Tìm kiếm Giáo án
THCS.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Zalo
Người gửi: Nguyễn Thị Kim Ngân
Ngày gửi: 08h:21' 07-02-2025
Dung lượng: 170.3 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn: Zalo
Người gửi: Nguyễn Thị Kim Ngân
Ngày gửi: 08h:21' 07-02-2025
Dung lượng: 170.3 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một dạng bài của nghị luận
xã hội, cũng là dạng bài khó nhất. Ở dạng bài này, học sinh bày tỏ suy nghĩ quan điểm của
mình về một vấn dề xã hội, nhưng vấn đề đó lại được rút ra từ ý nghĩa của tác phẩm văn học.
Tác phẩm văn học được đưa ra trong đề bài dạng này thường từ hai nguồn: các tác phẩm văn
học đã được học trong chương trình hoặc các mẩu chuyện nhỏ, những văn bản ngắn gọn học
sinh chưa được học nhưng tương đối dễ tiếp nhận và có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, chuyển tải
những bài học cuộc sống quý giá.
Dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đòi hỏi ở học sinh kĩ
năng tổng hợp: đọc hiểu văn bản văn học, phát hiện vấn đề nghị luận, sử dụng nhuần nhuyễn
các thao tác nghị luận để bàn bạc về vấn đề... Do đó, đây là dạng bài thường được sử dụng để
đánh giá năng lực của học sinh khá giỏi.
Đề thi của Sở Giáo dục và đào tạo Nghệ An trong kì thi chọn đội tuyển dự thi Học sinh
giỏi Quốc gia lớp 12 năm học 2010-2011, câu 1 như sau:
NHỮNG VẾT ĐINH
Một cậu bé có tính hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu đưa cho cậu một túi đinh và bảo:
“Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ”.
Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng vài tuần sau, cậu
đã tập kiềm chế và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít đi. Đến một hôm, cậu đã
không nổi nóng một lần nào trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm,
bây giờ nếu sau mỗi ngày con không hề nổi giận với ai, con hãy nhổ một cái đinh ra khỏi hàng
rào”.
Ngày lại ngày trôi qua, đến một hôm cậu bé vui mừng tìm cha và hãnh diện báo rằng
đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào, nhỏ nhẹ nói
với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào đi.
Hàng rào đã không còn như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói
ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng
người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn lại
mãi...”
1
(Lược thuật theo Mai Văn Khôi trong Quà tặng của cuộc sống, NXB
Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2003)
Suy ngẫm của anh/chị từ câu chuyện trên?
Cũng nhằm lựa chọn Học sinh giỏi cấp tỉnh, câu 1 trong đề thi của Sở giáo dục và đào
tạo tỉnh Bắc Giang môn Ngữ văn lớp 12 năm học 2012-2013, là:
Hai biển hồ
Người ta bảo ở bên Pa-le-xtin có hai biển hồ… Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng
như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ
không có một loại cá nào có thể sống nổi. Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ
thứ hai là Ga-li-lê. Đây là biển hồ thu hút khách du lịch nhiều nhất. Nước ở biển hồ lúc nào
cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng có thể sống được. Nhà cửa
được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này.
Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Gioócđăng. Nước sông Gioóc-đăng chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho
mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Ga-li-lê cũng đón
nhận nguồn nước từ sông Gioóc-đăng rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy
nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.
(Theo Quà tặng cuộc sống)
Theo anh/chị, bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện trên là gì?
Còn trong đề thi của Sở giáo dục và đào tạo Hải Dương trong kì thi chọn Học sinh giỏi
tỉnh lớp 12 năm học 2013-2014, câu 1 cũng thuộc dạng đề này:
Câu chuyện của hai hạt mầm
Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt mầm thứ nhất nói: Tôi
muốn lớn lên thật nhanh. Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua
lớp đất cứng phía trên...
Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân... Tôi muốn
cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng trên cành lá.
Và rồi hạt mầm mọc lên.
Hạt mầm thứ hai bảo:
2
- Tôi sợ lắm. Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ gặp
phải điều gì ở nơi tối tăm đó. Và giả như những chồi non của tôi có mọc ra, đám côn trùng sẽ
kéo đến và nuốt ngay lấy chúng. Một ngày nào đó, nếu những bông hoa của tôi có thể nở ra
được thì bọn trẻ con cũng sẽ vặt lấy mà đùa nghịch thôi. Không, tốt hơn hết là tôi nên nằm ở
đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn đã.
Và rồi hạt mầm nằm im và chờ đợi.
Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy hạt mầm nằm lạc
lõng trên mặt đất bèn mổ ngay lập tức.
(Thảo Nguyên, Nguồn: Hạt giống tâm hồn - Từ những điều bình dị First News và NXB Tổng hợp TPHCM phối hợp ấn hành)
Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong câu chuyện trên?
Trong kì thi học sinh giỏi Quốc gia môn Ngữ văn năm 2010, câu hỏi nghị luận xã hội
cũng đã trích một phần ghi chép của nhà văn Nguyễn Minh Châu và yêu cầu thí sinh bàn luận
về lòng nhân ái và sự vô cảm của con người trong cuộc sống. Phần văn bản được trích thực
chất là câu chuyện về người đàn bà lạc mất con ở ga Hàng Cỏ. Do đó có thể xem đề thi này là
dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Như vậy, qua khảo sát của
chúng tôi, dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một dạng đề
được sử dụng khá thường xuyên để đánh giá năng lực của học sinh giỏi môn Ngữ văn.
2. Các dạng đề
2.1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
Trong chương trình THPT, học sinh đã được học về kiểu đề nghị luận xã hội về một tư
tưởng đạo lí. Trong các đề bài thuộc kiểu đề này, vấn đề tư tưởng đạo lí có thể được nêu trực
tiếp (Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng dũng cảm) hoặc được thể hiện qua một câu
danh ngôn/câu tục ngữ, thành ngữ/câu thơ, câu hát… (Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về
câu tục ngữ “....”). Các vấn đề tư tưởng, đạo lí đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề
quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gần gũi với đời
sống hàng ngày của các em học sinh. Kiểu đề này tạo cơ hội cho học sinh được bày tỏ chính
kiến của mình về quan niệm sống, về các vấn đề đạo đức… để từ đó hướng đến việc bồi đắp
nhân cách cho thế hệ trẻ.
2.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
3
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn bạc về một hiện tượng đang diễn ra trong
thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Đó có thể
là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê.
Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống đặt ra trong tác phẩm văn học là dạng bài
nghị luận trình bày quan điểm tư tưởng của người viết về hiện tượng đời sống rút ra từ tác
phẩm văn học. Đó có thể là tác phẩm văn học trong chương trình hoặc tác phẩm ngoài chương
trình nhưng đều là những văn bản nghệ thuật có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Dạng bài này yêu
cầu học sinh phải có năng lực đọc hiểu văn bản, năng lực cảm thụ tác phẩm và năng lực bàn
luận đánh giá về một vấn đề xã hội. Học sinh cần huy động cả kiến thức về tác phẩm và kiến
thức về xã hội đời sống. Tuy nhiên cần xác định đây là dạng đề nghị luận xã hội chứ không
phải là nghị luận văn học. Vấn đề trong tác phẩm chỉ là duyên cớ nhằm khơi gợi suy nghĩ về
một hiện tượng đời sống nào đó. Do đó học sinh cần có kĩ năng nhận định đề chính xác, tránh
nhầm lẫn với các kiểu bài nghị luận khác.
