TẤM VÁN PHÒNG DAO

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:30' 22-02-2024
Dung lượng: 570.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 14h:30' 22-02-2024
Dung lượng: 570.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TẤM VÁN PHÓNG DAO
Tiểu thuyết của Mạc Can
Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội nhà văn 2005
Nhà xuất bản Hội nhà văn (2005)
65 Nguyễn Du - Hà Nội Tel & Fax: 8222135
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Phan Hách
Chịu trách nhiệm bản thảo: Nguyễn Khắc Trường
Biên tập: Lê Minh Khuê
Vẽ bìa: Trần Đại Thắng
Sửa bản in: Minh Phước
Mạc Can
Tấm ván phóng dao
Phần 1
Không có gì làm cho tôi sợ hơn là cơn mưa lúc nửa đêm, vì với tiếng tôi, nhìn giọt mưa rơi long lanh,
nghe tiếng mưa rì rào, tí tách, chẳng khác nào những lời thì thầm bên tai, nhắc nhở lại quá nhiều nỗi buồn,
của cuộc đời đã qua. Ai có tới một chợ quê, trong cảnh tha phương cầu thực với các gánh hát nghèo mới
biết, mưa cầm chân người mua vui ở nhà, mưa làm cho sân khấu phông màn buông rũ buồn hiu. Con hát đói
lạnh, không biết ngày mai sẽ ra sao, mà vốn liếng nào có gì cho cam, ngoài một giọng hát, hay một trò xiếc,
trên hai bàn tay trắng.
Mưa rơi lộp độp trên mái lá nhà lồng chợ vắng tanh, chợ không người, sân khấu không ánh đèn, không khán
giả, buồn ai oán, chung quanh mờ mịt gió nước, tiếng ếch nhái ồm ộp, một lúc vang vang, một lúc lặng
thinh. Tiếng mưa rơi hoài, não ruột suốt canh thâu, tôi thao thức mòn mỏi cho tới khi thiếp đi, bàn tay lạnh
vô tình đưa lên khuôn mặt không thể nào gột sạch dấu phấn trắng, chì đen, son đỏ. Đôi mắt sâu thăm thẳm
lấy đêm làm ngày, trong mưa, từ cõi nào vẳng lại tiếng cầu kinh hoang mang, dàn đồng ca của kiếp côn
trùng nơi bùn lầy nước đọng không khác gì cuộc đời những người hát rong!
Tôi chợt thức dậy ngu ngơ, phải một lúc mới nhớ mình đang ở đâu, tôi đang ngồi trên cái giường của tôi,
một tấm ván đầy vết dao, những vết thương không bao giờ lành, đau đớn, ẩm ướt. Ngoài kia, một khoảng
không gian u ám, bỗng có vài ánh đèn dầu tù mù, tiếng người thì thầm, chợ quê nhóm lúc nào, người ta gọi
là chợ ma, trời chưa sáng chợ đã vội tan, còn một mình tôi trơ trọi ngơ ngác, mộng du nửa thức nửa ngủ,
tôi đi, mơ hồ giữa trời đêm, đứng nhìn về phía nhà lồng chợ, nơi gánh hát rong của gia đình tôi mới tới
chiều nay. Cơn mưa làm cho tấm bảng quảng cáo hình nhân nhạt nhoà, loang lổ, mưa cũng làm cho tấm
bảng hiệu Nghệ Tinh, tên gánh hát nghèo của cha tôi hoen úa đi, mà cũng mưa khiến cho cả nhà đói meo
như vầy đây, cha mẹ tôi cứ mãi lang bang, chúng tôi không có tương lai, sống rày đây mai đó, biết khi nào
có một mái nhà, được về nhà. Cuối trời một màu mây biếc, màu tím pha chút xanh lam lạnh nhạt, lúc sau
ủng hồng một ngày mới, trên những chiếc lá non còn long lanh giọt nước mưa khuya, còn ngày hôm qua ư,
đã chết đi rồi.
Tôi rất thích những buổi sáng tinh sương, mọi vật như ngưng lại, hay là chưa bắt đầu cho những xôn xao,
tâm hồn con người ta cũng chợt bâng khuâng yêu mến cuộc sống hơn, yêu người và mọi vật chung quanh
hơn.
Buổi sáng nào, ở đâu, nơi tôi ngang qua cũng đượm buồn, còn hơn là vậy nơi đây vắng người. Tôi chợt
thấy cha tôi, tướng ông nho nhỏ thấp lùn, cái lưng tôi cũng gù gù cực nhọc như ông, ông chầm chậm bước
ra khỏi nhà lồng chợ, điếu thuốc đen trên môi ông cháy đỏ lập lòe. Ông đứng trước chợ, buổi sáng hôm đó,
nhìn gánh hát rong tội nghiệp của ông, có lẽ từ đầu hôm tới giờ, hay là suốt nhiều đêm dài trong cuộc đời
cha tôi. Ông khó ngủ yên, cha tôi không có gì trong tay ngoài vài trò ảo thuật, và một xác gánh hát tả tơi.
Ông đứng bất động một lúc khá lâu. Đó là một người cha hết lòng thương yêu vợ con, một nghệ sĩ tận tuỵ
với nghề, đúng nhìn cơ nghiệp mong manh của mình, rã rời sau cơn mưa lúc nửa đêm.
Ông xoay người lại và nhìn thấy con của ông, cho tới khi nào tôi xa lìa khỏi cõi đời này, tôi không bao giờ
dám quên giây phút đó. Cha tôi bước trên con đường thật đắng, mờ mờ sáng. Ông tới gần tôi, tôi chợt thấy
tóc ông đã nhuốm bạc, chúng tôi cùng bước đi bên nhau, từ khi tôi chào đời cho tới khi tôi lớn lên, lần đầu
tiên Cha tôi ở gần tôi, vuốt tóc tôi. Ông không nói gì với tôi, điếu thuốc lá đen vẫn ở trên môi ông, cho tới
khi trời rạng, hai cha con trở về nhà lồng chợ. Hơn ba chục năm sau, trong một gánh hát khác, tôi có dịp
trở lại chợ Sài Đôi, một sáng tôi bước trên con đường này, khung cảnh khác xưa biết là bao, sung túc hơn,
nhà lồng chợ khang trang hơn, có một nhà hát bề thế hơn, tôi nhớ Cha Má tôi bằng tất cả tấm lòng của
người con, nhờ Cha con có một nghề để sống, làm vui cho nhiều người như Cha.
***
Tôi sinh ra trên một dòng sông, mái nhà của gia đình tôi là mui một chiếc ghe nhỏ. Cha tôi một người
hát rong, sống lưu linh lưu địa. Ông có tánh hào phóng vô lo, lại khá nóng nảy. Nói như ông nội tôi thì...
nếu trong lu của Cha tôi chiều nay còn chút gạo, ngày mai hẵng tính, gạo chợ nước sông, trên bến dưới
thuyền, cá mắm tôm cua vùng lục tỉnh Nam Bộ bên cạnh con người. Còn Má tôi là một người đàn bà bình
dân, vui tánh, bà không biết một chữ cái, đổi lại nhiều trí tưởng tượng, bà hay kể về tôi:
- Thằng này ngộ lắm, mới đẻ nó ra, chút xíu nó đã cười rồi, chắc mụ bà móc miếng nó dạy nó làm hề?
