Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Bài 44. Thực hành: Tìm hiểu địa phương

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: THCS XUÂN TÂN (LONG KHÁNH-ĐỒNG NAI)
Người gửi: Lê Thị Thu Hà
Ngày gửi: 12h:18' 21-07-2022
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích: 0 người
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
TRƯỜNG THCS XUÂN TÂN

HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO STEM

MÔN: ĐỊA LÝ 8

Chủ đề: TÌM HIỂU CÁC DI TÍCH (Cấp Quốc gia) TỈNH ĐỒNG NAI








Tập thể lớp: 82
Giáo viên hướng dẫn: Trần Thị Mỹ Linh
Năm học: 2020 – 2021

Lời nói đầu
T ỉnh Đồng Nai – một vùng đất trù phú với rất nhiều trái cây, khí hậu ôn hoà và mát mẻ. Không những thế nó còn là rất nhiều điểm vui chơi hấp dẫn dành cho các bạn trẻ mà còn có những di tích nổi tiếng. Tính đến năm 2016, Đồng Nai có tất cả 31 di tích được công nhận là di tích Cấp Quốc gia , là nơi bảo tồn, giữ gìn và tôn vinh các giá trị văn hoá – giáo dục – lịch sử của vùng đất Đồng Nai. Vậy thì ngay bây giờ, chúng ta hãy cùng tìm hiểu những thông tin bổ ích về: vị trí địa lý, loại di tích, lịch sử hình thành, cấu tạo và ngày được công nhận của 31 di tích nổi tiếng này nhé!
Nội dung
1/ Mộ cự thạch Hàng Gòn
- Vị trí: Mộ cự thạch Hàng Gòn (còn gọi là Mả Ông Đá, Di chỉ Hàng Gòn 7, Mộ Đông Dương) thuộc xã Hàng Gòn, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
- Loại di tích: Di tích lịch sử Khảo cổ học đặc biệt
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Năm 1927, khi mở tuyến đường giao thông từ Long Khánh đi Bà Rịa (nay là Quốc lộ 56), kỹ sư người Pháp Jean Bouchot đã phát hiện một cục đá nhô lên ở gốc cây cổ thụ nằm trong địa phận đồn điền cao su thuộc xã Hàng Gòn. Sau đó, được sự đồng ý của Trường Viễn Đông Bác cổ, ông Jean Bouchot chủ trì việc khai quật di chỉ vào mùa mưa năm 1927 với hy vọng đào được vàng và kho báu. Kết quả khai quật đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và người dân. Niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 năm trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên, đại diện cho nền văn minh sông Đồng Nai.
+ Cấu tạo: Hầm mộ có hình chữ nhật dài 4,2 m, ngang 2,7 m, cao 1,6 m được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương được bào khá nhẵn ở mặt ngoài. Trong đó, 4 tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, 2 tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy. Các phiến đá ghép với nhau theo hệ thống rãnh đục làm nắp và phiến đá làm đáy, phần lớn các đầu trụ được khoét lõm hình yên ngựa.
Năm 2011, di tích được tu bổ, tôn tạo với tổng mặt bằng là 37.120 m², với các hạng mục: Khu hầm mộ, khu chế tác, miếu Ông Đá, miếu Thổ thần, các công trình phụ trợ (cổng, hàng rào, sân đường nội bộ, nhà trực ban - bán vé, nhà bao che, nhà đón tiếp - trưng bày, nhà điều hành).
- Ngày công nhận: Mộ cự thạch Hàng Gòn được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích khảo cổ học cấp quốc gia vào ngày 24 tháng 12 năm 1982. Ngày 23 tháng 12 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng di tích khảo cổ này là di tích quốc gia đặc biệt.

Ảnh Mộ cự thạch Hàng Gòn || nguồn: baodongnai.com.vn


Ảnh chích diện của Mộ cự thạch Hàng Gòn || nguồn:ttxtdldongnai.vn


2/ Nhà Xanh
- Vị trí: Nhà Xanh nằm trên đường Nguyễn Văn Hoa, huyện Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Di tích Nhà Xanh nằm trong khuôn viên Trường Công nhân kỹ thuật Đồng Nai.
- Loại di tích: Di tích lịch sử
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: được xây dựng vào năm 1907. Khi mới xây dựng, nó được làm Văn phòng của Công ti kĩ nghệ và lâm nghiệp Biên Hoà. Năm 1958, chính quyền Sài Gòn lấy làm biệt thự làm cư xá cho Phái đoàn cô vấn quân sự Mĩ ở Biên Hoà
+ Cấu tạo: Nhà Xanh được xây dựng theo lối kiến trúc Pháp bằng vật liệu hiện đại gồm: một tầng trệt, tầng lầu với hệ thống phòng làm việc, phòng ăn, phòng nghỉ và phòng tiếp khách khang trang; dùng làm Văn phòng của Công ti kĩ nghệ và lâm nghiệp Biên Hoà.
- Ngày công nhận: Được xếp hạng Cấp Quốc gia theo QĐ của Bộ Văn hoá vào ngày 12 tháng 12 năm 1986