2.3. Dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học
Xuất phát từ một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng nhất của văn học – văn học
là tấm gương phản ánh cuộc sống, một tác phẩm văn học có thể đặt ra rất nhiều các vấn đề xã
hội, cả về tư tưởng đạo lý và hiện tượng đời sống, truyền tải những bài học cuộc sống sâu sắc
tới người tiếp nhận. Các thông điệp mà nhà văn gửi gắm có thể được đan cài rất sâu trong tác
phẩm, đòi hòi người viết phải suy nghĩ thận trọng, rút ra những vấn đề xã hội phức tạp ẩn chứa
bên trong.
Cũng giống như hai dạng đề đã trình bày ở trên, dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã
hội rút ra từ tác phẩm văn học cũng có cấu tạo hai phần. Phần thứ nhất nêu một hoặc nhiều tác
phẩm, hoặc trích dẫn một phần văn bản tác phẩm. Phần thứ hai là câu lệnh yêu cầu suy nghĩ về
các vấn đề rút ra từ tác phẩm đã nêu. Điểm khác biệt của đề bài dạng này là trong câu lệnh của
đề thường không gọi trực tiếp vấn đề xã hội cần nghị luận mà đưa những câu hỏi có tính gợi
mở cho người đọc tự tư duy, khám phá, tìm hiểu. Ví dụ như: Suy nghĩ của anh/chị được gợi ra
từ câu chuyện trên; hay Anh/chị rút ra những bài học gì từ tác phẩm này?... Các tác phẩm
được lựa chọn nêu trong phần một thường là những văn bản có nhiều tầng ý nghĩa, gợi mở
nhiều vấn đề xã hội. Có thể nói, đây là dạng đề khó nhất trong các dạng đề nghị luận xã hội,
đòi hỏi học sinh tư duy tổng hợp cao, có khả năng nắm bắt, lựa chọn, phân tích vấn đề, biết
4
cách triển khai các luận điểm một cách hợp lý, tránh lan man, dàn trải, thiếu tập trung hoặc
tham kiến thức.
3. Kỹ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
3.1. Tìm hiểu đề và tìm ý
3.1.1. Tìm hiểu đề
Tìm hiểu đề là bước khởi đầu quan trọng, có ý nghĩa định hướng. Trước hết học sinh
cần đọc kĩ đề để nhận diện đúng dạng đề. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, đề bài nghị luận
về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học có các yếu tố hình thức riêng biệt giúp học sinh
dễ dàng nhận diện (đề bài có nêu tên hoặc trích dẫn tác phẩm/ đoạn trích; lệnh đề yêu cầu bàn
luận về vấn đề từ tác phẩm hoặc liên quan đến tác phẩm)
Từ việc nhận diện đúng dạng đề, học sinh cần đọc kĩ nội dung đề bài để xác định ba yêu
cầu sau:
- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề nghị luận xã hội được rút ra từ tác phẩm văn học là gì?
Vấn đề đó cần được triển khai thành những ý nào? mối quan hệ giữa các ý ra sao?
- Yêu cầu về phương pháp: cần sử dụng các thao tác lập luận nào để nghị luận về vấn
đề được đặt ra trong đề bài.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong văn học hay trong thực tiễn đời sống.
3.1.2. Tìm ý
Để làm dạng bài này, học sinh cần tiến hành theo hai bước:
- Phân tích tác phẩm để phát hiện và làm rõ vấn đề nghị luận xã hội được thể hiện trong
tác phẩm. Để thực hiện nhiệm vụ này, học sinh có thể đặt các câu hỏi tìm ý sau: Nội dung
chính của tác phẩm là gì? Hình tượng trung tâm của tác phẩm mang ý nghĩa nào? Thông điệp
nào được nhà văn gửi gắm qua tác phẩm?
- Bàn luận về vấn đề tư tưởng đạo lí đã được rút ra ở bước một. Để thực hiện nhiệm vụ
này, học sinh có thể lần lượt tìm ý qua các câu hỏi sau: Vấn đề nghị luận xã hội được đặt ra
trong tác phẩm đã cho là như thế nào? Vấn đề đó đúng hay sai? Vì sao đúng/sai? Vấn đề này
có ý nghĩ gì đối với cuộc sống, với con người, với bản thân?
3.2. Lập dàn ý
3.2.1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
5
Dạng bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý trong tác phẩm văn học có thể được triển
khai theo bố cục:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn tác phẩm để chỉ ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận.
* Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí được nêu trong tác phẩm văn học:
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng,
đạo lí này).
- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh; bác bỏ, phê phán những sai lệch (nếu
có).
- Bài học liên hệ: Học sinh rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề tư tưởng
đạo lí nêu trong tác phẩm.
3.2.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
Dạng bài nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống trong tác phẩm văn học thường được triển
khai theo bố cục như sau:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra hiện tượng đời sống cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn để rút ra hiện tượng đời sống cần bàn luận
* Nghị luận về hiện tượng đời sống được nêu trong tác phẩm văn học:
- Nêu và mô tả hiện tượng (Hiện tượng xảy ra ở đâu? Trong thời gian nào? Diễn ra ra
sao?)
- Bàn luận về hiện tượng:
+ Giải thích nguyên nhân vì sao có hiện tượng đó.
+ Đánh giá tác động của hiện tượng đối với cá nhân và với cộng đồng xã hội: Đây là
hiện tượng tích cực hay hiện tượng tiêu cực? Hiện tượng này có ý nghĩa như thế nào hoặc để
lại những hậu quả ra sao?
- Bài học liên hệ: Học sinh rút ra bài học nhận thức và hành động từ hiện tượng nêu
trong tác phẩm.
3.2.3. Dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học
6
Dạng đề này đặt ra nhiều trường hợp đòi hỏi học sinh phải tư duy để xác lập bố cục phù
hợp nhất:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra các vấn đề xã hội cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn để rút ra các vấn đề xã hội cần bàn luận
* Nghị luận về các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm văn học:
- Trường hợp 1: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm đều thuộc vấn đề hiện
tượng xã hội.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn
học.
- Trường hợp 2: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm đều thuộc vấn đề tư tưởng
đạo lý.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học.
- Trường hợp 3: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm có vấn đề thuộc hiện tượng
xã hội, có vấn đề thuộc tư tưởng đạo lý.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống kết hợp với mô hình
dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học.
Chú ý: Cần lựa chọn vấn đề xã hội quan trọng nhất để ưu tiên bàn luận. Những vấn đề
khác có thể nêu và bàn luận lướt qua. Tránh viết lan man, thiếu tập trung dẫn đến dàn trải.
II. Thực hành
1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
1.1. Một số đề minh họa
Đề 1. Bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra được từ những vần thơ sau của Hồ Chí Minh:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công
(Nghe tiếng giã gạo - Hồ Chí Minh)
Đề 2.
Người ăn xin
7
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo
quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.
Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy
của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình người trong cuộc sống?
Đề 3. Từ quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn trích Đất nước (trường ca
Mặt đường khát vọng), hãy bày tỏ quan niệm riêng của anh/chị về vấn đề này.
Đề 4.
Sự bình yên
Một vị vua treo giải thưởng cho họa sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự b́nh yên.
Nhiều họa sĩ đã cố công dùng tài năng của mình để thể hiện sự bình yên ở nhiều góc độ
của cuộc sống. Nhà vua ngắm tất cả những bức tranh, nhưng ông chỉ thích có hai bức, và phải
chọn lấy một.
Trong hai bức tranh đó:
– Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ với những ngọn núi
cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bồng bềnh, trôi
lững lờ. Tất cả những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên
thật hoàn hảo.
– Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng là những ngọn núi trần trụi và lởm
chởm đá. Bên trên, bầu trời giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp ầm ầm. Bên vách núi
là dòng thác cuồn cuộn nổi bọt trắng xóa. Thật chẳng bình yên chút nào!