Má tôi thích câu nói hài hước này, bởi mỗi lần bà nói xong, ai cũng nhìn tôi lấy làm... lạ, như tôi đây là
người từ cung trăng rớt xuống. Tôi quen dần với những nụ cười chung quanh tôi, từ thời thơ ấu cho tới lúc
già, tôi sống khác thường với khuôn mặt buồn hiu. Và tôi cũng quen đi với nhiều ngộ nhận, vô cùng bất tiện
khi quan hệ với cuộc sống, thói thường vốn vô tâm. Tôi trộm nghĩ: Đầu tiên, sau khi tôi là một phôi thai,
tôi là một trái tim nhỏ, lo lắng, hồi hộp, tự thân tôi không thể nghe được nhịp đập của tôi, mà là Má tôi, lần
hồi trong một thời gian khá dài tôi mới cảm biết được rằng tôi đang sống trong một thế giới nào đó, chật
hẹp. Rồi... một hôm tôi lắng nghe tiếng thì thầm, tiếng người ở một thế giới khác sinh động hơn, nhưng tôi
không hiểu họ nói gì, cho tới một buổi chiều, tôi thoát ra khỏi nơi đó, ngay lập tức tôi khóc, vì một vết cắt
đau nhói nơi nào trong thân thể tôi, tôi liền mang một vết sẹo để đời, có thể gọi là xấu, mà tôi lại vô tội!
Đúng là một nơi xôn xao, vô cùng bất tiện cho tôi, nhiều tiếng động chung quanh tôi, tôi nghe tiếng tôi khóc
và tiếng cười của nhiều người, rồi tôi bàng hoàng mở mắt, lần đầu thiệt là khó nhận biết hết thảy mọi thứ.
Bỗng trước mắt tôi chợt có một điểm sáng ngời, ngộ nghĩnh. Nó rất thu hút, làm cho tôi biểu lộ sự... ngạc
nhiên, vì vậy mà Má tôi mới nói tôi "ngộ". Tôi bắt đầu lớn lên trong một không gian nho nhỏ cũng lại chật
hẹp, tôi lật bò, đứng lên, trên sàn ván ẩm ướt của khoang chiếc ghe hát rong, sân khấu đầu tiên của tôi. Bắt
đầu cho một cuộc phiêu linh dài. Khi tôi lớn hơn một chút, tôi mới biết: Điểm sáng chiều nào làm tôi quan
sát chính là cây đèn bão, cây đèn dầu này. Cha tôi vẫn thường treo trước mũi ghe. Mỗi khi chiều xuống,
Má tôi lại đốt lên ngọn lửa nhỏ, trên nền những dòng sông tối. Nói những dòng sông, bởi chiếc ghe, mái
nhà của gia đình chúng tôi luôn chuyển bến, trong mịt mờ khói sóng.
Tôi chào đời vào một buổi chiều tàn, mà buổi chiều nào không buồn, nó là lúc chết của một ngày, còn sáng
hôm sau là một ngày khác, cũng ngắn ngủi như ngày hôm qua, khi tôi được 5 tuổi, cái đèn bão Cha tôi bỏ
quên ở một bến bãi nào đó. Tôi không thể quên nổi ánh sáng của ngọn đèn, cũng như không thể nào quên
con chó nhỏ còi xương, bạn hiền của tôi, con chó tội nghiệp, lang thang, cùng đói meo như tôi trong những
ngày tháng dài trôi sông lạc chợ. Ở miền Nam vào tháng mười, thường có những cơn mưa như trút hết nước
từ trên trời xuống đất, đó là một mùa khắc nghiệt với dân gánh hát, phiêu bạt trong mưa và đói rã ruột.
Má tôi nhìn mưa nói:
- Mưa dữ thần ôn vậy là tại ông tha mà bà không tha, mưa một trận mùng ba tháng mười, cái tích chuyện
Ngưu Lang Chức Nữ có bầy quạ sói đầu đó nha.
Đúng là... mưa, không có gì khác, mưa giăng khắp chốn, mưa sầu mưa thảm, mưa rơi làm rỗ mặt con sông
(thường thường có gương mặt phẳng lặng) sau chợ, trôi nổi những dề lục bình nghèo nàn chỉ trổ vài búp
bông tim tím, khi có những cơn mưa dầm như vậy, lôi cuốn người lại lo sợ. Nhìn sấm sét chớp sáng lòe
trên trời, nghe những tiếng vang động khủng khiếp, như trời sập, tôi luôn nghĩ sét sẽ đánh trúng mỗi mình
tôi. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ những gì mà con người gọi là tai nạn, là rủi ro, bội phần là để dành cho tôi,
vì cái cớ là tôi quá nghèo, mà nghèo là vô cùng tận của nỗi khổ, luôn luôn bị ăn hiếp Nhưng khi nào mưa
dứt hột, lại khác, trên mặt sông lĩnh lặng êm đềm, mọi vật sau cơn mưa dữ tợn, được gột sạch bụi trần ai,
để rồi bầu trời thay cảnh mới cho một lớp tuồng khác, hữu tình hơn. Trên nền sân khấu lộng lẫy đó, người
ta sẽ thấy nhiều điều huyền diệu, chẳng hạn một chiếc cầu vồng hiện lên từ chân trời này, bắc qua một chân
trời xa thăm thẳm, tôi luôn ao ước đi tới chân trời xa diệu vợi nào, cho biết được nhiều điều hơn, như
những cánh chim giang hồ.
Má tôi lại nói, bà là người hay nói:
- Mống chuồng, chắc mèm là bữa nay có nắng, hát được.
Trong nhà ai cũng mừng, chú Tài "say" người bạn chèo chiếc ghe hát cũng mừng, bởi vì hết những ngày
mưa gió ế ẩm chỉ có cháo với "nước mắm rô ti". Má gọi món nước mắm kho quẹt, mặn đắng lưỡi bằng cái
tên này. Chúng tôi tới một chợ quê, bến sông tấp nập kẻ mua người bán, lúc này Cha tôi chưa lên bờ, ông
học của một người thầy Quảng Đông nghề bán thuốc dán, anh tôi trải trên nền đất ẩm ướt một miếng vải
nhựa lớn, thời đó Cha tôi được nhiều khán giả biết đến như một nghệ sĩ "sân đất" nổi liếng, bên hông chiếc
ghe ông cho vẽ chiếc nón cao, vài lá bài với con thỏ ngậm một cây gậy, biểu tượng của các nhà ảo thuật
quốc tế, hàng chữ lớn: "Sạc lô Trần, nhà ảo thuật trứ danh. Đoàn xiếc Nghệ Tinh".
Nhưng mặt đất chưa kịp khô ráo thì chân trời đã hiện ra những đám mây đen, còn có một cột mây lẫn nước
cuốn tròn xoáy trong gió. " tôi cho mọi người biết đó là ông rồng đang hút nước? Có mấy ai coi trọng gánh
hát bèo bọt bán thuốc dạo, nhưng mọi người thật vui khi có chiếc ghe xập xệ hát xiệc của Sạc lô Trần tới.
Trên tấm vải nhựa Cha tôi bày đủ trò, tôi đánh trống, em gái tôi ngồi cạnh gõ cái phèng la, anh tôi chuẩn bị
những lưỡi dao, vì chính anh là người phóng dao.