Ảnh Nhà Xanh || nguồn: dongnai.gov.vn

3/ Đài Chiến sỹ (Đài kỷ niệm)
- Vị trí: Đài Chiến sĩ nằm ở vị trí trung tâm cá con đường lớn ở nội ô thuộc phường Trung Dũng, TP. Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai
- Loại di tích: Di tích lịch sử
-Tóm tắt
+ Lịch sử hình thành: Công trình được xây dựng vào năm 1923 với tên gọi là “Đài kỉ niệm người Việt trân vong”. Đây là công trình do vợ chồng giáo sư Robert Balick và đội ngũ giáo viên, học sinh Trường bá nghệ Biên Hoà thi công. Đây được xem là đài chiến sĩ nhằm ghi nhớ những người đã bỏ mạng vì nước Pháp , những người đã bị bắt lính và chiến đấu trên mặt trận xa quê hương mà thực dân Pháp chủ mưu
+ Cấu tạo: Những trụ đá được chạm khắc với đường nét tinh tế, những mảng hoa văn gốm được thực hiện công phu với màu sắc hài hoà. Mỗi đỉnh trụ đều cẩn búp sen bằng sành với ý nghĩa mong người đã khuất được siêu thăng cõi Phật. Giữa hai búp sen là hình mặt trời, dưới có ba chữ Hán “Chiến sĩ đài”. Tấm bia đặt trong đài khắc bốn chữ Hán sắc sảo “Vị quốc vong khu” để tưởng nhớ người bản xứ bỏ mình vì “Mẫu quốc đại Pháp”.
Cuối năm 1992, di tích Đài kỷ niệm được trùng tu, với một khuôn viên khang trang đẹp đẽ, những thảm cỏ xanh, đài phun nước, vườn hoa nhiều màu sắc hài hòa tôn tạo đài trở thành một công viên văn hóa tô điểm làm đẹp thành phố, thu hút đông đảo quần chúng đến vui chơi, giải trí. Đài kỷ niệm mãi mãi là một bằng chứng không thể chối cãi tố cáo tội ác của thực dân Pháp, nhắc nhở người dân xứ Biên Hòa một thời lịch sử đau thương dưới ách thống trị ngoại bang để vươn lên tự cường, xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
- Ngày công nhận: Đài Kỷ niệm đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 1288/VH-QĐ ngày 16/11/1988.


Ảnh Đài kỉ niệm || nguồn: dongnai.vncgarden.com

4/ Khu danh thắng Bửu Long
- Vị trí: nằm ở phường Bửu Long, cách trung tâm thành phố Biên Hoà 6km về hướng Tây Bắc, cách TP.HCM chỉ 30km về hướng Đông. Diện tích khoảng 84ha.
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Trước 1975, Bửu Long là một vùng núi đá hoang sơ và còn trong tình trạng khai thác đá. Năm 1980, UBND Tỉnh quyết định quy hoạch vùng núi đá Bửu Long thuộc 2 xã Bửu Long và Tân Thành với diện tích 84ha. Năm 1990, thành lập Khu du lịch Bửu Long. Năm 2000, được chọn làm điểm tổ chức lễ hội đón giao thừa chào thế kỉ mới từ 29/12/2001 đến 3/1/2001.
+ Cấu tạo:
*Khu trung tâm giải trí: : là nơi tổ chức các hoạt động trò chơi giải trí để phục vụ cho thanh thiếu nhi: xe điện đụng, phao đụng, nhà banh, thúc lắc…được bố trí trong một khu rừng tràm rợp bóng mát, đồng thời là nơi thường xuyên tổ chức các hoạt động hội trại lớn cho các đoàn thể, trường học, cơ quan, công nhân các xí nghiệp…
*Khu thú tiền : Đây là một khu vườn nhỏ rộng khoảng trên 2 ha với nhiều loại chim thú như: tu can, thiên nga, vẹt xanh, vẹt xám, vẹt cánh xanh, công xanh, công trắng, trỉ, tu hú đầu đen và xanh, cùng một số gà kiểng…trong đó, đặc biệt bộ sưu tập sinh vật thú tượng thời tiền sử được tái hiện: Khủng long khè lửa (cao khoảng 8m), lôi long, voi ma mút, tê giác 9 sừng, tắc kè lửa và núi lửa.
*Khu nhà hàng-Khách : Nhà hàng Du Long và Khu Nhà Hàng – Khách Sạn Bửu Long được xây dựng biệt lập trên đồi cao nhìn ra mặt hồ Long Ẩn với những phòng kiểu nhà rong biệt lập.
- Ngày công nhận : Năm 1990, thành lập Khu Du Lịch Bửu Long và được công nhận Khu danh thắng Bửu Long là khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 13/3/1990.

Ảnh khu danh thắng Bửu Long || nguồn: sanvemaybay.vn

5/ Chùa Đại Gíac
- Vị trí: Chùa tọa lạc ở số 393/A2, ấp Nhị Hòa, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong vùng đất cổ cù lao Phố.
- Loại di tích: Di tích lịch sử - văn hoá
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Nhà sư Thành Nhạc cùng một số phật tử đến vùng đất ven sông Đồng Nai (nay là xã Bửu Hòa, TP. Biên Hòa) dựng lên chùa Long Thiền (1664); nhà sư Thành Trí theo đoàn di dân làm nghề khai thác đá lên vùng núi Bửu Long cùng người Hoa ở đây dựng lên Chùa Bửu Phong (1679), nhà sư Thành Đẳng, cùng một số người chèo ghe, thuyền đến Cù lao Phố (nay là phường Hiệp Hòa, TP. Biên Hòa) khẩn hoang và dựng lên chùa Đại Giác (1665).
+ Cấu tạo: Chùa Đại Giác có diện tích khoảng 3.000 m2 với hai cổng xây bằng gạch ra vào, xung quanh có tường rào bao bọc. Sau nhiều lần trùng tu, hiện nay chùa cất theo lối chữ tam (三) với ba dãy nhà ngang nối liền nhau.
Mặt tiền chùa quay theo hướng Tây Bắc nhìn ra sông Đồng Nai. Giữa sân trước chùa là một cây bồ đề lớn, do Hòa thượng Đinh Tông trồng vào ngày rằm tháng 11 năm Kỷ Mão (1939) và pho tượng Phật Quan âm Nam Hải đứng trên tòa sen. Bên tả và phía sau là khu vườn rộng trồng cây trái, bên hữu là khu bảo tháp với nhiều mộ tháp của các vị trụ trì viên tịch.
Tuy bên ngoài, mái hiên chùa thấp và có lối kiến trúc hiện đại, nhưng bên trong chùa, vẫn còn theo kiểu mẫu của các chùa xưa ở vùng Đồng Nai, với các cột tròn và cao vút, tạo không gian thoáng đãng. Chùa gồm chánh điện, nhà khách, phòng chư tăng, trai đường và nhà bếp.
- Ngày công nhận: Chùa Đại Giác được công nhận là di tích lịch sử Cấp Quốc gia vào ngày 28/9/1990.

