 2,2%. Thế giá phân bón thế nào?. Tôi bảo: Đạm
tăng l,6%, lân tăng l,4% . Quyên hỏi: Quê anh có dùng điện không? Tôi bảo:
Không. Quyên bảo: "Giá điện tăng 2,2%.
Khoảng 10 giờ sáng là khoảng thời gian đông người trên đồng, có nhiều
phụ nữ, trẻ em. Họ là những nguồn lao động chính. Đàn ông quê tôi phiêu
lưu, lại nhiều ảo tưởng, họ ôm ấp ước mơ làm giầu nên hay bỏ ra ngoài thành
phố tìm việc, đi buôn bán. Cũng có người lăn lộn vào tận mlen trong đào
vàng, đào hồng ngọc. Khi về, tính tình họ đổi khác, họ trở nên những con thú
dữ độc. Chú Phụng là người như vậy.

THƯƠNG NHỚ ĐỒNG QUÊ
Nguyễn Huy Thiệp
www.dtv-ebook.com
Chuyện Chú Phụng:
Nguyễn Viết Phụng nhà nghèo, học hết cấp hai thì thôi học. Phụng làm
nhiều nghề: thợ cày, thợ xây, thợ mộc, đánh xe bò...Năm 20 tuổi Phụng đi bộ
đội. Ba năm sau về làng lấy vợ. Vợ hơn Phụng bốn tuổi, đẻ liền ba năm bốn
đứa con gái (lần thứ ba sinh đôi). Phụng qưyết chí làm giàu, bán đồ đạc ở nhà
lấy hai đồng cân vàng dắt lưng vào miền trong đào vàng. Bặt đi hơn nàm
chẳng có tin tức gì, một hôm lù lù lrở về, người ngợm gay như xác ve, mặt
phù như cái lệnh. Phụng năm liệt giường, vợ tần tảo thuốc thang nửa năm
trời, nhà nghèo lại nghèo thêm. Sau trận ốm, Phụng tính nết đổi khác, có lần
chém người bị thương dân làng ai cũng sợ. Cũng có khi Phụng bỗng khóc hu
hu, cứ chắp tay lạy vợ lạy con. Về sau may bố mẹ vợ chuyển ra thành phố với
người con trai ở nước ngoài về, cho không ngôi nhà với ba sào vườn nên đời
thay đổi. Vợ Phụng là người tháo vát, chăn nuôi giỏi, lại có nghề làm đậu
phụ. Bốn đứa con gái đứa nào cũng chịu khó giúp mẹ. Phụng ở nhà, dọn cho
mình một mình một buồng, cấm vợ con vào. Thỉnh thoảng, Phụng vẫn đi lại
với thím Nhung và mấy bà góa nạ dòng. Vợ con Phụng hỏi: "Sao anh cử xa
lánh chúng tôi". Phụng bảo: "Báu gì mà ở gần tao. Thịt của tao rất độc. Cắn
vào tao là cắn phải bả chó. Tao thương mẹ con mày, muốn mẹ con mày trong
sạch đấy thôi". Tôi và Quyên đi qua đấu đất giữa đồng. ở dưới đấu đất, những
bụi thầu dầu, rau dền gai mọc đầy. Có cả những cây ngô đồng hoa đỏ lá xanh.
Quyên hỏi: "Sao gọi là đấu đất?" Tôi bảo: "Ngày xưa, vua Ba Vành đào nơi
này để đong quân, như ta đong thóc". Quyên hỏi: "Khoảng bao nhiêu người?"
Tôi bảo: "Hai mươi người một ngũ, hai trăm người một cơ". Tôi và Quyên
đến khoảnh ruộng mẹ tôi và chị Ngữ đang dỡ lạc. Nước xăm xắp luống, nhấc
cây lạc lên là bật gốc. Quyên xắn quần, cũng lội xuống bứt lạc. Quyên bảo:

"Nhàn thật". Mẹ tôi bảo: "Cô ơi đấy là cô mới chỉ cưỡi ngựa xem hoa đấy
thôi. Cô thử tính xem từ khi hạt lạc gieo xuống luống này, đến khi kết hạt mẹ
con tôi vất vả lấm láp thế nào! " Chị Ngữ ví von: "Ai ơi bưng bát cơm đầy.
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần ".
Tôi đạp phải ổ dế. Lấy cuốc bới ra, hàng nghìn con dế đất béo núc ních bò
nhung nhúc. Mẹ tôi, chị Ngữ bỏ dỡ lạc bắt dế. Mẹ tôi xuýt xoa: "Ôi chao,
phúc đức đầy nhà rồi các con ơi! " Chị Ngữ mừng: "Cả nhà tôi rồi giàu nhất
làng!" Khoảng gần trưa, thấy ở đường Năm có đám đông kêu la khóc lóc
đang chạy. Mẹ tôi tự dưng ngã chúi xuống ruộng, thất thanh gọi tôi: "Nhâm
ơi Nhâm". Tôi và chị Ngữ sợ hãi, tưởng mẹ tôi trúng gió. Mẹ tôi mặt tái đi,
tay giơ tới trước mặt như sờ nắn ai. Mẹ tôi gọi: "Nhâm ơi Nhâm. Sao em
Minh con máu me đầy người thế này?" Chị Ngữ lay mẹ tôi: "U ơi u, sao u nói
gở thế?"
Có mấy người từ đám đông trên đường Năm bỗng chạy tách ra, băng qua
đồng. Có ai gào to thảm thiết: "Bà Hùng ơi (Hùng là tên bố tôi), mau ra mà
nhận xác con đây này". Anh Ngọc tóc dựng ngược, cái anh nhà thơ mà tôi đã
gặp ở ga chiều qua, chạy ở phía trước. Anh nói không ra hơi, tôi nghe loáng
thoáng, chỉ biết rằng cái Minh em tôi và cái Mị con dì Lưu đèo nhau đi học
về, qua ngã ba thì bị chiếc ô tô chở cột điện cán chết. Mẹ tôi lăn lộn giữa
ruộng lạc đang dỡ nham nhở. Nhùng con dế đất bay quanh, bay một quãng lại
bò, lại rúc đầu xuống bùn. Chị Ngừ đứng lặng, mắt ngơ ngẩn thất thần nhìn
về dãy núi xa phía vòng cung Đông Sơn, tựa như không hiểu sao bỗng dưng
trời cao phũ phàng đến thế?
Anh Ngọc, tôi và Quyên chạy ra đường. Nước mắt tôi giàn giụa. Cái Minh
mới 13 tuổi. Cài Mị mới 13 tuổi. Tôi còn chưa kịp làm cho cái Mị cái lồng
lấy ổi. Còn cái Minh em tôi, con bé rất thảo, nó suốt đời mặc quần áo vá, nó
bao giờ cũng dành cho tôi những quà ngon nhất. Chiếc xe tải chở ba cây cột
điện đổ nghiêng ở bên vệ đường. Người ra dùng kích để nâng bánh xe, tìm

