Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Thử phân biệt truyền thuyết và lịch sử

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Bình luận Văn học – Niên giám 2006, NXB Văn Hóa Sài Gòn & Hội nghiên cứu – Giảng dạy Văn học TP.HCM
Người gửi: Võ Phúc Châu
Ngày gửi: 14h:52' 23-02-2008
Dung lượng: 178.5 KB
Số lượt tải: 120
Số lượt thích: 0 người
THỬ PHÂN BIỆT TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ

VÕ PHÚC CHÂU *
***
1. Truyền thuyết và lịch sử có phải là một?
1.1. Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng từng khẳng định: “Truyền thuyết không phải là lịch sử.” (Nghìn xưa văn hiến, tập I, NXB Hà Nội, 2003, tr.44). Đặng Văn Lung cũng nhấn mạnh: “Nói chung, những người nghiên cứu đều biết rằng, truyền thuyết là truyền thuyết, lịch sử là lịch sử, không thể đồng nhất được” (Lịch sử và Văn học dân gian, Hà Nội: Văn Học, 2003, tr.349). Như vậy, vấn đề phân biệt truyền thuyết và lịch sử thiết tưởng đã rõ. Chúng được tiến hành bởi chính các nhà sử học lẫn phônclo học.
Tuy nhiên, đàng sau những nhận định (tưởng chừng đơn giản) này ẩn tàng cả một “nghi án”: phải chăng ai đó vẫn còn (hoặc đã từng) đồng nhất, nhầm lẫn truyền thuyết với lịch sử?
1.2. Thực tế quả cho thấy, việc đồng nhất và nhầm lẫn ấy đã xảy ra. Đơn cử, khi đọc loạt bài bàn về văn bản truyện Mị Châu – Trọng Thủy, Đặng Văn Lung cho rằng một số tác giả “…thường đồng nhất truyền thuyết với lịch sử, lấy truyền thuyết làm lịch sử, thậm chí có người đã đồ truyền thuyết lên lịch sử, sửa lịch sử lại cho đúng với truyền thuyết” (Sđd, tr.319). Hay khi lật lại các giáo trình Lịch sử, viết về “nạn cống vải” dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan năm 722, GS. Kiều Thu Hoạch phải cất lời “trung ngôn nghịch nhĩ ”: “Theo chúng tôi, trong các sách lịch sử, vẫn có thể nói đến chuyện “cống vải” như là một truyền thuyết dân gian địa phương, nhưng dứt khoát phải coi đó là truyền thuyết chứ không phải là lịch sử” (Từ truyền thuyết đến lịch sử, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6 (96)/2004).
Vậy là, cả lý thuyết lẫn thực tế đều cùng đặt ra yêu cầu bức thiết cho người nghiên cứu: phải tiếp tục phân biệt rõ ràng truyền thuyết và lịch sử.
2. Tại sao có sự nhầm lẫn giữa truyền thuyết và lịch sử?
Trả lời câu hỏi trên cũng tức là quay lại làm cuộc khảo sát, đối sánh, bắt đầu từ các khái niệm (truyền thuyết là gì? lịch sử là gì?) cho đến mối quan hệ (thời điểm ra đời, cách thức tồn tại; sự xâm nhập lẫn nhau giữa truyền thuyết và lịch sử...).
2.1. Truyền thuyết là gì? Có nhiều cách phát biểu khác nhau, nhưng tựu trung, truyền thuyết là những tự sự dân gian có cái lõi lịch sử; màu sắc ít nhiều huyền ảo; nội dung kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử theo quan điểm và tình cảm của nhân dân. Nói cách khác, truyền thuyết là những tự sự dân gian được kết tụ từ hai yếu tố: lịch sử và hư cấu. Truyền thuyết bao gồm nhiều nhóm: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết thần tổ ngành nghề, truyền thuyết địa danh… Trong đó, mang đậm yếu tố lịch sử và tiêu biểu cho đặc điểm thể loại chính là nhóm truyền thuyết lịch sử.
Còn Lịch sử là gì? Từ điển Tiếng Việt định nghĩa Lịch sử là: “Khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã hội loài người nói chung, hay của một quốc gia, một dân tộc nói riêng” (Hà Nội: KHXH, 1994, tr.546). Tạm thời, chúng tôi chưa sử dụng định nghĩa này. Vì một khi đã trở thành khoa học, lịch sử tự mất đi không gian gần gũi, giao thoa với truyền thuyết. Nó đã nằm ngoài phạm vi khảo sát của bài viết.