Ảnh Chùa Đaị Giác || nguồn: chuaviettoancau.com

6/ Đình Tân Lân
- Vị trí: Đình Tân Lân toạ lạc trên đường Nguyễn Văn Trị, thuộc phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Loại di tích: Di tích lịch sử - văn hoá
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Ngày 23 tháng 10 năm 1720, Trấn Biên Đô đốc tướng quân Trần Thượng Xuyên mất. Để ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá đất đai và mở mang thương mại vùng Đồng Nai - Gia Định, nhân dân trong vùng đã lập ngôi miếu nhỏ thờ ông trong khu vực thành cổ Biên Hòa.
Ngày 14 tháng 12 năm 1861, theo kế hoạch đánh chiếm Biên Hòa do tướng Bonard phê chuẩn, liên quân Pháp và Tây Ban Nha với khoảng một ngàn quân, hai hạm thuyền tiến đánh cả đường bộ và đường thủy. Sáng ngày 17, Pháp chiếm được tỉnh lỵ Biên Hoà, và kể từ đó ngôi miếu phải hai lần dời chuyển (năm 1861 và 1906), mới đến nơi hiện nay. Năm 1935, miếu được xây dựng mới kiên cố và đặt tên là Tân Lân thành cổ miếu (gọi tắt là Đình Tân Lân).
+ Cấu tạo: Đình Tân Lân toạ lạc nơi khuôn viên đất rộng khoảng 3.000m², trên một nền cao 60 cm bằng đá xanh, lát gạch bông (20cm X 20 cm), với lối kiến trúc mang đậm dấu ấn của văn hoá Trung Quốc. Mặt đình được kiến trúc theo kiểu chữ tam (三), lợp ngói âm dương, trên nóc chính điện có lưỡng long tranh châu, lý ngư hóa rồng. Trên hai đầu đao còn có tượng ông Nhật, bà Nguyệt, tiên đồng, ngọc nữ...
Đình gồm ba gian: tiền đình, chánh điện và hậu cung nối tiếp nhau. Hai bên tả hữu là miếu thờ Bà và thờ Ông.
- Ngày công nhận: Đình Tân Lân đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 tháng 3 năm 1991.

Ảnh Đình Tân Lân || nguồn: wikipedia.org

7/ Lăng mộ Trịnh Hoài Đức
- Vị trí: Lăng mộ Trịnh Hoài Đức hay còn gọi là Lăng Ông, toạ lạc tại số 28 đường Trịnh Hoài Đức, Khu phố 3, Phường Trung Dũng, Thành Phố Biên Hoà.
- Loại di tích: Di tích lịch sử
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Được xây dựng vào năm 1825
+ Cấu tạo:
*Mộ: một của Trịnh Hoài Đức và một là của chánh thất phu nhân, người họ Lê. Cấu trúc mộ giống nhau, hình voi phục, xung quanh có gờ hình móng ngựa, phía trước mỗi phần mộ đều có bia đá, khắc chữ Hhán; chung quanh trang trí bởi các đường hồi văn, biểu tượng âm dương, phía dưới đắp nổi dạng chân quỳ.
*Bia: Nội dung các bia ở 2 phần mộ nêu vắn tắt các danh, chức, phẩm, hàm mà Trịnh Hoài Đức được ban tặng cùng vợ của ông. Còn ghi rõ thời gian là tháng 11 năm Ất Dậu, con là Trịnh Thiên Lễ Nhiên, Trịnh Thiên Nhiên Bảo, Trịnh Thiên Bảo đồng lập bia
*Phía sau mộ có bức tường nhô cao, nối dạng thành hình bầu dục lượn sóng. Tên bức tường có khắc dòng chữ Hán tựa như bài thơ ca ngợi tài đức của ông nhưng lâu ngày đã bị mờ, không còn đọc được, 2 bên trang trí 2 đầu rồng. Hiện nay bức tường này được trang trí bằng hình long ẩn vân. Phia trước cửa vào mộ có tấm bình phong lớn, ghi khắc tiểu sử và sự nghiệp của ông. Trên những cột vuông nối các bờ vòng thành trước mộ khắc những câu đói chữ Hán, nội dung chủ yếu nói về sự uyên bác bình diện nghiên cứu của Trịnh Hoài Đức.