Nhưng sau khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ
mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Nơi đó, giữa dòng thác trút nước xuống một cách giận dữ,
8
có con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình, bên cạnh đàn chim con ríu rít… Bình
yên thật sự…
“Ta chấm bức tranh này!”- Nhà vua công bố. “Sự bình yên không có nghĩa là không ồn
ào, không giận dữ. Bình yên có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp, ta vẫn
cảm thấy còn có sự yên tĩnh hiện diện trong nội tâm mình. Đó mới là ý nghĩa thực sự của sự
bình yên”.
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy bày tỏ quan niệm của mình về sự bình yên trong cuộc
sống.
Đề 5.
Bóng nắng bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời, ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng chợt râm. Mẹ
bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng:
- Sao nắng, râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng, vẫn râm…
Mộ mẹ cỏ xanh con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
(Nguyễn Thiện Ý)
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về bài học cuộc sống “Đời, lúc nào
cũng phải nhanh lên”.
Đề 6. Từ truyện cổ tích Tấm Cám, hãy bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về triết lý “Ở hiền gặp
lành”, “Ác giả ác báo” của cha ông ta.
Đề 7. Từ Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của tác giả Nguyễn Dữ, hãy bàn về tinh thần
dũng cảm, trọng công lý, “không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” cần có của kẻ sĩ.
9
Đề 8. Bài thơ Tôi yêu em của Puskin đã khiến anh/chị suy nghĩ gì về một tình yêu chân thành,
cao thượng?
Đề 9. Từ vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, anh/chị hãy nêu quan niệm thế nào là một
cuộc sống có ý nghĩa?
Đề 10. Hãy đọc kĩ câu chuyện sau:
Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte (dành cho những người khuyết tật), có chín vận động
viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung về vạch xuất phát để tham dự
cuộc thi chạy 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao về phía trước với quyết tâm giành chiến
thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ vấp ngã liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người
kia khi nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ
một ai! Một cô gái bị chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:
- Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn.
Rồi tất cả chín người đều khoác tay sánh vai nhau đi về đích. Tất cả khán giả trong sân
vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt.
Câu chuyện cảm động này đã lan truyền qua mỗi kỳ Thế vận hội về sau.
(Theo Quà tặng trái tim, NXB Trẻ 2003)
Từ câu chuyện trên, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về sự chiến thắng trong cuộc sống.
Đề 11. Bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện dưới đây:
Leonardo DaVinci vẽ bức tranh Bữa tiệc ly mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Chúa
Jesus và 12 môn đệ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị môn đệ Judas phản bội.
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông mới chọn được
một chàng trai có gương mặt thánh thiện, một tính cách thanh khiết tuyệt đối làm người mẫu
vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng liền trước chàng trai và hình
ảnh Chúa Jesus đã hiện ra trên bức vẽ.
Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 11 vị môn đệ, chỉ còn có Judas, người môn đệ
đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên
sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ
sẵn sàng bán đi người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình… Cuộc tìm
kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy vẫn
chưa đủ để biểu lộ cái ác của Judas. Một hôm, Da Vinci được thông báo có một kẻ mà ngoại
10
hình có thể đáp ứng yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử
hình vì giết người và nhiều tội ác tày trời khác…
Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mặt ông là một gã đàn ông nước da đen
sạm với mái tóc dài bẩn thỉu xoã xuống gương mặt, một khuôn mặt xấu xa, hiểm ác, hiển hiện
rõ tính cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas !
Được sự cho phép đặc biệt của đức vua, người tù được đưa tới Milan, nơi bức tranh
đang vẽ dang dở. Mỗi ngày tên tù ngồi trước Da Vinci và người hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với
công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.
Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài,
Vinci quay sang bảo với lính gác: “Các ngươi đem hắn đi đi!”.
Lính canh túm lấy kẻ tử tù nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quỳ xuống bên chân
Da Vinci, khóc nức lên: “Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?”.
Da Vinci quan sát kẻ mà sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp:
“Không ! Ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến từ hầm ngục Roma”.
Tên tử tù kêu lên: “Ngài Vinci… Hãy nhìn kỹ tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ngài
đã chọn làm mẫu vẽ Chúa Jesus…”.
(Theo Internet)
1.2. Gợi ý hướng dẫn một số đề minh họa
Đề 1. Bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra được từ những vần thơ sau của Hồ Chí Minh:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công
(Nghe tiếng giã gạo - Hồ Chí Minh)
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của bài thơ “Nghe tiếng giã gạo”
- Bài thơ thể hiện suy nghĩ của Hồ Chí Minh về công việc giã gạo rất đỗi quen thuộc, bình dị
trong cuộc sống.
- Từ hình ảnh hạt gạo trắng tựa bông sau khi trải qua “bao đau đớn”, nhà thơ khái quát một
chân lý trong cuộc sống con người: “Gian nan rèn luyện mới thành công” - phải trải qua quá
11
trình phấn đấu rèn luyện lâu dài gian khổ thì mới có thể đạt được thành công, thắng lợi. Đây là
một bài học đúng đắn và sâu sắc cho mỗi chúng ta.
2. Nghị luận về vai trò của việc rèn luyện gian khổ lâu dài với mỗi người
- Con người cần có một quá trình gian nan rèn luyện mới đạt được thành công, bởi lẽ trong
cuộc sống để có những thành quả tốt đẹp là điều không dễ dàng.
- Trong thực tế đời sống có rất nhiều tấm gương bền bỉ kiên trì vượt qua gian nan thử thách để
đạt được thành công.
- Phê phán những kẻ nóng vội, lười biếng không chịu bỏ công sức mà chỉ chờ đợi thành quả.
- Bài học nhận thức và hành động: Nhận thức được ý nghĩa của việc rèn luyện bản thân để
vươn lên đạt thành công trong cuộc sống. Cần chịu khó học hỏi, dám đương đầu với khó khăn
thử thách, năng động sáng tạo để vươn lên khẳng định mình.
Đề 2.
Người ăn xin
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo
quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.
Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy
của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình người trong cuộc sống?
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của truyện “Người ăn xin”
Truyện Người ăn xin thông qua cách ứng xử của hai nhân vật (ông lão ăn xin và cậu
bé) trong một tình huống vừa chân thực vừa đặc biệt để truyền tải những bài học quý giá về
tình người trong cuộc sống:
12
- Trong cuộc sống, con người phải biết yêu thương, giúp đỡ, che chở cho nhau, nhất là những
lúc khó khăn.
- Trong bần cùng, có những lúc con người không thể cho nhau những giá trị vật chất nhưng
vẫn có thể trao và nhận những tình cảm quý báu. Tình người quý giá, có sức mạnh hơn cả vật
chất.
- Trong cuộc sống luôn cần có thái độ, lời nói hết sức chân thành, thể hiện sự tôn trọng, quan
tâm tới người khác.
2. Nghị luận về tình người trong cuộc sống
- Tại sao cần có tình người trong cuộc sống?
+ Cuộc sống là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Bản thân mỗi cá nhân con người không thể
tồn tại một mình. Con người cần phải biết dựa vào nhau, nương tựa vào nhau trong cuộc sống.
Từ đó, nảy sinh tình người trong cuộc sống.
+ Trong cuộc sống, ai cũng có lúc gặp khó khăn nên cần có tình người để nâng đỡ, giúp đỡ lẫn
nhau.
+ Tình người là biểu hiện đẹp của nhân cách, là điều kiện để dựng xây một xã hội văn minh,
tốt đẹp hơn…
- Phê phán những kẻ coi trọng vật chất, sống thiếu tình người, thái độ vô cảm…
- Bài học nhận thức và hành động: Xác định lối sống biết yêu thương, cảm thông, giúp đỡ và
chia sẻ với mọi người xung quanh.