Chuyển sang những định nghĩa khác. N.A. Eârôphêep cho rằng: “Theo nghĩa rộng, lịch sử, nói chung, có nghĩa là bất cứ một sự mô tả nào (ví dụ: lịch sử động vật, lịch sử thực vật,…).Theo nghĩa hẹp, người ta quan niệm lịch sử là câu chuyện kể về những gì xảy ra trong quá khứ” (Lịch sử là gì?, Hà Nội: Giáo Dục, 1981, tr.10). Nhấn mạnh phương thức tồn tại, Trần Quốc Vượng cho lịch sử là câu chuyện “kể lại những bước đi của con người, sự việc thực được ghi lại bằng chữ viết” (Sđd, tr.44). Chú trọng mục đích, chức năng của sử, các nhà soạn sách giáo khoa giải thích: “Sử là tác phẩm viết về các sự kiện và nhân vật lịch sử. Mục đích của sử là ghi chép sự thật, không hư cấu như văn nghệ thuật, nhằm cung cấp những sự kiện lịch sử của dân tộc và bày tỏ thái độ khen chê của sử gia đối với các nhân vật lịch sử để đời sau lấy đấy làm gương” (Ngữ văn 10 Nâng cao, tập II, Hà Nội: Giáo Dục, 2006, tr.57).
Cũng cần nói thêm, hình thức đầu tiên của những câu chuyện lịch sử là biên niên sử. Theo N.A. Eârôphêep, “Biên niên sử hoàn toàn có mục đích thực tiễn: lưu lại trong ký ức của nhân dân tất cả những gì lúc đó được coi là cốt yếu và quan trọng” (Sđd, tr.9). Sau biên niên là kỉ sự. Sách Ngữ văn 10 giải thích rõ hơn: “Sử xưa có hai thể: biên niên và kỉ sự. Biên niên là lối viết sử theo trình tự thời gian (Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…). Kỉ sự là lối viết sử theo các sự kiện hoặc theo từng sự việc của nhân vật lịch sử. Thể kỉ sự có ba tiểu loại: Bản kỉ (ghi chép về các vua), Liệt truyện (ghi chép về các bề tôi), Chí (ghi chép cả về vua và bề tôi)…” (Sđd, tr.57).
Như vậy, chỉ xét khái niệm, truyền thuyết lịch sử và chuyện kể lịch sử đã có chỗ trùng hợp nhau: cùng là chuyện kể (thể tự sự), cùng kể về các sự kiện và nhân vật lịch sử (nội dung tác phẩm).
2.2. Việc đồng nhất hay nhầm lẫn truyền thuyết và lịch sử thực ra không hoàn toàn do thiên kiến của người nghiên cứu. Nó chủ yếu xuất phát từ mối quan hệ nhập nhằng, phức tạp của chính hai địa hạt này.
Hầu như ai cũng biết rằng truyền thuyết xuất hiện sớm hơn lịch sử. Trần Quốc Vượng từng diễn giải: “Khi chưa có khoa học và chữ viết thì lịch sử của dân tộc nào cũng mở đầu bằng truyền thuyết. Một khi đã có chữ viết, đã có khoa học, người ta không phải viện đến trí tưởng tượng nữa, khi cần kể lại những bước đi của con người, sự việc thực được ghi lại bằng chữ viết. Lịch sử tiếp tục truyền thuyết, không phải bằng tưởng tượng, mà bằng khoa học” (Sđd, tr.44). Có điều, trước khi thực sự trở thành khoa học, do trùng hợp về chức năng nên lịch sử gần như hòa trộân vào truyền thuyết: “Chính mối liên hệ của truyền thuyết với lịch sử được biểu hiện rất rõ trên chức năng của nó. Các hình thái khác nhau thuộc các chức năng lịch sử, triết học và xã hội đã hợp nhất vào trong truyền thuyết, làm cho truyền thuyết vận động theo lịch sử, đẻ ra nhiều dị bản” (Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.321). Đâu chỉ vận động theo lịch sử, không ít truyền thuyết còn được chuyển thành chính sử. Ví dụ lịch sử thời Hồng Bàng: “Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ đã từ truyền thuyết dân gian đi vào chính sử” (Lịch sử và Văn học dân gian, Sđd, tr.37). Mặt khác, truyền thuyết và lịch sử còn gắn chặt nhau lâu dài, nên sau khi được phân tách rồi, trong lòng thể loại này vẫn còn lưu giữ một vài đặc điểm, tố chất của thể loại kia.
Dưới đây là vài biểu hiện chứng tỏ sự gắn kết, xâm nhập khá phức tạp giữa chúng.