Ảnh Lăng mộ Trịnh Hoài Đức || nguồn: dongnai.tintuc.vn

8/ Mộ và Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh
- Vị trí: Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, còn được gọi là Đình Bình Kính thuộc địa phận xã Hiệp Hòa (Cù Lao Phố), Biên Hòa, Đồng Nai.
- Loại di tích: Di tích lịch sử
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Ngôi đình được xây dựng vào khoảng cuối thế kỳ XVIII, tức khoảng sau thời gian Nguyễn Hữu Cảnh mất (1700). Trước đây, di tích là một "miếu võ trang nghiêm" và được các triều vua Nguyễn quan tâm. Khi Gia Long lên ngôi đã cho trùng tu, cắt cử 10 phu trông coi, hằng năm đều xuất quỹ công tế lễ vào ngày giỗ. Đến năm 1851, triều Tự Đức cấp 100 quan tiền để di dời, sửa chữa vào năm 1923-1960 đều được tái thiết. Kiến trúc nội thất của di tích còn được bảo lưu với những hàng cột lớn và nhiều hoành phi đại tự. Đặc biệt, các bàn hương án, nghệ thuật chạm khắc với bao đề tài dân gian sinh động. Tại dinh còn lưu giữ bộ áo mão, tương truyền của đức ông thuở sinh thời.
+ Cấu tạo: Kiến trúc ban đầu của đền không còn lưu giữ được do sự hủy hoại của tự nhiên. Năm 1851, đền được xây lại và cách vị trí cũ khoảng 400 mét. Di tích trải qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc hiện tồn theo dạng chữ Đinh “J”. Từ ngoài vào theo lối chính có ba cửa. Hai bên cửa có khắc chìm hàng chữ Hán với nội dung nói về đền thờ Bình Kính, công lao của Nguyễn Hữu Cảnh với vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai.
Chánh điện hình vuông, tường gạch, nền lát gạch tàu, mái lợp ngói. Hàng cột hành lang mặt trước đắp trang trí hình ảnh những con rồng cuộn, đối chầu với nhau. Nội điện có ba hàng cột gỗ lớn treo những liễn đối và các hoành phi, bao lam gỗ được chạm trổ tinh tế các đề tài dân gian. Các hoành phi thể hiện dưới dạng đại tự chữ Hán, liễn đối được trang trí hoa văn sơn son thếp vàng.
Đối tượng thờ chính là Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh. Gian giữa chánh điện thờ thần, hai bên thờ tả ban, hữu ban liệt vị. Một góc bên bàn thờ có tủ kiếng giữ bộ áo mão tương truyền là của Đức Ông Nguyễn Hữu Cảnh thuở sinh thời. Điểm nổi bật trong nghệ thuật điêu khắc kiến trúc từ chất liệu gỗ là các bàn hương án trong chánh điện. Các hương án được chạm khắc nhiều đề tài như rồng chầu, linh thú, muông thú, hoa lá…rất tinh tế, sắc sảo làm tăng thêm tính chất nghệ thuật được bảo tồn của ngôi đình làng. Phía sau chánh điện là khu nhà khách, nhà bếp và nhà kho.
- Ngày công nhận: Di tích đình Bình Kính được xếp hạng cấp quốc gia theo quyết định số 457 – QĐ của Bộ Văn hóa Thông tin, Thể thao và Du lịch ngày 25 tháng 3 năm 1991.

Ảnh Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh || nguồn: bloganchoi.com

9/ Chùa Long Thiền
- Vị trí: Chùa Long Thiền tọa lạc ở số K2/3B ấp Tân Bình, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Loại di tích: di tích lịch sử
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Chùa Long Thiền được xây dựng vào năm 1664 và là một trong ba ngôi chùa có niên đại sớm nhất ờ Đồng Nai. Khởi đầu,chùa Long Thiền chỉ là ngôi chùa nhỏ: Cột gỗ, vách ván, mái lợp lá dừa nước, nền đất. Trải qua hàng thế kỷ với những thăng trầm thế sự, chịu sự tác động của thiên tai, chiến tranh, sự tàn phá của thời gian, chùa Long Thiền đã được trùng tu, sửa chữa lớn 3 lần.
+ Cấu tạo: trên nền diện tích chỉ gần 800m2, vật liệu xây dựng chủ yếu bằng gỗ quý, tường xây bằng gạch thẻ tô vôi, mái lợp ngói âm dương, thờ Tam thế Phật. Chùa Long Thiền có kiến trúc kiểu chữ tam (三) truyền thống. Chánh điện, nhà thờ Tổ, giảng đường, tăng đường, nhà trù tiếp nối nhau. Tùy theo chức năng của từng nơi trong chùa mà cách bài trí từng mảng hài hòa. Phần chánh điện uy nghiêm với hệ thống các ban thờ. Khoảng sân rộng của chùa có nhiều cây cổ thụ tỏa bóng mát. Những hàng cột chính trong chánh điện chạm khắc tinh tế đề tài hoa điểu, bát tiên, lý ngư hóa long, nhựt nguyệt, tứ linh, được sử dụng trang trí một cách tinh tế. Khuôn viên chùa là khu vườn rộng, còn lưu lại những bảo tháp cổ, trong đó có bảo tháp của tổ sư Thành Nhạc khai sáng với tấm bia bằng đá xanh chạm trỗ tinh vi.
- Ngày công nhận: Chùa được xếp hạng di tích cấp quốc gia vào ngày 14/6/1991.

Ảnh Chùa Long Thiền || nguồn: hanhtrinhtamlinh.com

10/ Nhà Hội Bình Trước
- Vị trí: Di tích tọa lạc trên đường 30/4, gần Quảng trường Sông Phố, thuộc phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa.
- Loại di tích: Di tích lịch sử
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Đây là công trình kiến trúc được xây dựng năm 1936 do viên chủ tỉnh Biên Hòa người Pháp Bolen chủ trương. Nơi đây được dùng làm chỗ hội họp của hương chức, hội tề địa phương thời bấy giờ. i tích này ghi dấu một sự kiện lịch sử quan trọng của cách mạng Biên Hòa. Nơi đây, vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, Hội nghị cán bộ tỉnh Biên Hòa quyết định thành lập Tỉnh ủy đầu tiên sau khi giành được chính quyền vào tháng Tám năm 1945. Đồng chí Hà Huy Giáp – đại diện Xứ ủy Nam Kỳ đã đến dự.
+ Cấu tạo: Kiến trúc của di tích khá độc đáo, được xây dựng bởi những nghệ nhân về nghề xây dựng, gốm của Biên Hòa. Trong tổng thể của di tích, nổi bật lên những mang trang trí về nghệ thuật gốm, điêu khắc gỗ. Những bức phù điêu gốm với đề tài truyền thống xã hội Việt Nam được thực hiện công phu, sắc sảo. Những mảng kiến trúc gỗ được thể hiện sự tinh tế, chúng vừa thể hiện hiệu quả tính công năng sử dụng vừa làm tăng vẻ đẹp kiến trúc bởi nghệ thuật điêu khắc trang trí.
- Ngày công nhận: Di tích Nhà hội Bình Trước được xếp hạng cấp quốc gia theo quyết định số 2307/QĐ của Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao ngày 30 tháng 12 năm 1991.