Đề. Từ tác phẩm Số phận con người của nhà văn Sô-lô-khốp, suy nghĩ về nghị lực và tuổi trẻ
hôm nay.
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của tác phẩm “Số phận con người”
- Số phận bi kịch của những con người trong tác phẩm:
+ A.Xô-cô-lốp: Từng là một người lính, bị chiến tranh cướp đi những người thân yêu nhất, bản
thân bị bắt, bị thương, phải chịu nhiều đọa đày, bất hạnh. Sau chiến tranh, anh vẫn không thoát
khỏi những ám ảnh nhưng đã kiên cường nuốt thầm những giọt lệ đau buồn.
+ Bé Va-ni-a: Không nhà cửa, mẹ cha… Cũng bị chiến tranh cướp đi tất cả.
- Vẻ đẹp của những con người trong tác phẩm:
13
+ Gặp bé Va-ni-a, Xô-cô-lốp đã dồn hết tình yêu thương cho cậu bé, giấu đi nỗi khổ, tránh cho
cậu bé khỏi tổn thương.
+ Qua đây, ta thấy vẻ đẹp của tâm hồn anh là đức hy sinh, là ý chí, nghị lực phi thường, là lòng
nhân hậu bao dung.
2. Nghị luận về nghị lực và tuổi trẻ hôm nay
- Bàn về nghị lực:
+ Cuộc sống luôn đặt ra những thử thách đối với con người, thậm chí là những mất mát đau
thương. Điều giúp con người vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt ấy chính là nghị lực.
+ Nghị lực là sự nỗ lực, cố gắng vươn lên, đó là sức mạnh giúp ta đương đầu với những khó
khăn của cuộc sống. Nghị lực giúp con người cứng cỏi, mạnh mẽ, dám đối diện và chinh phục
thử thách.
- Bàn về tuổi trẻ hôm nay:
+ Tuổi trẻ hôm nay may mắn được sống hòa bình, nhưng cuộc sống phát triển đồng thời đặt
cho những người trẻ nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi họ phải có nghị lực để vượt qua.
+ Tuổi trẻ hôm nay mang trong mình bầu nhiệt huyết khát khao chinh phục những đỉnh cao,
mong muốn được cống hiến, góp sức mình dựng xây Tổ quốc. (Nêu những tấm gương thanh
niên vượt lên hoàn cảnh số phận để học tập, lao động, chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức).
+ Phê phán một bộ phận thanh niên sống xuông xuôi, chạy theo những ý thích, ham muốn tức
thời, ngại khó, ngại khổ.
- Bài học nhận thức và hành động: Những người trẻ tuổi cần có nghị lực, ý chí vươn lên.
Chúng ta có thể thất vọng, đau buồn những không bao giờ được đầu hàng trước số phận. Càng
trong gian khó, con người càng cần khẳng định bản lĩnh và nghị lực, càng trong đau thương
mất mát, càng phải sống nhân hậu, yêu thương. Nói như tác giả của cuốn Ông già và biển cả:
“Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.
Đề Từ vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, anh/chị hãy nêu quan niệm thế nào là một cuộc
sống có ý nghĩa?
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”
14
- Vở kịch được viết dựa trên cốt truyện dân gian, nhấn mạnh sự phản kháng của linh hồn nhân
hậu, thanh cao (hồn Trương Ba) chống lại sự lấn át và chế ngự của thể xác thô lỗ phàm tục (da
hàng thịt).
- Từ những xung đột bên trong con người qua cuộc đối thoại giữa linh hồn và xác thịt, tác giả
đề xuất và cổ vũ cho cuộc đấu tranh bảo vệ những phẩm chất, tính cách cao quý của con người
nhằm hướng tới khát vọng sống trong sạch, hài hòa giữa thể xác và tâm hồn, vật chất và tinh
thần để hoàn thiện nhân cách.
2. Nghị luận về một cuộc sống có ý nghĩa (theo quan niệm của bản thân)
- Quan niệm về một cuộc sống có ý nghĩa:
+ Sống là sự phấn đấu hướng tới hòa hợp, thỏa mãn cả nhu cầu vật chất và tinh thần, phù hợp
với quy luật cuộc sống. Nếu chỉ thiên về một trong hai phương diện ấy đều là sự thiếu hụt khó
bù đắp.
+ Được sống là mình, sống thành thực với chính mình, không phải chịu bi kịch sống giả tạo,
làm chủ được bản thân, đó là một điều hạnh phúc. Nếu không được sống là mình, con người sẽ
phải chịu những bất hạnh, giằng xé nhiều khi đến đau đớn tủi cực. Không được là chính mình,
con người trở nên giả dối, tha hóa và đó là một bi kịch trong cuộc sống.
+ Sống có ý nghĩa còn là cuộc sống dám đấu tranh với cái sai, cái xấu, biết hy sinh vì người
khác. Sống thế nào để khi chết vẫn để lại một chút gì đẹp đẽ cho cuộc đời.
- Phê phán những biểu hiện của cuộc sống thiếu ý nghĩa: Những hiện tượng sống giả tạo,
không dám sống thật với con người mình, thiếu bản lĩnh, ích kỷ, chỉ biết sống cho riêng mình.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Sống có lý tưởng, mục đích sống, có khát vọng cao đẹp.
+ Biết yêu thương, cảm thông, sẻ chia.
+ Có nghị lực để sống trung thực với chính mình.
Đề Hãy đọc kĩ câu chuyện sau:
Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte (dành cho những người khuyết tật), có chín vận động
viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung về vạch xuất phát để tham dự
cuộc thi chạy 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao về phía trước với quyết tâm giành chiến
thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ vấp ngã liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người
15
kia khi nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ
một ai! Một cô gái bị chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:
- Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn.
Rồi tất cả chín người đều khoác tay sánh vai nhau đi về đích. Tất cả khán giả trong sân
vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt.
Câu chuyện cảm động này đã lan truyền qua mỗi kỳ Thế vận hội về sau.
(Theo Quà tặng trái tim, NXB Trẻ 2003)
Từ câu chuyện trên, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về sự chiến thắng trong cuộc sống.
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của câu chuyện
- Câu chuyện kể về một cuộc thi chạy giữa các vận động viên khuyết tật. Khi xuất phát, cả
chín người họ đều quyết tâm trở thành người cán đích đầu tiên. Nhưng cuối cùng, họ đã cùng
khoác tay sánh vai nhau về đích.
- Như vậy, tám người còn lại trong cuộc đua đã vượt qua khát vọng trở thành người xuất sắc
nhất. Chính tình yêu thương, sự sẻ chia đã làm nên chiến thắng kì diệu cho tất cả những người
trong cuộc và khiến cho tất cả những người ngoài cuộc đều thấy xúc động, khâm phục.
2. Nghị luận về sự chiến thắng trong cuộc sống
- Quan niệm về sự chiến thắng:
+ Chiến thắng chỉ dành cho nh...
Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một dạng bài của nghị luận
xã hội, cũng là dạng bài khó nhất. Ở dạng bài này, học sinh bày tỏ suy nghĩ quan điểm của
mình về một vấn dề xã hội, nhưng vấn đề đó lại được rút ra từ ý nghĩa của tác phẩm văn học.
Tác phẩm văn học được đưa ra trong đề bài dạng này thường từ hai nguồn: các tác phẩm văn
học đã được học trong chương trình hoặc các mẩu chuyện nhỏ, những văn bản ngắn gọn học
sinh chưa được học nhưng tương đối dễ tiếp nhận và có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, chuyển tải
những bài học cuộc sống quý giá.
Dạng bài nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đòi hỏi ở học sinh kĩ
năng tổng hợp: đọc hiểu văn bản văn học, phát hiện vấn đề nghị luận, sử dụng nhuần nhuyễn
các thao tác nghị luận để bàn bạc về vấn đề... Do đó, đây là dạng bài thường được sử dụng để
đánh giá năng lực của học sinh khá giỏi.