Đám đông vây tròn chúng tôi, ở hàng thượng hạng là đám con nít, nhiều đứa để đầu ba vá, lem luốc, ở
truồng, la hét, chen lấn giành chỗ. Chú Tài "say" cầm cây roi mây đi vòng trong sân giữ trật tự. Khán giả
người lớn cười nói vui vẻ, là mấy bà già trầu xách giỏ đi chợ, là đàn ông trọng tuổi đầu búi tó củ hành, rồi
các cô gái trẻ bên cạnh chàng trai làng, chợ quê nhộn nhịp đầu trên xóm dưới, bởi tiếng trống của tôi thúc
giục, tôi thích tiếng vang đanh giòn của mặt trống da bò, căng thẳng tới nỗi nhảy tưng cặp dùi trống bằng gỗ
mun, màu nâu, cầm lâu ngày lên nước láng bóng bởi mồ hôi tay.
Em gái tôi nhỏ xíu ngồi gõ nhịp phèng la, cây dùi chạm vào mặt đồng, rất ăn ý với tiếng trống, rất nhịp
nhàng với tiếng nói sang sảng của Cha chúng tôi. Ông lớn tiếng nhưng tướng thấp lùn, ông rất hãnh diện khi
khoe với khán giả bộ chân cheo của ông. Ông có thể dùng ngón chân đi một bài quyền trên chừng một chục
trứng gà mà trứng không bể, ông gọi đó là thuật "khinh công", những người làm nghề Sơn Đông mãi võ
thường luyện võ nghệ phòng thân, cha tôi cũng phải như vậy. Ông còn làm Sạc lô với cái nón tròn như quả
dưa hấu, và cây gậy mây, búng một cái cặp ngay vô nách, cái nón bay khỏi ót ông làm khán giả khoái chí
cười rần, trò vui nhứt ở đâu cũng thích là trò ông tướng thầy ba biết đi vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo.
Cha tôi đứng giữa sân khấu đất, ông rất dạn chuyện ăn nói, tiếng Tây tiếng Tàu, tiếng Miên ông biết mỗi
thứ một chút, ngoài ra còn những chuyện tiếu lâm ngắn làm mấy cô gái nghe nhằm đỏ mặt tía tai. Trên sân
diễn không hiếm chi chuyện ông gây lộn với khán giả, nếu như có ai nói sốc ông. Còn đám du thủ du thực,
chuyên môn móc túi sợ Cha tôi như thần, nếu Cha tôi trông thấy chúng nó móc túi ai, lập tức ông quên ông
đang là nghệ sĩ, ông nhảy tới tóm cổ nó thoi liền tại chỗ, ông có ngón đòn "sa bù lu" ra tay là bọn móc túi
lỗ mũi ăn trầu. Nhiều lần như vậy khiến cho Má tôi lo:
- Tụi nó móc túi người ta chớ nó móc túi ông đâu mà ông lo chuyện ba láp, nó thù vặt chém lén là mệt nha,
nó tiểu nhơn đánh lén sau lưng mình phải sợ chớ.
Nhưng Cha tôi vẫn vậy, nóng như Trương Phi, thấy chuyện bất bình chẳng tha. Khán giả miền quê vừa ớn
vừa khoái cha tôi mới là vui. Cha tôi rất ghét tay biện chà hống hách, cho nên khi nó nhờ ông nhổ cái răng,
ông cố ý nhổ cho nó nhảy dựng lên, làm cho ai cũng hả giận, mà tay biện chà khó nói điều gì. Sạc lô Trần
là một phần kỷ niệm của cô bác khán giả, sau này khi tôi đã lớn tuổi, nhiều người hỏi tôi, có phải là con
của Sạc lô Trần không, tôi thưa là phải, lập tức cô bác gởi lời thăm Cha tôi mạnh giỏi, với nụ cười trên
môi. Chính tôi cũng là một khán giả hâm mộ Cha tôi nhứt hạng. Trong đêm trường tĩnh mịch, tôi thường
thấy ông cặm cụi một mình chế biến những trò ảo thuật vui, lúc đó tôi thương Cha tôi không kể xiết, ông là
một nghệ sĩ cô độc, trong con người nhỏ bé này, có một tâm hồn nào khác hơn, trọng nghĩa khinh tài, khó ai
hiểu hết được.
Tôi không quên hình ảnh ông nơi sân khấu đất, sân khấu này quả là khó diễn hơn sân khấu rạp lớn, khán giả
ngồi rất gần, nhứt là đối với nghệ sĩ ảo thuật, sân khấu đất, có lẽ là như bây giờ người ta gọi là sân khấu
nhỏ.
Cần phải đủ bản lĩnh tiếp cận người xem. Cha tôi là một trong những kịch sĩ bẩm sinh, độc diễn giỏi, có
duyên nói, đi vào lòng người, ông đóng vai của chính ông, với nhiều sáng tạo, và đã đi vào những giai
thoại của khán giả bình dân. Người ta nói Sạc lô Trần dẫn con trâu qua ống chỉ, điều đó tôi chưa thấy mà
cũng không có ai thấy, những lời đồn đại này làm cho Cha tôi nổi tiếng thêm, nơi những chợ quê, khi đó
chưa có nhiều trò giải trí, nhiều nghệ sĩ tài năng hơn như hiện nay.
Tôi đang nghe tiếng chính tôi cười khi nhớ lại trò ông tướng thầy ba. Cha tôi rất tinh nghịch, ông vừa nói
giễu vừa xé một tờ giấy nhựt trình. Ông khéo tạo mảnh giấy vụn thành một hình nhân, ông trêu chọc hình
nhân này với nhiều lời bóng gió tay biện chà, khiến cho bà con đứng ngoài hả đã, cười ngất ngư..
- Đây là ông tướng thầy ba đui then hồi nhỏ khó nuôi, má ổng đen thui cho nên đặt ổng tên là ông lô xí sộ,
thầy ba ơi nói chuyện chút coi, thầy ba ơi.
- Ơi!
Có tiếng trả lời như tiếng con nít, làm cho khán giả hết hồn, thiệt ra chỉ có mình Cha tôi nói, đó là trò khẩu
thuật nói tiếng bụng, Cha tôi lại "hỏi" thầy ba rằng:
- Thầy đi vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo được hông, trả lời?
- Được!
Tiếng thầy ba trả lời dẻo nhẹo, như bà bóng. Cha tôi hỏi:
- Thầy ba nói được là phải làm được nghe chưa. Bây giờ thầy ba chịu khó cho tui để thầy ba vô cái ống
này, khoan đừng có đi đâu nha cha nội, mấy bà già để tui lo cho, người cõi trên như thầy sao mà be he quá
vậy?
Biện chà có tiếng dê sòm, nghe vậy khán giả nhìn ông ta cười rộ lên. Tới đây Cha tôi bỏ hình nhân vô cái
ống thiếc tròn, cái ống này tôi phải lau chùi mỗi ngày, nó có hai ống, ống lớn che ngoài, ống nhỏ chứa sẵn
thịt heo.
Mỗi lần diễn trò này. Cha tôi dặn Má tôi đi chợ sớm, mua thịt heo ngon, để sau buổi diễn, kho thịt với hột
vịt cho cả nhà ăn. Tôi đánh trống theo lời nói của Cha tôi, ông thích tôi đánh trống, vì tôi hiểu ý ông. Thầy
ba đã nằm trong ống thiếc, Cha lại làm như lắng tai nghe:
- Ơi.
- Thầy ba nói trong này giống như đêm ba mươi, đen thui. Chịu khó chút nha thầy ba, chết chưa, cái ông
này chưa gì đi rồi, thầy ba lặn vô chợ rồi, thầy độn thổ rồi, bà con chờ chút sẽ thấy thầy ba ăn cắp thịt heo
về cho coi.