Ảnh Nhà Hội Bình Trước || nguồn: dongnai.vncgarden.com

11/ Quảng trường Sông Phố
- Vị trí: Quảng trường Sông Phố - Di tích thuộc phường Thanh Bình, thành phố Biên Hoà.
- Loại di tích: Di tích lịch sử
- Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Sau khi đánh chiếm và bình định Biên Hòa, vào đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng nhiều công sở trên vùng đất nầy để phục vụ cho chính quyền thuộc địa. Quảng trường Sông Phố được xây dựng cùng với kiến trúc của Toà Bố Biên Hòa, Dinh tỉnh trưởng tạo nên một khung cảnh hài hòa giữa lòng thành phố có qui mô vừa phải bên sông Đồng Nai thơ mộng. Ngày 27 tháng 8 năm 1945, nơi đây đã diễn ra cuộc mít tinh trọng thể chào mừng chính quyền cách mạng lâm thời đầu tiên của tỉnh Biên Hòa. Hàng ngàn người từ các địa phương của tỉnh Biên Hoà tập trung tại đây tham gia mít tinh. Trong không khí trào dâng của thắng lợi cách mạng, đồng chí Dương Bạch Mai – cán bộ Xứ ủy Nam kỳ đại diện mặt trận Việt Minh ở Nam Bộ diễn thuyết về đường lối cách mạng, của Đảng được quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt . Đồng chí Hoàng Minh Châu, trưởng ban khởi nghĩa, tuyên bố chính quyền về tay nhân dân và công bố Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Biên Hòa: Hoàng Minh Châu – Chủ tịch, Huỳnh Văn Hớn – phó chủ tịch kiêm trưởng ban tuyên truyền, Nguyễn Văn Long – phụ trách cảnh sát tỉnh, Ngô Hà Thành – phụ trách quốc gia tự vệ cuộc (công an tỉnh), Ông Nguyễn Văn Tàng – phụ trách Ban quản trị tài sản quốc gia.
+ Cấu tạo: Trước đây, tại khu vực giao lộ, một hồ nước được xây dựng kiên cố nhưng hài hòa trong cảnh quan chung của các tuyến giao thông. Trong hồ có bệ đài phun nước với giá đỡ là tác phẩm gốm của nghệ nhân Biên Hòa tạo tác. Những con cá trong thế rồng dựng dáng vờn nước trông đẹp mắt qua các tia nước được luân chuyển phun lên. Toàn cảnh với lối bố trí kiến trúc giữa giao lộ tạo thêm vẻ mỹ quan của khu vực Quảng trường bên cạnh các kiến trúc công sở, tôn giáo duyên dáng. Hiện nay, công trình bồn nước được tôn tạo với đài phun nước nhiều màu độc đáo.
- Ngày công nhận: Di tích Quảng trường Sông Phố được xếp hạng cấp quốc gia theo quyết định số 2307/QĐ của Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao ngày 30 tháng 12 năm 1991.

Ảnh Quảng trường Sông Phố || nguồn: ttxtdldongnai.vn


12/ Đền thờ Nguyễn Tri Phương
-Vị trí: Đền thờ Nguyễn Tri Phương tọa lạc bên hữu ngạn sông Đồng Nai, phường Bửu Hòa, TP. Biên Hòa.
-Loại di tích: Di tích lịch sử - văn hoá
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Trước đây, nơi này có ngôi miếu nhỏ tên là Mỹ Khánh đình được nhân dân địa phương dựng nên để thờ thần Thành hoàng bổn cảnh cầu cho mưa thuận gió hoà, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Nhưng đến khoảng đầu TK XIX (1803), sau khi danh tướng Nguyễn Tri Phương mất, nhân dân Biên Hòa đã tạc tượng, thờ ông tại đình. Từ đó, đình Mỹ Khánh đổi tên là đền thờ Nguyễn Tri Phương.
+ Cấu tạo: Đền thờ Nguyễn Tri Phương là cơ sở tín ngưỡng gắn bó với đời sống tinh thần của người dân Biên Hòa - Đồng Nai được xây dựng theo kiến trúc kiểu chữ Công (I). Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật truyền thống còn bảo lưu những nét tiêu biểu có tính chuẩn mực, kiểu thức của một ngôi đình làng Nam bộ với mái ngói âm dương, tường xây gạch thẻ tô vôi, cột kèo làm bằng gỗ quý. Nội thất bày trí trang nghiêm với các bàn hương án chạm lộng công phu; hoành phi, liễn đối cổ kính nội dung ca ngợi công lao của Thần Thành hoàng và danh tướng Nguyễn Tri Phương. Đặc biệt, trong đền thờ tượng Nguyễn Tri Phương làm bằng gỗ mít nài. Tương truyền rằng có một bô lão ở địa phương nằm mộng thấy ông hiện về áo bào lẫm liệt, vũ khí trong tay bèn chặt cây mít trước nhà tạc tượng như hình trong mộng. Ngoài ra, trên bàn hương án thờ Thần còn lưu giữ bộ áo mão vua ban cho Nguyễn Tri Phương khi đi kinh lược phương Nam. Trải qua những thăng trầm lịch sử, đền thờ Nguyễn Tri Phương đã nhiều lần được trùng tu, sửa chữa: năm 1804 xây thêm nhà khách; năm 1962 trùng tu Tiền điện, Chánh điện; năm 1970 sửa chữa nhà khách. Sau khi di tích được xếp hạng, năm 1996 và năm 2003, được sự hỗ trợ nguồn vốn của Trung ương và tỉnh, Bảo tàng Đồng Nai đã tiến hành trùng tu toàn bộ ngôi đền. Năm 2006, Ban Quý tế đền thờ Nguyễn Tri Phương đã phục dựng lại bức bình phong trước đền, làm hàng rào bảo vệ di tích, kinh phí lên tới hàng chục triệu đồng bằng nguồn xã hội hóa.
-Ngày công nhận: Di tích đã được Bộ Văn hóa - thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia (Quyết định số 1539-QĐ, ngày 27-12-1990).