Đề thi của Sở Giáo dục và đào tạo Nghệ An trong kì thi chọn đội tuyển dự thi Học sinh
giỏi Quốc gia lớp 12 năm học 2010-2011, câu 1 như sau:
NHỮNG VẾT ĐINH
Một cậu bé có tính hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu đưa cho cậu một túi đinh và bảo:
“Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy đóng một cái đinh lên hàng rào gỗ”.
Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng vài tuần sau, cậu
đã tập kiềm chế và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít đi. Đến một hôm, cậu đã
không nổi nóng một lần nào trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm,
bây giờ nếu sau mỗi ngày con không hề nổi giận với ai, con hãy nhổ một cái đinh ra khỏi hàng
rào”.
Ngày lại ngày trôi qua, đến một hôm cậu bé vui mừng tìm cha và hãnh diện báo rằng
đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào, nhỏ nhẹ nói
với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào đi.
Hàng rào đã không còn như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói
ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng
người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn lại
mãi...”
1
(Lược thuật theo Mai Văn Khôi trong Quà tặng của cuộc sống, NXB
Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2003)
Suy ngẫm của anh/chị từ câu chuyện trên?
Cũng nhằm lựa chọn Học sinh giỏi cấp tỉnh, câu 1 trong đề thi của Sở giáo dục và đào
tạo tỉnh Bắc Giang môn Ngữ văn lớp 12 năm học 2012-2013, là:
Hai biển hồ
Người ta bảo ở bên Pa-le-xtin có hai biển hồ… Biển hồ thứ nhất gọi là biển Chết. Đúng
như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước trong hồ
không có một loại cá nào có thể sống nổi. Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ
thứ hai là Ga-li-lê. Đây là biển hồ thu hút khách du lịch nhiều nhất. Nước ở biển hồ lúc nào
cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng có thể sống được. Nhà cửa
được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này.
Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Gioócđăng. Nước sông Gioóc-đăng chảy vào biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho
mình mà không chia sẻ nên nước trong biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Ga-li-lê cũng đón
nhận nguồn nước từ sông Gioóc-đăng rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy
nước trong hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.
(Theo Quà tặng cuộc sống)
Theo anh/chị, bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện trên là gì?
Còn trong đề thi của Sở giáo dục và đào tạo Hải Dương trong kì thi chọn Học sinh giỏi
tỉnh lớp 12 năm học 2013-2014, câu 1 cũng thuộc dạng đề này:
Câu chuyện của hai hạt mầm
Có hai hạt mầm nằm cạnh nhau trên một mảnh đất màu mỡ. Hạt mầm thứ nhất nói: Tôi
muốn lớn lên thật nhanh. Tôi muốn bén rễ sâu xuống lòng đất và đâm chồi nảy lộc xuyên qua
lớp đất cứng phía trên...
Tôi muốn nở ra những cánh hoa dịu dàng như dấu hiệu chào đón mùa xuân... Tôi muốn
cảm nhận sự ấm áp của ánh mặt trời và thưởng thức những giọt sương mai đọng trên cành lá.
Và rồi hạt mầm mọc lên.
Hạt mầm thứ hai bảo:
2
- Tôi sợ lắm. Nếu bén những nhánh rễ vào lòng đất sâu bên dưới, tôi không biết sẽ gặp
phải điều gì ở nơi tối tăm đó. Và giả như những chồi non của tôi có mọc ra, đám côn trùng sẽ
kéo đến và nuốt ngay lấy chúng. Một ngày nào đó, nếu những bông hoa của tôi có thể nở ra
được thì bọn trẻ con cũng sẽ vặt lấy mà đùa nghịch thôi. Không, tốt hơn hết là tôi nên nằm ở
đây cho đến khi cảm thấy thật an toàn đã.
Và rồi hạt mầm nằm im và chờ đợi.
Một ngày nọ, một chú gà đi loanh quanh trong vườn tìm thức ăn, thấy hạt mầm nằm lạc
lõng trên mặt đất bèn mổ ngay lập tức.
(Thảo Nguyên, Nguồn: Hạt giống tâm hồn - Từ những điều bình dị First News và NXB Tổng hợp TPHCM phối hợp ấn hành)
Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong câu chuyện trên?
Trong kì thi học sinh giỏi Quốc gia môn Ngữ văn năm 2010, câu hỏi nghị luận xã hội
cũng đã trích một phần ghi chép của nhà văn Nguyễn Minh Châu và yêu cầu thí sinh bàn luận
về lòng nhân ái và sự vô cảm của con người trong cuộc sống. Phần văn bản được trích thực
chất là câu chuyện về người đàn bà lạc mất con ở ga Hàng Cỏ. Do đó có thể xem đề thi này là
dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học. Như vậy, qua khảo sát của
chúng tôi, dạng đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là một dạng đề
được sử dụng khá thường xuyên để đánh giá năng lực của học sinh giỏi môn Ngữ văn.
2. Các dạng đề
2.1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
Trong chương trình THPT, học sinh đã được học về kiểu đề nghị luận xã hội về một tư
tưởng đạo lí. Trong các đề bài thuộc kiểu đề này, vấn đề tư tưởng đạo lí có thể được nêu trực
tiếp (Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về lòng dũng cảm) hoặc được thể hiện qua một câu
danh ngôn/câu tục ngữ, thành ngữ/câu thơ, câu hát… (Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về
câu tục ngữ “....”). Các vấn đề tư tưởng, đạo lí đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề
quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gần gũi với đời
sống hàng ngày của các em học sinh. Kiểu đề này tạo cơ hội cho học sinh được bày tỏ chính
kiến của mình về quan niệm sống, về các vấn đề đạo đức… để từ đó hướng đến việc bồi đắp
nhân cách cho thế hệ trẻ.
2.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
3
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn bạc về một hiện tượng đang diễn ra trong
thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm của nhiều người. Đó có thể
là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê.
Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống đặt ra trong tác phẩm văn học là dạng bài
nghị luận trình bày quan điểm tư tưởng của người viết về hiện tượng đời sống rút ra từ tác
phẩm văn học. Đó có thể là tác phẩm văn học trong chương trình hoặc tác phẩm ngoài chương
trình nhưng đều là những văn bản nghệ thuật có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Dạng bài này yêu
cầu học sinh phải có năng lực đọc hiểu văn bản, năng lực cảm thụ tác phẩm và năng lực bàn
luận đánh giá về một vấn đề xã hội. Học sinh cần huy động cả kiến thức về tác phẩm và kiến
thức về xã hội đời sống. Tuy nhiên cần xác định đây là dạng đề nghị luận xã hội chứ không
phải là nghị luận văn học. Vấn đề trong tác phẩm chỉ là duyên cớ nhằm khơi gợi suy nghĩ về
một hiện tượng đời sống nào đó. Do đó học sinh cần có kĩ năng nhận định đề chính xác, tránh
nhầm lẫn với các kiểu bài nghị luận khác.
2.3. Dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học
Xuất phát từ một trong những đặc trưng cơ bản quan trọng nhất của văn học – văn học
là tấm gương phản ánh cuộc sống, một tác phẩm văn học có thể đặt ra rất nhiều các vấn đề xã
hội, cả về tư tưởng đạo lý và hiện tượng đời sống, truyền tải những bài học cuộc sống sâu sắc
tới người tiếp nhận. Các thông điệp mà nhà văn gửi gắm có thể được đan cài rất sâu trong tác
phẩm, đòi hòi người viết phải suy nghĩ thận trọng, rút ra những vấn đề xã hội phức tạp ẩn chứa
bên trong.