Ai cũng phải chờ, vì tò mò vốn là cái tánh chung của con người, chờ thầy ba đem thịt heo về cho nhãn tiền.
Trong lúc chờ, Cha tôi quảng cáo thuốc nhức răng, ông nói không có cái gì khổ cho bằng bệnh nhức răng,
vợ hun cũng đổ quạu, ông nhái điệu bộ của người nhức răng.
Cha tôi diễn hay tới mức giống hệt, tuy ông không còn cái răng thiệt nào. Ông mời một người đàn bà bước
vô sân, lúc đầu bà ta mắc cỡ, nhưng sau đó không vô không được vì bị những người khác đẩy vô:
- Hồi nhỏ tới bi giờ bà có nhức răng hông?
Cha tôi hỏi, bà kia trả lời:
- Dạ có, còn có một cái răng này thôi mà nó cũng nhức thấu trời?
Người đàn bà này chỉ còn một cái răng cửa.
- Bà có chồng chưa, có chồng rồi thì há miệng ra coi. Hai chuyện, có chồng hay nhức răng hoàn toàn khác
nhau, song bà này vẫn há miệng. Ai lại không có một vài lần nhức răng, nó vô cùng khó chịu, nhưng hầu
như không có thứ thuốc nào trị dứt, trong dân gian người ta lại nói, nhức răng là tại có con sâu ăn răng?
Cha tôi nói:
- Tôi để miếng bông gòn trong miệng bà, thuốc này bắt được con sâu ăn răng, nghe chưa.
Có hai chuyện bây giờ phải đứng chờ, đó là chờ ông tướng thầy ba đem thịt heo về, hai là chờ coi con sâu
ăn răng cho biết, bà này cũng chịu khó ngậm miếng bông gòn, với vẻ mặt tức cười. Lúc này Cha tôi giới
thiệu những chai thuốc nhức răng, và lấy miếng bông gòn trong miệng bà già ra để trên một cái đĩa, trên đó
bò lúc ngúc những con sâu "ăn răng". Cha tôi bán được khá nhiều chai thuốc nhỏ, đó là những chai dầu Nhị
Thiên Đường xài rồi trống không, ông pha chút rượu trắng với nước rễ cây, dán nhãn có hình Sạc lô với
cái cằm sưng vù và cái răng to tướng, chai thuốc là một món quà cay cay, vô thưởng vô phạt.
Về sau này khi tôi lớn lên tôi mới biết khó khi nào trị được bệnh nhức răng, khán giả mua thuốc nhức răng
của Cha tôi, như là mua vé coi ông vừa giễu vừa diễn xiệc ảo thuật cho vui, bà con cũng tha thứ không cằn
nhằn gì, coi như ăn trầu nhả bã, hút thuốc phà hơi mấy đồng bạc giây lát cũng tiêu tan.
- Bên này mua bên kia mua, lẹ tay thì còn chậm tay... cũng còn, chờ chút bà hai, đợi chút xíu ông tư ơi, bán
một tặng một, mua một chai tính tiền hai chai.
Có lẽ sân khấu tấu hài ăn nên làm ra một thời, mấy lúc hiện nay, là... nhờ Cha tôi chế ra cách nói chuyện
vui kiểu chai thuốc bắt con sâu ăn răng. Ông còn là tác giả khuyết danh của khá nhiều chuyện tức cười như
"con vịt ăn gì mà nó kêu cạp cạp" ông giải nghĩa rằng, con vịt ăn bắp, chỉ ăn bắp mới là cạp, giễu bình dân
vậy mà ai cũng khoái.
Cha tôi biết viết và nói tiếng Pháp, nghe đâu ông sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng ông bỏ đi giang
hồ. Ông nói và sáng tác miệng thuộc loại giỏi. Ông có một cây viết "máy" hiệu Parker thường giắt trên nắp
túi không khi nào thấy ông viết gì, chỉ dùng để ký tên cho vui, ông có chữ ký kỳ lạ, nó như một cái hộp lớn
trong đó nhốt lại mỗi chữ "Trần". Chẳng mấy ai quan tâm thuốc của Sạc lô Trần có chữa khỏi bịnh hay là
không, nhiều người còn cười hả hê mua dùm Cha tôi nhiều miếng thuốc dán, đau đâu dán đó, bịnh gì cũng
hết? Vì Cha tôi hát mà không bán vé vào cửa cho nên thuốc cũng như tờ vé đứng, dùng để thưởng thức tài
nói "pha trò" của ông mà thôi.
Cha tôi trở lại cái đĩa, ông có vẻ lo lắng cho bà già:
- Trời ơi con sâu trong miệng nè, bà không sợ nó cắn đứt lưỡi bà sao bà? Ban đêm bà ngủ bà có nghe con
sâu nhai răng bà kêu cắc cắc không?
Thật ra đó cũng là ảo thuật, con sâu là những con mẻ từ hột cơm nguội, vô hại. Rồi như một lời tạ lỗi, cám
ơn khán giả, Cha tôi lập tức biểu diễn những trò khác rất hay, mà không bán một thứ "thuốc" nào nữa. Ông
lô xí sộ ăn cắp thịt trong nhà lồng chợ trở về, khi mở cái ống thiếc tròn, khán giả ồ lên một tiếng lớn, như
thần thoại, ai cũng thấy rõ một miếng thịt heo ngon. Ông tướng thầy ba đi chợ còn hơn "nình bà", ông khéo
lựa miếng thịt tươi rói, ai biết Má tôi còn là một người nội trợ nấu ăn ngon, nếu như trời không mưa, món
thịt kho hột vịt tuyệt cú mèo sẽ thay cho món "nước mắm rô ti" mặn rát lưỡi.
Tôi lại nghe tiếng tôi cười, nhưng cuộc đời không phải là một chuỗi cười thật sự vui, xâu chuỗi có nhiều
hạt lớn hạt nhỏ, hạt xấu hạt tốt, hạt cười hạt khóc, hạt hạnh phúc và vô hạnh, nó là xâu chuỗi vô thường.
Anh tôi ra sân, chú Tài "say" thay chỗ tôi đánh trống.
Chú đánh trống khá giỏi, tiếng trống của chú tôi không bắt chước được, nó có nhiều nhịp căng, có khi rời
rạc, có khi liên hồi, tôi hay lắng nghe tiếng trống của chú Tài khi chú lia nhẹ chiếc dùi ở rìa trống, không
thể giải thích được. Gần giống như người ta nghe nhạc giao hưởng, lạ thường thay nhiều khi những nốt nhạc
lại gợi nhớ hình ảnh nào đó, có lúc là một dòng sông, có lúc là một áng mây và có lúc làm nhớ tới một
người, tôi nào cho mình là người lương thiện, nhưng khi nghe tiếng trống tôi chợt nghĩ về Cha tôi. Tôi thấy
ông là hai con người, một là chính ông, tuyệt đối lương thiện, còn người thứ hai sao mà xa lạ với tôi tới
nỗi tôi ngạc nhiên và hổ thẹn, vì mình có những ý nghĩ đó với bậc sanh thành. Chẳng hạn như những đồng
tiền bán thuốc "nhức răng" nằm đầy trên tấm vải nhựa buổi sáng hôm nào, chẳng qua tôi là một kẻ kiêu
hãnh, làm dáng, chuyên rước cho mình nỗi khổ tâm, dù cho nó là những hạt cát vốn đã bẩn bụi trần gian.