Ảnh Đền thờ Nguyễn Tri Phương || nguồn: tinbds.com

13/ Nhà lao Tân Hiệp
-Vị trí: Nhà lao Tân Hiệp tọa lạc trên Quốc lộ 1, phường Tân Tiến, cách trung tâm thành phố Biên Hòa khoảng 1km về hướng tây.
-Loại di tích: Di tích lích sử - văn hoá
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Là một trong sáu nhà tù lớn nhất miền Nam Việt Nam và là nhà tù lớn nhất Đông Nam Bộ, được xây dựng ở vị trí quân sự quan trọng, án ngữ phía Đông Bắc Biên Hòa. Phía trước là quốc lộ 1; phía sau là đường xe lửa Bắc - Nam. Đây là vị trí biệt lập, thuận tiện trong giao thông , dễ dàng cho việc bảo vệ, canh gác, nhận tù từ nơi khác đến và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc. Nhà lao Tân Hiệp, trước kia vốn là bãi tha ma của những người tù nhân bạc số và tử bệnh nhà thương thí Biên Hòa. Xung quanh bãi tha ma là rừng cao su của nhà tư bản. Đến năm 1944, Nhật đảo chính Pháp và xây dựng trên bãi tha ma này 1 đồn cốt nhỏ để bảo vệ cây cầu bắc qua rạch Đồng Tràm và đoạn đường quốc lộ 1 đi ngang qua thị xã Biên Hòa. Năm 1945, Nhật đầu hàng đồng minh, quan Pháp đổ bộ vào nước ta và tỉnh Biên Hòa nói riêng cũng bị quan Pháp tái chiếm. Đến năm 1945, thực dân Pháp mở rộng và xây dựng lại đồn Tam Hiệp thành trại tù binh chiến tranh. Năm 1954, chính quyền Mỹ - Diệm đã xây dựng trên gần 4 mẫu đất Tây gồ ghề mồ mả này thành 1 nhà tù mới gọi là: "Trung tâm Huấn chính Biên Hòa".
+ Cấu tạo: Nhà lao Tân Hiệp tọa lạc trên khu đất trũng pha cát có diện tích 36.000m2, được bao bọc bởi hai lớp dây kẽm gai bùng nhùng và một hệ thống tháp canh (lô cốt) kiên cố. Các tháp canh số 1, 3, 5, 7 được trang bị súng trung liên, một loại vũ khí hiện đại lúc bấy giờ. Nhà lao có 7 trại giam được gọi theo chữ cái A, B, C, D, E, G và trại giam phụ nữ (trại ngoại). Trong đó, trại D, E, G và trại ngoại là nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng, đảng viên Cộng sản trung kiên và đồng bào yêu nước, các trại này được quản lý và đối xử chặt chẽ, hà khắc hơn các trại khác. Được mang tên "Trung tâm cải huấn" nhưng thực chất đây là phòng xét hỏi, tra tấn với những dụng cụ hiện đại bậc nhất thời bấy giờ. Mỗi trại giam có diện tích gần 200m2 nhưng giam giữ từ 300 - 400 người, có lúc lên đến cả ngàn người.
-Ngày công nhận: Nhà lao Tân Hiệp đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2754/QĐ-BT ngày 15/10/1994.


Ảnh Nhà lao Tân Hệp || nguồn: dongnai.vncgarden.com

14/ Mộ, đền thờ Đoà Văn Cự & 16 Nghĩa Binh Thiên Địa Hội
-Vị trí: Di tích Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự ở hai địa điểm: phần mộ thuộc phường Long Bình và đền thờ thuộc phường Tam Hiệp. Phần mộ thuộc khu phường Long Bình, bên phải quốc lộ I, cách vòng xoay Tam Hiệp chưa đầy 1 km, tính từ hướng vòng xoay đi Hố Nai. Nơi an táng Đòan Văn Cự, thủ lĩnh hội kín “Thiên Địa hội” ở Biên Hòa và 16 nghĩa binh tử vong trong trận tấn công của Pháp vào Bưng Kiệu năm 1905. Phần di tích đền thuộc, tọa lạc trên đường Phạm Văn Thuận, phường Tam Hiệp.
-Loại di tích: Di tích lịch sử - văn hoá
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Ngôi đền được xây cất từ năm 1956 làm chỗ tôn thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh. Nguyên thủy mộ chỉ là nấm mồ chôn cất đơn sơ. Vào năm 1956 và 1990 được nhân dân trùng tu lại theo lối xây cất mới.
+ Cấu tạo: Đền tọa lạc trên khu đất bằng phẳng, kiến trúc xây theo kiểu chữ tam , gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện. Nhà võ ca đối diện với đền thờ chính; bên trong có sân khấu nhỏ dùng để tổ chức hát bội trong những dịp tổ chức đại lễ. Chánh điện chia thành ba gian bởi những hàng cột gỗ sao, trên cột đều có liễn đối. Gian chính giữa thờ thần, bàn hương án bằng gỗ khắc chạm rồng chầu mặt trời, chim muông... được sơn son thếp vàng, hai bên là hàng bát bửu. Hai gian bên thờ tả hữu ban liệt vị. Dọc mặt tường tả hữu thờ Tiền Hiền, Bạch Mã, Tiên Sư, Thổ Công.
Mộ hình chữ nhật, dài 16,5m, rộng 2m. Phía sau là ngôi miếu nhỏ thờ hương hồn Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh, bài trí đơn giản. Bên cạnh mộ là dòng suối Linh, một con suối đẹp của khu rừng Bưng Kiệu xưa nhưng nay đã bị cạn dòng.
-Ngày công nhận: Di tích đình Mộ và đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh được xếp hạng cấp quốc gia theo quyết định số 722/QĐ/BVHTT của Bộ Văn hóa – Thông tin ngày 29 tháng 11 năm 1997.