cách kéo xác cái Minh và cái Mị ra. Cái Minh nằm nghiêng, cái Mị nằm sấp,
đè lên nhau.
Chiếc xe đạp rúm ró bên cạnh.
Tôi đưa tay lên miệng để bịt âm thanh thổn thức trong cổ cứ thế bật ra.
Tôi thương các em tôi quá. Rất đông những con ruồi bu quanh hai lỗ mũi cái
Minh, cái Mị. Anh Ngọc nhà thơ không biết lấy ở đâu ra nắm hương đốt huơ
huơ trước mặt hai đứa, khói hương quẩn lại một chỗ không bay lên được. Tôi
sẽ không kể gì về cái chết của cái Minh, cái Mị nữa. Chiều hôm ấy phải làm
đám ma cho hai em tôi. Cũng giống như mọi đám ma ở làng, ở đây có rất
nhiều nước mắt, nhiều lời than vãn. Tôi và một thanh niên trong làng cáng dì
Lưu ra tận ngoài đồng rồi lại cáng về. Quyên cũng đi theo. Anh Ngọc có làm
bài thơ về sự việc này. Tôi không hiểu sao anh làm thơ được ở trong hoàn
cảnh nhẫn tâm như thế.
BàI THơ "ĐáM MA TRINH Nữ TRêN ĐồNG
CủA NHà THơ Bùi VăN NGọC
Tôi đi đưa đám ma trinh nữ trên đồng
Cái chết trắng, cái chết trắng xóa
Những con bướm trắng, những bông hoa ttrắng
Nhũng tâm hồn trắng, những cuộc đời trắng.
ơi hời, tôi đưa đám ma trinh nữ trên đồng
Tôi đào huyệt, dài một mét tám, ngang
bảy mươi phân

Tôi đào huyệt, sâu một mét rưỡi
ơi hời, tôi chôn vào đây tinh thần sơ nguyên
ơi hời, này là vật hiến tế cho đất đai
Trinh nữ vẹn tuyền, cái chết trắng xoá
Những con bướm trắng, những
bông hoa trắng.
Những tâm hồn trắng, những cuộc đời trắng
ơi hời, tôi lót vào ngực bài thơ trắng tinh
Bẻ một cành xanh mà che mắt nhìn
Gió phơ phất, hồn bay phơ phất
Hồn bay lên, trên cánh đồng người
Tôi đi đưa đám ma trinh nữ trên đồng
Trong ngày như thế, trong một ngày dưng
Trong ngày như thế, trong một ngày thường.
ơi hời, lôi đi lẫn trong đám đông, trong số đông trong lòng người, trong
nỗi đau thương, trong thê lương, trên quê hương...
Chiều hôm sau tôi đưa Quyên ra ga. Dì Lưu nói mãi nhưng Quyên cứ
nằng nặc đòi về. Chúng tôi đi theo con đường đất men bên rìa làng qua đầm
sen rồi dọc bờ mương ngược về huyện lỵ. Qua đầm sen chúng tôi ngồi nghỉ.
Quyên bảo: Tôi ở đây ba ngày mà sao dài quá. Ga chiều huyện lẻ vắng vẻ.

Vẫn chỉ có khoảng hơn chục người đứng ở sân ga đợi tàu. Vẳng lại tiếng cát
xét nhà nào đang mở. Tàu vào ga. Hành khách lần lượt lên tàu. Mấy thầy cô
giáo cấp ba trường huyện. Bộ đội. Mấy người buôn chuyến. Một thanh niên
đeo kính trắng, tay xách va li. Hai cặp vợ chồng già. Quyên.
Quyên bảo: Anh gì ơi! Tôi đi nhé! Cám ơn anh đã đi tiễn tôi.
Tôi đứng ở sân ga rất lâu. Tàu đi khuất. Tôi linh cảm thấy không bao giờ
còn gặp Quyên nữa. Tôi qua cửa soát vé về làng. Nhìn phía trước chỉ thấy
một vệt xanh nhô trên đồng vàng, xa mờ là vòng cung Đông Sơn. ở đấy tôi có
rất nhiều thương nhớ.
Ngày mai trời nắng hay mưa? Thực ra bây giờ với tôi trời nắng hay mưa
thảy đều vô nghĩa. Tôi là Nhâm. Ngày mai tôi mưòi bảy tuổi rồi. Có phải đấy
là tuổi đẹp nhất đời người ta không?
 
Gửi ý kiến