Hình như tôi cũng có người thứ hai trong tôi, ai mà biết được, lần hồi tôi cho là có thật. Hai con người này
trong tôi không hoà thuận, một trầm tư sám hối, còn một có cơ phá phách, hỗn loạn, bất kham. Chúng như
một con gà chọi nhốt chung với một con vịt, một kẻ hung hăng thích xung đột, kẻ khác ngây thơ và hoàn
toàn thụ động.
Thông thường, xiệc rong bán thuốc, thời đó biểu diễn làm quà, nó không có nhiều trò lớn, vậy mà ghe hát
của Cha tôi có màn phóng dao. Khán giả không chỉ thích cười cợt, mà họ con thích cảm giác mạnh. Khổ
nổi Cha tôi lại là người đánh trống cho màn phóng dao, ông là một nghệ sĩ cầu toàn. Tất nhiên tiếng trống
của Cha tôi không thể nào chê, về sự điêu luyện, ông phối các âm thanh thường rất đơn điệu thành một
chuỗi tiếng động thúc giục, hấp dẫn, lôi cuốn, và hồi hộp. Khi anh tôi xuất hiện ở giữa sân, anh như một
ông Hoàng, với những lưỡi dao, trong tiếng trống trận mạc nôn nao. Còn tôi phải lủi thủi vác tấm ván
phóng dao từ dưới sông cạnh đó lên bờ, chen qua nhiều người như mọi lần. Em gái nhỏ của tôi, và cả anh
tôi, bước ra cúi chào khán giả. Em tôi là người đứng trước tấm ván.
Anh tôi là một người mà ai gặp, nếu đó lại là những cô con gái, thì khó thể nào quên, anh thật đẹp, nhứt là
khi anh ra sân khấu, mặc cho đó là sân khấu đất tàn tạ.
Như một Hoàng tử bị đày đoạ xuống cõi trần gian, vị Hoàng tử này vừa tội nghiệp vừa kiêu hãnh biết bao.
Anh tôi tới đây từ một lâu đài trong chuyện cổ tích, mái tóc anh đen nhánh, nuôi dài chải chuốt, da anh
trắng xanh, nụ cười mê hồn.
Còn tôi là ai? Từ trước khi tôi là một phôi thai chung dòng sữa Má với anh, chúng tôi không biết nhau
trước, nhưng bây giờ vị Hoàng tử là anh ruột của tôi, tội nghiệp là anh cũng đói khổ cùng cực như mọi
người trong "Hoàng gia" chiếc ghe hát của chúng tôi có 6 người, Cha tôi, Má tôi, anh em tôi và chú Tài
"say". Cuộc sống trôi giạt, giả thật qua nhiều năm tháng, điều tôi khổ nhứt là trái tim quá đỗi nhạy cảm của
tôi, nó thổn thức từ khi tôi chưa đủ hình hài, trôi theo tôi sau chiếc ghe hát, trên những dòng sông là tấm
ván phóng dao, đầy thương tích như nỗi đau của kiếp người.
Thời thơ ấu của tôi, của anh em tôi cứ vậy, chầm chậm trôi theo những dòng sông vui buồn, trong cơ khổ
đói khát với hoàn cảnh riêng biệt không giống ai. Vì vậy mà tôi trở nên rất ít nói, có khi nhiều ngày liền tôi
không nói một tiếng, làm cho Cha tôi, nhứt là Má tôi cứ tưởng rằng tôi bị ai đó cắt mất lưỡi. Tôi chỉ thầm
nói trong cái đầu nhỏ của tôi hai chữ "tại sao" rồi cúi đầu nhẫn nhục, chịu đựng, bởi không ít người nhìn
chúng tôi với đôi mắt chê trách, khinh miệt bầy xướng ca vô loài, mặc dù chúng tôi có ca hát chi đâu? Tôi
sống phiêu linh một kiếp lục bình trôi nổi, thời tuổi nhỏ của tôi đi và sống qua nhiều nơi, buộc lòng tôi
phải thấy nhiều, suy nghĩ nhiều hơn những thằng nhỏ khác. Đôi khi tôi ngồi cười một mình, Má tôi cứ tưởng
tôi bị tâm thần hay ma ám, Má đâu có biết con rơi nước mắt vì những điều khổ tâm quá sức con, người Má
bình thường này nào đâu đã biết mình sinh ra một con người dị tật, nó có một trái tim quá lớn. Mưa vẫn rơi
vào những tháng mười với tiếng trống, và trò phóng dao, bên bãi sông cuối chợ sáng chiều, nỗi đau luôn
trở lại bất cứ lúc nào trong cuộc đời sau này của tôi, một vở bi hài kịch trúc trắc.
***
Tấm ván dùng để phóng những lưỡi dao, gồm có ba mảnh ván nhỏ ghép lại, phía sau nó có hai thanh gỗ
chặn, một dưới thấp gần bàn chân tôi, còn hai dùng cho tôi giữ nó đứng thẳng. Tấm ván cao khỏi đầu tôi
khi tôi đứng sau nó, còn cao hơn em gái tôi đứng ở phía trước nhiều.
Cha tôi nhờ người thợ mộc chuyên đóng hòm đóng tấm ván này, đáng lý bằng gỗ thông mềm, nhưng rồi trại
hòm không có loại ván này, nó được đóng bằng gỗ dầu cứng, khổ nỗi tấm ván quá cứng, không "ăn" dao,
cho nên ngoài việc đứng làm chú hề con mỗi đêm, phụ diễn với Cha tôi, ban ngày tôi còn phải tưới nước
cho tấm ván mềm đi.
Cha quyết định bán chiếc ghe, lên bờ lập một đoàn xiệc nhỏ, trong đó có lý do đường sông lúc sau này có
cướp mà cướp thì không từ ai...
Chúng tôi được đi xe hơi, đi tới đâu chú Tài "say" tìm mướn xe tới đó, nay chú được lên chức quản lý, đi
xin phép hát. Cha tôi không còn hát sân đất, bán những chai, thuốc nhức răng nữa, mà là một ông bầu, khá
nhiều nghệ sĩ hát rong kéo về hợp tác. Có chú Phi Long trước đây là nghệ sĩ phóng dao, nay chuyên đi dây
thép trên cao, đặc biệt là chú đi guốc, đi xe đạp một bánh trên dây, có bác Hai Đại Bàng chuyên xiệc trên
chiếc xe đạp kiểu, bác Hai cũng diễn ảo thuật, chú Lê Bân là người miền Bắc chuyên về trò đạp chiếc
thang cao, với đứa con gái, nhỏ leo lên uốn dẻo. Một ban nhạc đệm nữa chớ, gồm tay đàn măng-đô-lin,
ông tên là Bà Kim Cương, người đàn ông mù hết sức sạch sẽ, vui tính, người vợ suốt ngày cằn nhằn, với
đứa con gái không làm gì ráo, chỉ biết khóc, chú Bảy Hơn một người trước kia thổi kèn đám ma, và một
tay trống, chú tên là Thành cái thùng trống là gia tài lớn của chú, chú Bê ốm nhách, hoạ sĩ vẽ quảng cáo,
với bà vợ ho lao.