Cũng giống như hai dạng đề đã trình bày ở trên, dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã
hội rút ra từ tác phẩm văn học cũng có cấu tạo hai phần. Phần thứ nhất nêu một hoặc nhiều tác
phẩm, hoặc trích dẫn một phần văn bản tác phẩm. Phần thứ hai là câu lệnh yêu cầu suy nghĩ về
các vấn đề rút ra từ tác phẩm đã nêu. Điểm khác biệt của đề bài dạng này là trong câu lệnh của
đề thường không gọi trực tiếp vấn đề xã hội cần nghị luận mà đưa những câu hỏi có tính gợi
mở cho người đọc tự tư duy, khám phá, tìm hiểu. Ví dụ như: Suy nghĩ của anh/chị được gợi ra
từ câu chuyện trên; hay Anh/chị rút ra những bài học gì từ tác phẩm này?... Các tác phẩm
được lựa chọn nêu trong phần một thường là những văn bản có nhiều tầng ý nghĩa, gợi mở
nhiều vấn đề xã hội. Có thể nói, đây là dạng đề khó nhất trong các dạng đề nghị luận xã hội,
đòi hỏi học sinh tư duy tổng hợp cao, có khả năng nắm bắt, lựa chọn, phân tích vấn đề, biết
4
cách triển khai các luận điểm một cách hợp lý, tránh lan man, dàn trải, thiếu tập trung hoặc
tham kiến thức.
3. Kỹ năng nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
3.1. Tìm hiểu đề và tìm ý
3.1.1. Tìm hiểu đề
Tìm hiểu đề là bước khởi đầu quan trọng, có ý nghĩa định hướng. Trước hết học sinh
cần đọc kĩ đề để nhận diện đúng dạng đề. Như chúng tôi đã trình bày ở trên, đề bài nghị luận
về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học có các yếu tố hình thức riêng biệt giúp học sinh
dễ dàng nhận diện (đề bài có nêu tên hoặc trích dẫn tác phẩm/ đoạn trích; lệnh đề yêu cầu bàn
luận về vấn đề từ tác phẩm hoặc liên quan đến tác phẩm)
Từ việc nhận diện đúng dạng đề, học sinh cần đọc kĩ nội dung đề bài để xác định ba yêu
cầu sau:
- Yêu cầu về nội dung: Vấn đề nghị luận xã hội được rút ra từ tác phẩm văn học là gì?
Vấn đề đó cần được triển khai thành những ý nào? mối quan hệ giữa các ý ra sao?
- Yêu cầu về phương pháp: cần sử dụng các thao tác lập luận nào để nghị luận về vấn
đề được đặt ra trong đề bài.
- Yêu cầu về phạm vi dẫn chứng: trong văn học hay trong thực tiễn đời sống.
3.1.2. Tìm ý
Để làm dạng bài này, học sinh cần tiến hành theo hai bước:
- Phân tích tác phẩm để phát hiện và làm rõ vấn đề nghị luận xã hội được thể hiện trong
tác phẩm. Để thực hiện nhiệm vụ này, học sinh có thể đặt các câu hỏi tìm ý sau: Nội dung
chính của tác phẩm là gì? Hình tượng trung tâm của tác phẩm mang ý nghĩa nào? Thông điệp
nào được nhà văn gửi gắm qua tác phẩm?
- Bàn luận về vấn đề tư tưởng đạo lí đã được rút ra ở bước một. Để thực hiện nhiệm vụ
này, học sinh có thể lần lượt tìm ý qua các câu hỏi sau: Vấn đề nghị luận xã hội được đặt ra
trong tác phẩm đã cho là như thế nào? Vấn đề đó đúng hay sai? Vì sao đúng/sai? Vấn đề này
có ý nghĩ gì đối với cuộc sống, với con người, với bản thân?
3.2. Lập dàn ý
3.2.1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
5
Dạng bài nghị luận xã hội về tư tưởng đạo lý trong tác phẩm văn học có thể được triển
khai theo bố cục:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn tác phẩm để chỉ ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn luận.
* Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí được nêu trong tác phẩm văn học:
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư tưởng,
đạo lí này).
- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh; bác bỏ, phê phán những sai lệch (nếu
có).
- Bài học liên hệ: Học sinh rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề tư tưởng
đạo lí nêu trong tác phẩm.
3.2.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
Dạng bài nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống trong tác phẩm văn học thường được triển
khai theo bố cục như sau:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra hiện tượng đời sống cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn để rút ra hiện tượng đời sống cần bàn luận
* Nghị luận về hiện tượng đời sống được nêu trong tác phẩm văn học:
- Nêu và mô tả hiện tượng (Hiện tượng xảy ra ở đâu? Trong thời gian nào? Diễn ra ra
sao?)
- Bàn luận về hiện tượng:
+ Giải thích nguyên nhân vì sao có hiện tượng đó.
+ Đánh giá tác động của hiện tượng đối với cá nhân và với cộng đồng xã hội: Đây là
hiện tượng tích cực hay hiện tượng tiêu cực? Hiện tượng này có ý nghĩa như thế nào hoặc để
lại những hậu quả ra sao?
- Bài học liên hệ: Học sinh rút ra bài học nhận thức và hành động từ hiện tượng nêu
trong tác phẩm.
3.2.3. Dạng đề nghị luận về nhiều vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học
6
Dạng đề này đặt ra nhiều trường hợp đòi hỏi học sinh phải tư duy để xác lập bố cục phù
hợp nhất:
* Phân tích văn bản văn học để rút ra các vấn đề xã hội cần bàn luận:
- Giới thiệu và tóm tắt nội dung tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn để rút ra các vấn đề xã hội cần bàn luận
* Nghị luận về các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm văn học:
- Trường hợp 1: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm đều thuộc vấn đề hiện
tượng xã hội.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn
học.
- Trường hợp 2: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm đều thuộc vấn đề tư tưởng
đạo lý.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học.
- Trường hợp 3: Các vấn đề xã hội được nêu trong tác phẩm có vấn đề thuộc hiện tượng
xã hội, có vấn đề thuộc tư tưởng đạo lý.
Làm theo mô hình dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống kết hợp với mô hình
dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học.
Chú ý: Cần lựa chọn vấn đề xã hội quan trọng nhất để ưu tiên bàn luận. Những vấn đề
khác có thể nêu và bàn luận lướt qua. Tránh viết lan man, thiếu tập trung dẫn đến dàn trải.
II. Thực hành
1. Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lý rút ra từ tác phẩm văn học
1.1. Một số đề minh họa
Đề 1. Bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra được từ những vần thơ sau của Hồ Chí Minh:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công
(Nghe tiếng giã gạo - Hồ Chí Minh)
Đề 2.
Người ăn xin
7
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo
quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.
Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy
của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình người trong cuộc sống?
Đề 3. Từ quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm trong đoạn trích Đất nước (trường ca
Mặt đường khát vọng), hãy bày tỏ quan niệm riêng của anh/chị về vấn đề này.
Đề 4.
Sự bình yên
Một vị vua treo giải thưởng cho họa sĩ nào vẽ được bức tranh đẹp nhất về sự b́nh yên.
Nhiều họa sĩ đã cố công dùng tài năng của mình để thể hiện sự bình yên ở nhiều góc độ
của cuộc sống. Nhà vua ngắm tất cả những bức tranh, nhưng ông chỉ thích có hai bức, và phải
chọn lấy một.
Trong hai bức tranh đó:
– Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương tuyệt mỹ với những ngọn núi
cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng bồng bềnh, trôi
lững lờ. Tất cả những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên
thật hoàn hảo.