2.2.1. Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian nhưng vẫn còn được gọi là sử dân gian, là dã sử. GS Ngô Đức Thịnh phát biểu: “Ở nước ta xưa kia vẫn tồn tại hai thứ lịch sử, một thứ lịch sử của người có học, tồn tại trên sách vở, văn tự ghi lại các triều đại, các chiến công, còn có một thứ lịch sử khác, của những người nông dân thất học, tồn tại qua các hồi ức lịch sử, được thể hiện trong truyền thuyết, cổ tích, qua đền miếu thờ cúng, qua lễ nghi, lễ hội…” (theo Văn hóa Việt Nam – đặc trưng và cách tiếp nhận, Hà Nội: Giáo Dục, 2001, tr.169). Trái lại, một số nhà sử học thời trung đại ở phương Tây lại xem “lịch sử là một loại hình nghệ thuật, như thơ ca, nhạc và nhảy múa” Họ cho Cliô (con gái của nữ thần trí nhớ Mô-nê-mô-đi-na) là nữ thần của lịch sử. A-ri-xtôt cũng khẳng định rằng “nhà sử học và nhà thơ chỉ khác nhau ở chỗ: nhà sử học nói về những gì có thực đã xảy ra, còn nhà thơ thì nói về những gì có thể xảy ra. Vì vậy thơ ca có tính chất triết học và chân xác hơn lịch sử ” (Lịch sử là gì?, Sđd, tr.14).
2.2.2. Truyền thuyết là thể loại được quyền hư cấu nhưng bản thân câu chuyện luôn tạo được niềm tin, luôn gắn với niềm tin: “Cốt lõi của truyền thuyết thực sự là một đức tin” (Folklore - một số thuật ngữ đương đại, Hà Nội: KHXH, 2005, tr.323). Trong khi đó, lịch sử có chức năng ghi chép sự thật, phải tôn trọng sự thật, nhưng khởi thủy, lại dung nạp cả những điều bịa đặt. Nhà sử học thế kỷ XVI, Vi-pê-ra-nô, trong quyển “Sách dạy cách viết sử”, từng coi lịch sử như một “câu chuyện có lí và được tô vẽ thêm”. Do chuyện kể lịch sử thời ấy “đầy rẫy những điều bịa đặt” nên nhiều nhà sử học đã phải “kêu gọi đồng nghiệp của mình chỉ nói sự thật”. Giô-han Xôn-xbơ-ri cảnh báo: “Nhà sử học dối trá sẽ chôn vùi cả danh tiếng lẫn tâm hồn bất tử của mình” (Lịch sử là gì?, Sđd, tr.18). Ngay trong sử thời Hồng Bàng của ta dường như cũng có hiện tượng này. Đặng Văn Lung từng viết: “Theo chủ quan tôi suy luận ra, thì truyền thuyết cái bọc trăm trứng là của dân tộc, nhưng đoạn đầu nói Lạc Long Quân là con Lộc Tục, và Lộc Tục là con vua thần nông, một vị vua mở đầu lịch sử Trung Quốc, theo sử cũ, thì đó là do các sử gia phong kiến thêm thắt vào (…) Lại lối đặt tên như những tên: Hồng Bàng, Hùng Vương, Lộc Tục, Kinh Dương Vương, Thần Long, Lạc Long Quân, Âu Cơ v.v… cũng là do các sử gia ấy bịa ra, đến cả những tên An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy cũng vậy” (Sđd, tr.34).
2.2.3. Nếu như truyền thuyết lịch sử bắt buộc có sự hiện diện của yếu tố lịch sử thì ngược lại, trong một số chuyện kể lịch sử vẫn còn xuất hiện chi tiết hư cấu - yếu tố đặc trưng của truyền thuyết. Ví dụ, trong Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sỹ Liên đã không bỏ qua những chi tiết kỳ diệu, hoang đường. Đây là đoạn ông kể thêm về Hưng Đạo Đại vương: “Sau khi ông mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn, dịch bệnh, nhiều người cầu đảo ông. Đến nay, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn” (Dẫn theo Ngữ văn 10 Nâng cao, Sđd, tr.68).
2.2.4. Hình thức tồn tại bắt buộc của lịch sử là trên sách vở, thông qua việc ghi lại bằng chữ viết (nên mới có khái niệm sử quan, chép sử, sử sách, sử xanh…). Tất nhiên, lịch sử được ghi chép không có nghĩa nó buộc phải đoạn tuyệt con đường truyền miệng. Trong những dịp cúng tế, lễ hội, người ta vẫn có quyền trích đọc sách sử về công đức các anh hùng. Và mọi người, bằng tấm lòng thành kính, có thể tiếp tục truyền tụng cho nhau câu chuyện về nhân vật lịch sử ấy. Ngược lại, truyền thuyết là văn học truyền miệng nhưng hầu hết cũng được ghi chép vào sách vở. Tron
 
Gửi ý kiến