Ngoài ra còn có gia đình một người Hoa Miến Điện, gồm người chồng chuyên về trò chồng người, bốn
người con, hai trai hai gái biểu diễn trò khéo, một gia đình người Hoa Chợ Lớn khác, người cha làm hề
xiệc, cô con gái khá đẹp tung hứng. Cha tôi làm Sạc-lô, một tiết mục khác, ông giả trang thành người Ấn
Độ nuốt lửa và trò tàng hình, chú Chín Chim làm hề ngoài cửa, anh tôi là nghệ sĩ phóng dao. Đoàn xiệc duy
nhứt lúc đó trong miền Nam là đoàn Nghệ Tinh của ông bầu Trần, chúng tôi hát ở những rạp khá lớn, nhiều
nơi.
Má tôi không biết chữ, nhưng nhờ đi đây đi đó quá nhiều, cho nên nói chuyện rất hay, bà hay đi coi bói,
sau đó thuộc tuồng, lại bói cho người khác. Những buổi trưa trong rạp hát vắng người, bà coi bói cho
người trong đoàn. Còn tôi lúc nào cũng kê tấm ván phóng dao trên một hàng ghế nằm nhìn lên trần rạp: Má
tôi là người tằn tiện, chính bà dành dụm được một số tiền trong thời gian Cha tôi làm nghề bán thuốc để
cho Cha lập gánh hát.
Má tôi có khách ngoài tới coi bói lúc nào tôi không biết, nhưng khi tới một rạp hát nào, bên cạnh phòng vé
bà cũng cho dán một bảng hiệu riêng, do chú Bê vẽ, trên đó có một bàn tay, với những lá bài tây, lâu dần
khán giả tới coi bói khá đông. Thu nhập của Má tôi có vẻ tức cười, nhưng Cha tôi không có ý kiến, riêng
ông thỉnh thoảng cũng có người bệnh... đau răng tới mua chai thuốc, hay nhờ ông nhổ dùm cái răng đau, ông
còn có nghề cắt mây hay lột cườm trong mắt, một Đông Y sĩ bẩm sinh, khá mát tay.
Anh tôi ít khi có mặt trong rạp, chỉ có khi tới màn biểu diễn của anh, vào ban đêm, tới đâu, lúc nào anh
cũng hay ngồi ngoài quán nước với những người bạn, anh luôn luôn có bạn, họ ngồi rất lâu, có khi là cả
ngày trong quán nước hay quán cà phê giống như anh, những người bạn lạ mặt này trầm tính, nhưng khó
biết họ từ đâu tới, làm nghề gì, nói chuyện gì. Cha tôi thì luôn đi đâu đó với chú Tài "say", còn em gái tôi
lúc nào cũng nằm trong một góc tối với xâu chuỗi và quyển kinh.
Giữa trưa, tôi nằm trên tấm ván phóng dao nghe Má tôi bói bài cho một bà khách, một điều tôi phải công
nhận là Má tôi có năng khiếu coi bói... bẩm sinh, bà lại ưa quan sát, có thói quen bắt chước giỏi, lại nhiều
tưởng tượng, bà còn thuộc lòng nhiều chuyện đời xưa, số vốn này vô tình khiến cho Má tôi dẫn dắt câu
chuyện bói toán trơn tru:
- Theo như lá bài này, con đầm chuồn này cho tui biết thì... hồi nhỏ bà bị bịnh nặng lắm.
Má tôi trang bài, lật ra một con nói với bà khách, tôi thầm nghĩ, có người nào lúc còn nhỏ lại không bịnh
này bịnh kia, chí ít cũng nóng ho. Bà khách giật mình:
- Dạ có tui đau ban khỉ, sém chết.
- Thấy chưa, tui nói không sai, bà còn té nữa phải không, té xuống nước, cái mạng bà lớn lắm đó nha...
- Dạ có tui té xuống giếng, may là má tui hay kịp vớt lên, không thì tui chết rồi, rồi cái, tui bịnh ban cua tóc
rụng hết ráo, còn nữa, hồi hai tuổi tui nghe má tui nói lại, tui té xuống sông, chìm lỉm, vớt lên chết luôn
mấy ngày, không biết sao bỏ vô hòm rồi tự nhiên tui sống dậy, rồi cái tự nhiên bây giờ tánh tui hơi tưng
tưng.
- Ông bà khuất mày khuất mặt quở, biết sao hông, tại song thân của bà đặt tên bà quá đẹp, kỵ huý. Nhờ kiếp
trước bà ăn ở nhơn đức hay giúp người cho nên quới nhơn độ mạng, cứu bà đó nghen.
- Ờ tui nhớ rồi, má tui nói hồi bốn năm tuổi tui đẹp mà dễ thương lắm, rồi cái ba má tui đặt tên tui là Mộng
Hoa, hèn chi ông bà quở, bây giờ làm sao đây bà. Tui cũng hiền như cục bột, đứa con nít trong xóm, tui
cũng không dám mích lòng, mà sao kỳ, tui... khổ triền miên.
- Tôi nói cái này bà đừng sợ, có người ghen ghét bà muốn hại bà.
- Trời ơi ai mà ác nhơn sát đức vậy không biết?
Tôi ngẫm nghĩ đây không phải là coi bói thông thường mà hai người đàn bà tâm sự với nhau, ai cũng đã
qua thời con gái, giờ nuối tiếc kiếm cớ nhắc lại, đôi khi chỉ để khen mình. Má tôi xào bộ bài tây:
- Con đầm rô này, người nữ này hại bà chớ ai vô đây, còn thằng tây già này là chồng hiện tại của bà, bà có
tới bốn đời chồng, mà không lần nào trọn chuyện tình ngãi. Chồng bà lớn tuổi hơn bà phải không, bà phải
có người chồng nhỏ tuổi hơn, bà mới có hạnh phúc.
Tôi lại nghĩ, tất nhiên là vậy rồi, bao giờ thì trong các cuộc hôn nhân người chồng luôn lớn tuổi hơn người
vợ. Bà khách có vẻ hối tiếc, số phận người phụ nữ thật truân chuyên.
Vẻ hối tiếc hiện rõ trên khuôn mặt người đàn bà này, nó đã có quá nhiều nếp nhăn theo thời gian. Má tôi
chỉ một con bài:
- Hồi còn trẻ bà hết lòng thương người trai này, tức là ở kế bên nhà bà, nhưng hai bên gia đình không đồng
ý, trắc trở cho tới bây giờ, đúng chưa.
Bà khách bật khóc, bây giờ chỉ còn một mình bà nói, còn Má tôi lắng nghe, câu chuyện thật dài, cho tới
trời xẩm tối. Bà khách trả tiền công coi bói ch...
Tiểu thuyết của Mạc Can
Giải A cuộc thi tiểu thuyết Hội nhà văn 2005
Nhà xuất bản Hội nhà văn (2005)
65 Nguyễn Du - Hà Nội Tel & Fax: 8222135
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nguyễn Phan Hách
Chịu trách nhiệm bản thảo: Nguyễn Khắc Trường
Biên tập: Lê Minh Khuê
Vẽ bìa: Trần Đại Thắng
Sửa bản in: Minh Phước
Mạc Can
Tấm ván phóng dao
Phần 1
Không có gì làm cho tôi sợ hơn là cơn mưa lúc nửa đêm, vì với tiếng tôi, nhìn giọt mưa rơi long lanh,
nghe tiếng mưa rì rào, tí tách, chẳng khác nào những lời thì thầm bên tai, nhắc nhở lại quá nhiều nỗi buồn,
của cuộc đời đã qua. Ai có tới một chợ quê, trong cảnh tha phương cầu thực với các gánh hát nghèo mới
biết, mưa cầm chân người mua vui ở nhà, mưa làm cho sân khấu phông màn buông rũ buồn hiu. Con hát đói
lạnh, không biết ngày mai sẽ ra sao, mà vốn liếng nào có gì cho cam, ngoài một giọng hát, hay một trò xiếc,
trên hai bàn tay trắng.