– Bức tranh thứ hai cũng có những ngọn núi, nhưng là những ngọn núi trần trụi và lởm
chởm đá. Bên trên, bầu trời giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp ầm ầm. Bên vách núi
là dòng thác cuồn cuộn nổi bọt trắng xóa. Thật chẳng bình yên chút nào!
Nhưng sau khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ
mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Nơi đó, giữa dòng thác trút nước xuống một cách giận dữ,
8
có con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình, bên cạnh đàn chim con ríu rít… Bình
yên thật sự…
“Ta chấm bức tranh này!”- Nhà vua công bố. “Sự bình yên không có nghĩa là không ồn
ào, không giận dữ. Bình yên có nghĩa là ngay chính khi đang ở trong phong ba bão táp, ta vẫn
cảm thấy còn có sự yên tĩnh hiện diện trong nội tâm mình. Đó mới là ý nghĩa thực sự của sự
bình yên”.
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy bày tỏ quan niệm của mình về sự bình yên trong cuộc
sống.
Đề 5.
Bóng nắng bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời, ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng chợt râm. Mẹ
bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con. Lúc nắng mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng:
- Sao nắng, râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng, vẫn râm…
Mộ mẹ cỏ xanh con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.
(Nguyễn Thiện Ý)
Từ câu chuyện trên, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về bài học cuộc sống “Đời, lúc nào
cũng phải nhanh lên”.
Đề 6. Từ truyện cổ tích Tấm Cám, hãy bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về triết lý “Ở hiền gặp
lành”, “Ác giả ác báo” của cha ông ta.
Đề 7. Từ Chuyện chức phán sự đền Tản Viên của tác giả Nguyễn Dữ, hãy bàn về tinh thần
dũng cảm, trọng công lý, “không nên kiêng sợ sự cứng cỏi” cần có của kẻ sĩ.
9
Đề 8. Bài thơ Tôi yêu em của Puskin đã khiến anh/chị suy nghĩ gì về một tình yêu chân thành,
cao thượng?
Đề 9. Từ vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, anh/chị hãy nêu quan niệm thế nào là một
cuộc sống có ý nghĩa?
Đề 10. Hãy đọc kĩ câu chuyện sau:
Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte (dành cho những người khuyết tật), có chín vận động
viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung về vạch xuất phát để tham dự
cuộc thi chạy 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao về phía trước với quyết tâm giành chiến
thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ vấp ngã liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người
kia khi nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ
một ai! Một cô gái bị chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:
- Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn.
Rồi tất cả chín người đều khoác tay sánh vai nhau đi về đích. Tất cả khán giả trong sân
vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt.
Câu chuyện cảm động này đã lan truyền qua mỗi kỳ Thế vận hội về sau.
(Theo Quà tặng trái tim, NXB Trẻ 2003)
Từ câu chuyện trên, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về sự chiến thắng trong cuộc sống.
Đề 11. Bài học cuộc sống rút ra từ câu chuyện dưới đây:
Leonardo DaVinci vẽ bức tranh Bữa tiệc ly mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Chúa
Jesus và 12 môn đệ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài bị môn đệ Judas phản bội.
Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông mới chọn được
một chàng trai có gương mặt thánh thiện, một tính cách thanh khiết tuyệt đối làm người mẫu
vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng liền trước chàng trai và hình
ảnh Chúa Jesus đã hiện ra trên bức vẽ.
Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 11 vị môn đệ, chỉ còn có Judas, người môn đệ
đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên
sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ
sẵn sàng bán đi người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình… Cuộc tìm
kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy vẫn
chưa đủ để biểu lộ cái ác của Judas. Một hôm, Da Vinci được thông báo có một kẻ mà ngoại
10
hình có thể đáp ứng yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử
hình vì giết người và nhiều tội ác tày trời khác…
Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mặt ông là một gã đàn ông nước da đen
sạm với mái tóc dài bẩn thỉu xoã xuống gương mặt, một khuôn mặt xấu xa, hiểm ác, hiển hiện
rõ tính cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas !
Được sự cho phép đặc biệt của đức vua, người tù được đưa tới Milan, nơi bức tranh
đang vẽ dang dở. Mỗi ngày tên tù ngồi trước Da Vinci và người hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với
công việc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc.
Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài,
Vinci quay sang bảo với lính gác: “Các ngươi đem hắn đi đi!”.
Lính canh túm lấy kẻ tử tù nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quỳ xuống bên chân
Da Vinci, khóc nức lên: “Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?”.
Da Vinci quan sát kẻ mà sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp:
“Không ! Ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến từ hầm ngục Roma”.
Tên tử tù kêu lên: “Ngài Vinci… Hãy nhìn kỹ tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ngài
đã chọn làm mẫu vẽ Chúa Jesus…”.
(Theo Internet)
1.2. Gợi ý hướng dẫn một số đề minh họa
Đề 1. Bài học cuộc sống mà anh/chị rút ra được từ những vần thơ sau của Hồ Chí Minh:
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công
(Nghe tiếng giã gạo - Hồ Chí Minh)
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của bài thơ “Nghe tiếng giã gạo”
- Bài thơ thể hiện suy nghĩ của Hồ Chí Minh về công việc giã gạo rất đỗi quen thuộc, bình dị
trong cuộc sống.
- Từ hình ảnh hạt gạo trắng tựa bông sau khi trải qua “bao đau đớn”, nhà thơ khái quát một
chân lý trong cuộc sống con người: “Gian nan rèn luyện mới thành công” - phải trải qua quá
11
trình phấn đấu rèn luyện lâu dài gian khổ thì mới có thể đạt được thành công, thắng lợi. Đây là
một bài học đúng đắn và sâu sắc cho mỗi chúng ta.
2. Nghị luận về vai trò của việc rèn luyện gian khổ lâu dài với mỗi người
- Con người cần có một quá trình gian nan rèn luyện mới đạt được thành công, bởi lẽ trong
cuộc sống để có những thành quả tốt đẹp là điều không dễ dàng.
- Trong thực tế đời sống có rất nhiều tấm gương bền bỉ kiên trì vượt qua gian nan thử thách để
đạt được thành công.
- Phê phán những kẻ nóng vội, lười biếng không chịu bỏ công sức mà chỉ chờ đợi thành quả.
- Bài học nhận thức và hành động: Nhận thức được ý nghĩa của việc rèn luyện bản thân để
vươn lên đạt thành công trong cuộc sống. Cần chịu khó học hỏi, dám đương đầu với khó khăn
thử thách, năng động sáng tạo để vươn lên khẳng định mình.
Đề 2.
Người ăn xin
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo
quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết.
Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy
của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc-ghê-nhép, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 22)
Câu chuyện trên gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về tình người trong cuộc sống?
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của truyện “Người ăn xin”
Truyện Người ăn xin thông qua cách ứng xử của hai nhân vật (ông lão ăn xin và cậu
bé) trong một tình huống vừa chân thực vừa đặc biệt để truyền tải những bài học quý giá về
tình người trong cuộc sống:
12
- Trong cuộc sống, con người phải biết yêu thương, giúp đỡ, che chở cho nhau, nhất là những
lúc khó khăn.
- Trong bần cùng, có những lúc con người không thể cho nhau những giá trị vật chất nhưng
vẫn có thể trao và nhận những tình cảm quý báu. Tình người quý giá, có sức mạnh hơn cả vật
chất.
- Trong cuộc sống luôn cần có thái độ, lời nói hết sức chân thành, thể hiện sự tôn trọng, quan
tâm tới người khác.
2. Nghị luận về tình người trong cuộc sống
- Tại sao cần có tình người trong cuộc sống?
+ Cuộc sống là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Bản thân mỗi cá nhân con người không thể
tồn tại một mình. Con người cần phải biết dựa vào nhau, nương tựa vào nhau trong cuộc sống.
Từ đó, nảy sinh tình người trong cuộc sống.