Ảnh đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh || nguồn: vietnamnet

15/ Chùa ông
-Vị trí: Chùa Ông còn được gọi là Thất Phủ cổ miếu, một ngôi chùa được xem là xưa nhất ở Nam bộ. Chùa tọa lạc trên một sở đất rộng thuộc xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
-Loại di tích: Di tích lịch sử - văn hoá
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Thất Phủ cổ miếu được gọi là chùa Ông vì vị thần được thờ chính ở đây là Quan Công – vị thần tượng trưng cho trung, hiếu, tiết, nghĩa… Chùa Ông ở đây còn có tên nữa là Miếu Quan Thánh Đế. Chùa được dựng vào năm 1684, gắn liền với quá trình khai hoang mở cõi vùng đất Biên Hòa.
Sau đó, do chiến tranh tàn phá, ngôi chùa Ông gần như bị hư hại hoàn toàn. Đồng bào người Hoa ở đây mới góp tiền trùng tu lại ngôi chùa này vào các năm 1817, 1868 và 1894. Riêng đợt trùng tu 2009-2010 là đợt trùng tu lớn, song tuân thủ nguyên tắc phục chế theo nguyên mẫu, có tôn tạo nhưng không làm thay đổi kiểu thức đã có nên giữ được kiến trúc đặc trưng của ngôi miếu của cộng đồng người Hoa đã tồn tại trên 300 năm ở vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai.
+ Cấu tạo: Ngôi chùa Ông là một kiến trúc xưa khá tiêu biểu với kiểu hình chữ khẩu, gồm có hai công trình phụ hai bên, được gọi là đông lang và tây lang. Phía trước ngôi chùa là một khoảng sân rộng, sạch sẽ được bao bọc bởi một hàng rào kiên cố. Bên ngoài là con sông Đồng Nai hiền hòa chảy. Bờ sông có rất nhiều cây cổ thụ, tán rộng, phủ mát cả mặt sân. Tường chùa được xây theo kiểu không tô, lộ ra nhiều viên gạch chồng lên nhau. Mái chùa lợp ngói âm dương màu đỏ thắm, đầu mái có gắn ngói ống thanh lưu ly. Trên mái nóc là cả một công trình điêu khắc độc đáo với các tượng gốm men xanh của thợ gốm Cây Mai (Chợ Lớn) xưa về các đề tài như hát bội, hát tuồng, múa hát cung đình, tượng ông Nhật bà Nguyệt… Thêm vào đó, các tạo tác bằng đá ở mặt tiền chùa do thợ đá Bửu Long tạc tạo nên kiểu thức đặc trưng cho kiến trúc Minh Hương trên vùng đất Biên Hòa.
-Ngày công nhận: Chùa Ông được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích kiến trúc cấp quốc gia theo Quyết định số 04/2001/QĐ-BVHTT ngày 19-01-2001

Ảnh Chùa Ông (Biên Hoà) || nguồn: dongnai.gov.vn

16/ Thành cổ Biên Hoà
-Vị trí: Thành cổ Biên Hoà là một di tích toạ lạc tại phường Quang Vinh, thành phố Biên Hoà, Đồng Nai. Đây được coi là thành cổ duy nhất ở Nam Bộ còn sót lại đến ngày nay.
-Loại di tích: Di tích lịch sử
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: còn có tên gọi khác như Thành Cựu, Thành Kèn hay Thành Xăng Đá. Năm 1834, vua Minh Mạng cho đắp thành, ban đầu chỉ đắp bằng đất trên nền thành cũ của người Lạp Man nên còn có tên là Thành Cựu. Đến năm 1837, vua Minh Mạng cho xây lại thành bằng đá tổ ong đỏ và đổi tên thành là Thành Biên Hoà. Thực chất, thành Biên Hoà lúc ấy như một trại lính cao cấp dành cho quân Pháp nên có tên gọi là Thành Soldat (người dân quen gọi là Xăng Đá theo phiên âm). Vào mỗi sáng, lính trực thổi kèn báo thức người dân dậy nên còn có tên gọi là Thành Kèn.
+ Cấu tạo: Cả 4 mặt thành đều dài 70 trượng (xấp xỉ 300m), cao 4 thước 3 tấc (1,82m), sâu 6 thước (2,54m). Đến năm 1837, vua Minh Mạng cho nới rộng chu vi thành lên 1 645m, nâng đọ cao lên 3,6m, mở rộng hào gấp 2 gần 17m, xây dựng 4 cầu bằng đá bắc ngang qua hào ở 4 cửa để lưu thông, thành còn được xây dựng thêm kì đài (cột cờ)
-Ngày công nhận: Theo quyết định 3995/QĐ-BVHTTDL đã công nhận di tích Thành Biên Hoà là di tích cấp quốc gia vào 12/11/2013.


Ảnh Thành cổ Biên Hoà || nguồn: baodongnai.com.vn

17/ Đình An Hoà
-Vị trí: Đình An Hòa thuộc làng Bến Gỗ, thuộc phường An Hòa, Thành phố Biên Hoà, Đồng Nai
-Loại di tích: Di tích kiến trúc nghệ thuật
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Đình An Hòa là ngội đình bề thế còn bảo lưu nhiều công trình kiến trúc nghệ thuật chạm khắc độc đáo. Các bô lão của làng cho biết, đình được xây dựng vào năm 1792, niên đại này chỉ ước đoán. Đình An Hòa thờ Thành Hoàng bổn cảnh, và những vị tiền hiền, hậu hiền có công khai phá, mở mang làng, xã. Sắc phong hiện lưu tại đình cho thấy được sắc vào ngày 29 tháng 11 năm Tự Đức ngũ niên (1852). Từ khi khởi dựng đến nay, đình trải qua nhiều lần trùng tu: năm 1944, các cột chính trong đình được nối dài thêm 1 mét để nâng cao chánh điện và mái đình, năm 1953 xây dựng thêm nhà võ ca, năm 1994 và năm 2008 thực hiện trùng tu lớn.
+ Cấu tạo: Nét đặc sắc của di tích là nghệ thuật chạm khắc nơi chánh điện. Nhiều cặp liễn đối, hoành phi với các hoa văn tinh xảo được sơn son thếp vàng, treo dài từ các hàng cột từ trong ra ngoài. Toàn bộ các đầu đao, trụ đỡ, xà ngang...của đình được các nghệ nhân chạm trổ thể hiện các hài hòa các đề tài: lưỡng long triều nhựt, cúc liên chi, mây sóng nước, ngũ phúc lâm môn ...một cách hài hòa, tinh tế, sắc sảo. Đáng chú ý là hình ảnh lưỡng long triều nhựt được cách điệu hóa: đầu rồng, thân xương cá đao với các họa tiết mà các nhà nghiên cứu cho là sự thể hiện ước mơ thịnh vượng, lòng khao khát về lễ nghĩa, phản ánh nghề chài lưới của cư dân cổ trên vùng đất này.
-Ngày công nhận: Di tích đình An Hòa được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia ngày 21 tháng 1 năm 1989.