Mưa rơi lộp độp trên mái lá nhà lồng chợ vắng tanh, chợ không người, sân khấu không ánh đèn, không khán
giả, buồn ai oán, chung quanh mờ mịt gió nước, tiếng ếch nhái ồm ộp, một lúc vang vang, một lúc lặng
thinh. Tiếng mưa rơi hoài, não ruột suốt canh thâu, tôi thao thức mòn mỏi cho tới khi thiếp đi, bàn tay lạnh
vô tình đưa lên khuôn mặt không thể nào gột sạch dấu phấn trắng, chì đen, son đỏ. Đôi mắt sâu thăm thẳm
lấy đêm làm ngày, trong mưa, từ cõi nào vẳng lại tiếng cầu kinh hoang mang, dàn đồng ca của kiếp côn
trùng nơi bùn lầy nước đọng không khác gì cuộc đời những người hát rong!
Tôi chợt thức dậy ngu ngơ, phải một lúc mới nhớ mình đang ở đâu, tôi đang ngồi trên cái giường của tôi,
một tấm ván đầy vết dao, những vết thương không bao giờ lành, đau đớn, ẩm ướt. Ngoài kia, một khoảng
không gian u ám, bỗng có vài ánh đèn dầu tù mù, tiếng người thì thầm, chợ quê nhóm lúc nào, người ta gọi
là chợ ma, trời chưa sáng chợ đã vội tan, còn một mình tôi trơ trọi ngơ ngác, mộng du nửa thức nửa ngủ,
tôi đi, mơ hồ giữa trời đêm, đứng nhìn về phía nhà lồng chợ, nơi gánh hát rong của gia đình tôi mới tới
chiều nay. Cơn mưa làm cho tấm bảng quảng cáo hình nhân nhạt nhoà, loang lổ, mưa cũng làm cho tấm
bảng hiệu Nghệ Tinh, tên gánh hát nghèo của cha tôi hoen úa đi, mà cũng mưa khiến cho cả nhà đói meo
như vầy đây, cha mẹ tôi cứ mãi lang bang, chúng tôi không có tương lai, sống rày đây mai đó, biết khi nào
có một mái nhà, được về nhà. Cuối trời một màu mây biếc, màu tím pha chút xanh lam lạnh nhạt, lúc sau
ủng hồng một ngày mới, trên những chiếc lá non còn long lanh giọt nước mưa khuya, còn ngày hôm qua ư,
đã chết đi rồi.
Tôi rất thích những buổi sáng tinh sương, mọi vật như ngưng lại, hay là chưa bắt đầu cho những xôn xao,
tâm hồn con người ta cũng chợt bâng khuâng yêu mến cuộc sống hơn, yêu người và mọi vật chung quanh
hơn.
Buổi sáng nào, ở đâu, nơi tôi ngang qua cũng đượm buồn, còn hơn là vậy nơi đây vắng người. Tôi chợt
thấy cha tôi, tướng ông nho nhỏ thấp lùn, cái lưng tôi cũng gù gù cực nhọc như ông, ông chầm chậm bước
ra khỏi nhà lồng chợ, điếu thuốc đen trên môi ông cháy đỏ lập lòe. Ông đứng trước chợ, buổi sáng hôm đó,
nhìn gánh hát rong tội nghiệp của ông, có lẽ từ đầu hôm tới giờ, hay là suốt nhiều đêm dài trong cuộc đời
cha tôi. Ông khó ngủ yên, cha tôi không có gì trong tay ngoài vài trò ảo thuật, và một xác gánh hát tả tơi.
Ông đứng bất động một lúc khá lâu. Đó là một người cha hết lòng thương yêu vợ con, một nghệ sĩ tận tuỵ
với nghề, đúng nhìn cơ nghiệp mong manh của mình, rã rời sau cơn mưa lúc nửa đêm.
Ông xoay người lại và nhìn thấy con của ông, cho tới khi nào tôi xa lìa khỏi cõi đời này, tôi không bao giờ
dám quên giây phút đó. Cha tôi bước trên con đường thật đắng, mờ mờ sáng. Ông tới gần tôi, tôi chợt thấy
tóc ông đã nhuốm bạc, chúng tôi cùng bước đi bên nhau, từ khi tôi chào đời cho tới khi tôi lớn lên, lần đầu
tiên Cha tôi ở gần tôi, vuốt tóc tôi. Ông không nói gì với tôi, điếu thuốc lá đen vẫn ở trên môi ông, cho tới
khi trời rạng, hai cha con trở về nhà lồng chợ. Hơn ba chục năm sau, trong một gánh hát khác, tôi có dịp
trở lại chợ Sài Đôi, một sáng tôi bước trên con đường này, khung cảnh khác xưa biết là bao, sung túc hơn,
nhà lồng chợ khang trang hơn, có một nhà hát bề thế hơn, tôi nhớ Cha Má tôi bằng tất cả tấm lòng của
người con, nhờ Cha con có một nghề để sống, làm vui cho nhiều người như Cha.
***
Tôi sinh ra trên một dòng sông, mái nhà của gia đình tôi là mui một chiếc ghe nhỏ. Cha tôi một người
hát rong, sống lưu linh lưu địa. Ông có tánh hào phóng vô lo, lại khá nóng nảy. Nói như ông nội tôi thì...
nếu trong lu của Cha tôi chiều nay còn chút gạo, ngày mai hẵng tính, gạo chợ nước sông, trên bến dưới
thuyền, cá mắm tôm cua vùng lục tỉnh Nam Bộ bên cạnh con người. Còn Má tôi là một người đàn bà bình
dân, vui tánh, bà không biết một chữ cái, đổi lại nhiều trí tưởng tượng, bà hay kể về tôi:
- Thằng này ngộ lắm, mới đẻ nó ra, chút xíu nó đã cười rồi, chắc mụ bà móc miếng nó dạy nó làm hề?
Má tôi thích câu nói hài hước này, bởi mỗi lần bà nói xong, ai cũng nhìn tôi lấy làm... lạ, như tôi đây là
người từ cung trăng rớt xuống. Tôi quen dần với những nụ cười chung quanh tôi, từ thời thơ ấu cho tới lúc
già, tôi sống khác thường với khuôn mặt buồn hiu. Và tôi cũng quen đi với nhiều ngộ nhận, vô cùng bất tiện
khi quan hệ với cuộc sống, thói thường vốn vô tâm. Tôi trộm nghĩ: Đầu tiên, sau khi tôi là một phôi thai,
tôi là một trái tim nhỏ, lo lắng, hồi hộp, tự thân tôi không thể nghe được nhịp đập của tôi, mà là Má tôi, lần
hồi trong một thời gian khá dài tôi mới cảm biết được rằng tôi đang sống trong một thế giới nào đó, chật
hẹp. Rồi... một hôm tôi lắng nghe tiếng thì thầm, tiếng người ở một thế giới khác sinh động hơn, nhưng tôi
không hiểu họ nói gì, cho tới một buổi chiều, tôi thoát ra khỏi nơi đó, ngay lập tức tôi khóc, vì một vết cắt
đau nhói nơi nào trong thân thể tôi, tôi liền mang một vết sẹo để đời, có thể gọi là xấu, mà tôi lại vô tội!