+ Trong cuộc sống, ai cũng có lúc gặp khó khăn nên cần có tình người để nâng đỡ, giúp đỡ lẫn
nhau.
+ Tình người là biểu hiện đẹp của nhân cách, là điều kiện để dựng xây một xã hội văn minh,
tốt đẹp hơn…
- Phê phán những kẻ coi trọng vật chất, sống thiếu tình người, thái độ vô cảm…
- Bài học nhận thức và hành động: Xác định lối sống biết yêu thương, cảm thông, giúp đỡ và
chia sẻ với mọi người xung quanh.
Đề. Từ tác phẩm Số phận con người của nhà văn Sô-lô-khốp, suy nghĩ về nghị lực và tuổi trẻ
hôm nay.
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của tác phẩm “Số phận con người”
- Số phận bi kịch của những con người trong tác phẩm:
+ A.Xô-cô-lốp: Từng là một người lính, bị chiến tranh cướp đi những người thân yêu nhất, bản
thân bị bắt, bị thương, phải chịu nhiều đọa đày, bất hạnh. Sau chiến tranh, anh vẫn không thoát
khỏi những ám ảnh nhưng đã kiên cường nuốt thầm những giọt lệ đau buồn.
+ Bé Va-ni-a: Không nhà cửa, mẹ cha… Cũng bị chiến tranh cướp đi tất cả.
- Vẻ đẹp của những con người trong tác phẩm:
13
+ Gặp bé Va-ni-a, Xô-cô-lốp đã dồn hết tình yêu thương cho cậu bé, giấu đi nỗi khổ, tránh cho
cậu bé khỏi tổn thương.
+ Qua đây, ta thấy vẻ đẹp của tâm hồn anh là đức hy sinh, là ý chí, nghị lực phi thường, là lòng
nhân hậu bao dung.
2. Nghị luận về nghị lực và tuổi trẻ hôm nay
- Bàn về nghị lực:
+ Cuộc sống luôn đặt ra những thử thách đối với con người, thậm chí là những mất mát đau
thương. Điều giúp con người vượt qua hoàn cảnh khắc nghiệt ấy chính là nghị lực.
+ Nghị lực là sự nỗ lực, cố gắng vươn lên, đó là sức mạnh giúp ta đương đầu với những khó
khăn của cuộc sống. Nghị lực giúp con người cứng cỏi, mạnh mẽ, dám đối diện và chinh phục
thử thách.
- Bàn về tuổi trẻ hôm nay:
+ Tuổi trẻ hôm nay may mắn được sống hòa bình, nhưng cuộc sống phát triển đồng thời đặt
cho những người trẻ nhiều cơ hội và thách thức, đòi hỏi họ phải có nghị lực để vượt qua.
+ Tuổi trẻ hôm nay mang trong mình bầu nhiệt huyết khát khao chinh phục những đỉnh cao,
mong muốn được cống hiến, góp sức mình dựng xây Tổ quốc. (Nêu những tấm gương thanh
niên vượt lên hoàn cảnh số phận để học tập, lao động, chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức).
+ Phê phán một bộ phận thanh niên sống xuông xuôi, chạy theo những ý thích, ham muốn tức
thời, ngại khó, ngại khổ.
- Bài học nhận thức và hành động: Những người trẻ tuổi cần có nghị lực, ý chí vươn lên.
Chúng ta có thể thất vọng, đau buồn những không bao giờ được đầu hàng trước số phận. Càng
trong gian khó, con người càng cần khẳng định bản lĩnh và nghị lực, càng trong đau thương
mất mát, càng phải sống nhân hậu, yêu thương. Nói như tác giả của cuốn Ông già và biển cả:
“Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”.
Đề Từ vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt, anh/chị hãy nêu quan niệm thế nào là một cuộc
sống có ý nghĩa?
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”
14
- Vở kịch được viết dựa trên cốt truyện dân gian, nhấn mạnh sự phản kháng của linh hồn nhân
hậu, thanh cao (hồn Trương Ba) chống lại sự lấn át và chế ngự của thể xác thô lỗ phàm tục (da
hàng thịt).
- Từ những xung đột bên trong con người qua cuộc đối thoại giữa linh hồn và xác thịt, tác giả
đề xuất và cổ vũ cho cuộc đấu tranh bảo vệ những phẩm chất, tính cách cao quý của con người
nhằm hướng tới khát vọng sống trong sạch, hài hòa giữa thể xác và tâm hồn, vật chất và tinh
thần để hoàn thiện nhân cách.
2. Nghị luận về một cuộc sống có ý nghĩa (theo quan niệm của bản thân)
- Quan niệm về một cuộc sống có ý nghĩa:
+ Sống là sự phấn đấu hướng tới hòa hợp, thỏa mãn cả nhu cầu vật chất và tinh thần, phù hợp
với quy luật cuộc sống. Nếu chỉ thiên về một trong hai phương diện ấy đều là sự thiếu hụt khó
bù đắp.
+ Được sống là mình, sống thành thực với chính mình, không phải chịu bi kịch sống giả tạo,
làm chủ được bản thân, đó là một điều hạnh phúc. Nếu không được sống là mình, con người sẽ
phải chịu những bất hạnh, giằng xé nhiều khi đến đau đớn tủi cực. Không được là chính mình,
con người trở nên giả dối, tha hóa và đó là một bi kịch trong cuộc sống.
+ Sống có ý nghĩa còn là cuộc sống dám đấu tranh với cái sai, cái xấu, biết hy sinh vì người
khác. Sống thế nào để khi chết vẫn để lại một chút gì đẹp đẽ cho cuộc đời.
- Phê phán những biểu hiện của cuộc sống thiếu ý nghĩa: Những hiện tượng sống giả tạo,
không dám sống thật với con người mình, thiếu bản lĩnh, ích kỷ, chỉ biết sống cho riêng mình.
- Bài học nhận thức và hành động:
+ Sống có lý tưởng, mục đích sống, có khát vọng cao đẹp.
+ Biết yêu thương, cảm thông, sẻ chia.
+ Có nghị lực để sống trung thực với chính mình.
Đề Hãy đọc kĩ câu chuyện sau:
Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte (dành cho những người khuyết tật), có chín vận động
viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung về vạch xuất phát để tham dự
cuộc thi chạy 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao về phía trước với quyết tâm giành chiến
thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ vấp ngã liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người
15
kia khi nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ
một ai! Một cô gái bị chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé:
- Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn.
Rồi tất cả chín người đều khoác tay sánh vai nhau đi về đích. Tất cả khán giả trong sân
vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt.
Câu chuyện cảm động này đã lan truyền qua mỗi kỳ Thế vận hội về sau.
(Theo Quà tặng trái tim, NXB Trẻ 2003)
Từ câu chuyện trên, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về sự chiến thắng trong cuộc sống.
Gợi ý hướng dẫn:
1. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa của câu chuyện
- Câu chuyện kể về một cuộc thi chạy giữa các vận động viên khuyết tật. Khi xuất phát, cả
chín người họ đều quyết tâm trở thành người cán đích đầu tiên. Nhưng cuối cùng, họ đã cùng
khoác tay sánh vai nhau về đích.
- Như vậy, tám người còn lại trong cuộc đua đã vượt qua khát vọng trở thành người xuất sắc
nhất. Chính tình yêu thương, sự sẻ chia đã làm nên chiến thắng kì diệu cho tất cả những người
trong cuộc và khiến cho tất cả những người ngoài cuộc đều thấy xúc động, khâm phục.
2. Nghị luận về sự chiến thắng trong cuộc sống
- Quan niệm về sự chiến thắng:
+ Chiến thắng chỉ dành cho nh...
 









Các ý kiến mới nhất