Ảnh Đình An Hoà || nguồn: ttxtdldongnai.vn

18/ Văn miếu Trấn Biên
-Vị trí: Văn miếu Trấn Biên thuộc phường Bửu Long, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 33km
-Loại di tích: Di tích lịch sử
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Năm 1715 (năm Ất Mùi), chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai Ký lục Phạm Khánh Đức và Trấn thủ Nguyễn Phan Long tiến hành xây dựng Văn miếu Trấn Biên tại thôn Tân Lại, tổng Phước Dinh, huyện Phước Chánh. Nơi đây được xây dựng để chúa Nguyễn Phúc Ánh tới hành lễ hai lần mỗi năm vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng sau năm 1802, khi chúa Nguyễn lên ngôi ở Huế thì việc hành lễ tại văn miếu giao lại cho quan tổng trấn thành Gia Định cùng với trấn quan Biên Hòa và quan đốc học.
+ Cấu tạo: Được xây dựng theo kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở miền Bắc. Bao gồm rất nhiều hạng mục khác nhau như nhà thờ chính, sân hành lễ, tả vu hữu vu,… Văn miếu được xây dựng với mục đích thể hiện truyền thống tôn sư trọng đạo, kính trọng hiền tài. Điểm nổi bật nhất trong lối kiến trúc của văn miếu Trấn Biên đó chính là những vòm mái cong, lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc (gốm tráng men) vô cùng bắt mắt và thu hút. Khu nhà thờ chính được xây dựng theo lối kiến trúc cổ kiểu nhà ba gian hai chái, nền lát gạch tàu, sơn son thếp vàng, trên các cột nhà treo đôi liễn đối. Trước nhà thờ chính các bạn sẽ tận mắt thấy một tấm bia lớn có khắc dòng chữ to: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”.Ở gian giữa của văn miếu có bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, ở trên tường thì có biểu tượng trống đồng – biểu tượng đặc trưng cho nền văn hóa Quốc Tổ Hùng Vương. Ở bên trái nhà là nơi thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam, còn bên phải thì thờ các danh nhân đất Nam Bộ. Ngoài ra, ở đây còn có các khu sinh hoạt truyền thống gồm có nhà truyền thống, bia truyền thống và các công trình phụ cận nhằm phục vụ các du khách tới tham quan tại đây.
-Ngày công nhận: Văn miếu Trấn Biên được công nhận là di tích cấp quốc gia vào ngày 18/8/2016.

Ảnh Văn Miếu Trấn Biên || nguồn: sggp.org.vn

19/ Toà hành chánh Long Khánh
-Vị trí: Tòa hành chánh tỉnh Long Khánh nằm ở vị trí trung tâm của thành phố
-Loại di tích: Di tích lịch sử
-Tóm tắt:
+Lịch sử hình thành: Năm 1957, chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Long Khánh. Năm 1965, thị xã Long Khánh được xây dựng, mở rộng thành một địa bàn có nhiều căn cứ quân sự, cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn trong việc thực hiện chính sách bình định, chỉ đạo chiến tranh ở Long Khánh. Toà Hành chánh tỉnh Long Khánh được xây dựng là một công sở của chính quyền tỉnh Long Khánh, đặc biệt là đầu não chỉ huy của chính quyền tỉnh Long Khánh trong việc chỉ huy phòng thủ Xuân Lộc trong những tháng đầu năm 1975.
+Cấu tạo: Với diện tích toàn khu là 9.000m2. Đây là tòa nhà hai tầng theo lối kiến trúc Pháp, mặt quay về hướng nam đối diện với sân bay Long Khánh. Tầng trệt bố trí làm ba phòng gồm: phòng hành chánh; phòng Phó tỉnh trưởng; phòng trung gian ngân khố. Bố trí của tầng lầu cũng gồm ba phòng: phòng Tỉnh trưởng; phòng hành chánh văn phòng; phòng họp. Xung quanh được bao bọc bằng vòng tường gạch, cổng ra vào. Hệ thống phịng thủ được bố trí nghim ngặt với lính gác và các tua, hầm ngầm có lỗ châu mai phòng thủ.
-Ngày công nhận: Ngày 16/11/1988, Bộ Văn hóa ra quyết định số 1288/VH-QĐ xếp hạng di tích Tòa Hành chánh tỉnh Long Khánh là di tích cấp quốc gia.

Ảnh Toà Hành chánh tỉnh Long Khánh || nguồn: youtube

20/ Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 Nghĩa binh chống Pháp
-Vị trí: Mộ Nguyễn Đức Ứng nằm bên trái Quốc lộ 51 khoảng 250m, cách huyện lỵ Long Thành khoảng 7km về phía nam. Di tích thuộc địa phận ấp Suối Cả, xã Long Phước, huyện Long Thành.
-Loại di tích: Di tích lịch sử - văn hoá
-Tóm tắt:
+ Lịch sử hình thành: Đây là ngôi mộ kiên cố, uy nghi, kiến trúc hình kim tự tháp cụt. Theo lời truyền tụng của người dân địa phương, phần mộ là nơi chôn cất Nguyễn Đức Ứng cùng 27 nghĩa binh hy sinh trong cuộc đánh trả quân Pháp xâm lược năm 1861. Lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh hy sinh trong cuộc chiến đấu đánh trả quân Pháp xâm lược ngày 26-27 tháng
 
Gửi ý kiến