Đúng là một nơi xôn xao, vô cùng bất tiện cho tôi, nhiều tiếng động chung quanh tôi, tôi nghe tiếng tôi khóc
và tiếng cười của nhiều người, rồi tôi bàng hoàng mở mắt, lần đầu thiệt là khó nhận biết hết thảy mọi thứ.
Bỗng trước mắt tôi chợt có một điểm sáng ngời, ngộ nghĩnh. Nó rất thu hút, làm cho tôi biểu lộ sự... ngạc
nhiên, vì vậy mà Má tôi mới nói tôi "ngộ". Tôi bắt đầu lớn lên trong một không gian nho nhỏ cũng lại chật
hẹp, tôi lật bò, đứng lên, trên sàn ván ẩm ướt của khoang chiếc ghe hát rong, sân khấu đầu tiên của tôi. Bắt
đầu cho một cuộc phiêu linh dài. Khi tôi lớn hơn một chút, tôi mới biết: Điểm sáng chiều nào làm tôi quan
sát chính là cây đèn bão, cây đèn dầu này. Cha tôi vẫn thường treo trước mũi ghe. Mỗi khi chiều xuống,
Má tôi lại đốt lên ngọn lửa nhỏ, trên nền những dòng sông tối. Nói những dòng sông, bởi chiếc ghe, mái
nhà của gia đình chúng tôi luôn chuyển bến, trong mịt mờ khói sóng.
Tôi chào đời vào một buổi chiều tàn, mà buổi chiều nào không buồn, nó là lúc chết của một ngày, còn sáng
hôm sau là một ngày khác, cũng ngắn ngủi như ngày hôm qua, khi tôi được 5 tuổi, cái đèn bão Cha tôi bỏ
quên ở một bến bãi nào đó. Tôi không thể quên nổi ánh sáng của ngọn đèn, cũng như không thể nào quên
con chó nhỏ còi xương, bạn hiền của tôi, con chó tội nghiệp, lang thang, cùng đói meo như tôi trong những
ngày tháng dài trôi sông lạc chợ. Ở miền Nam vào tháng mười, thường có những cơn mưa như trút hết nước
từ trên trời xuống đất, đó là một mùa khắc nghiệt với dân gánh hát, phiêu bạt trong mưa và đói rã ruột.
Má tôi nhìn mưa nói:
- Mưa dữ thần ôn vậy là tại ông tha mà bà không tha, mưa một trận mùng ba tháng mười, cái tích chuyện
Ngưu Lang Chức Nữ có bầy quạ sói đầu đó nha.
Đúng là... mưa, không có gì khác, mưa giăng khắp chốn, mưa sầu mưa thảm, mưa rơi làm rỗ mặt con sông
(thường thường có gương mặt phẳng lặng) sau chợ, trôi nổi những dề lục bình nghèo nàn chỉ trổ vài búp
bông tim tím, khi có những cơn mưa dầm như vậy, lôi cuốn người lại lo sợ. Nhìn sấm sét chớp sáng lòe
trên trời, nghe những tiếng vang động khủng khiếp, như trời sập, tôi luôn nghĩ sét sẽ đánh trúng mỗi mình
tôi. Không hiểu sao tôi cứ nghĩ những gì mà con người gọi là tai nạn, là rủi ro, bội phần là để dành cho tôi,
vì cái cớ là tôi quá nghèo, mà nghèo là vô cùng tận của nỗi khổ, luôn luôn bị ăn hiếp Nhưng khi nào mưa
dứt hột, lại khác, trên mặt sông lĩnh lặng êm đềm, mọi vật sau cơn mưa dữ tợn, được gột sạch bụi trần ai,
để rồi bầu trời thay cảnh mới cho một lớp tuồng khác, hữu tình hơn. Trên nền sân khấu lộng lẫy đó, người
ta sẽ thấy nhiều điều huyền diệu, chẳng hạn một chiếc cầu vồng hiện lên từ chân trời này, bắc qua một chân
trời xa thăm thẳm, tôi luôn ao ước đi tới chân trời xa diệu vợi nào, cho biết được nhiều điều hơn, như
những cánh chim giang hồ.
Má tôi lại nói, bà là người hay nói:
- Mống chuồng, chắc mèm là bữa nay có nắng, hát được.
Trong nhà ai cũng mừng, chú Tài "say" người bạn chèo chiếc ghe hát cũng mừng, bởi vì hết những ngày
mưa gió ế ẩm chỉ có cháo với "nước mắm rô ti". Má gọi món nước mắm kho quẹt, mặn đắng lưỡi bằng cái
tên này. Chúng tôi tới một chợ quê, bến sông tấp nập kẻ mua người bán, lúc này Cha tôi chưa lên bờ, ông
học của một người thầy Quảng Đông nghề bán thuốc dán, anh tôi trải trên nền đất ẩm ướt một miếng vải
nhựa lớn, thời đó Cha tôi được nhiều khán giả biết đến như một nghệ sĩ "sân đất" nổi liếng, bên hông chiếc
ghe ông cho vẽ chiếc nón cao, vài lá bài với con thỏ ngậm một cây gậy, biểu tượng của các nhà ảo thuật
quốc tế, hàng chữ lớn: "Sạc lô Trần, nhà ảo thuật trứ danh. Đoàn xiếc Nghệ Tinh".
Nhưng mặt đất chưa kịp khô ráo thì chân trời đã hiện ra những đám mây đen, còn có một cột mây lẫn nước
cuốn tròn xoáy trong gió. " tôi cho mọi người biết đó là ông rồng đang hút nước? Có mấy ai coi trọng gánh
hát bèo bọt bán thuốc dạo, nhưng mọi người thật vui khi có chiếc ghe xập xệ hát xiệc của Sạc lô Trần tới.
Trên tấm vải nhựa Cha tôi bày đủ trò, tôi đánh trống, em gái tôi ngồi cạnh gõ cái phèng la, anh tôi chuẩn bị
những lưỡi dao, vì chính anh là người phóng dao.
Đám đông vây tròn chúng tôi, ở hàng thượng hạng là đám con nít, nhiều đứa để đầu ba vá, lem luốc, ở
truồng, la hét, chen lấn giành chỗ. Chú Tài "say" cầm cây roi mây đi vòng trong sân giữ trật tự. Khán giả
người lớn cười nói vui vẻ, là mấy bà già trầu xách giỏ đi chợ, là đàn ông trọng tuổi đầu búi tó củ hành, rồi
các cô gái trẻ bên cạnh chàng trai làng, chợ quê nhộn nhịp đầu trên xóm dưới, bởi tiếng trống của tôi thúc
giục, tôi thích tiếng vang đanh giòn của mặt trống da bò, căng thẳng tới nỗi nhảy tưng cặp dùi trống bằng gỗ
mun, màu nâu, cầm lâu ngày lên nước láng bóng bởi mồ hôi tay.
Em gái tôi nhỏ xíu ngồi gõ nhịp phèng la, cây dùi chạm vào mặt đồng, rất ăn ý với tiếng trống, rất nhịp
nhàng với tiếng nói sang sảng của Cha chúng tôi. Ông lớn tiếng nhưng tướng thấp lùn, ông rất hãnh diện khi
khoe với khán giả bộ chân cheo của ông. Ông có thể dùng ngón chân đi một bài quyền trên chừng một chục
trứng gà mà trứng không bể, ông gọi đó là thuật "khinh công", những người làm nghề Sơn Đông mãi võ
thường luyện võ nghệ phòng thân, cha tôi cũng phải như vậy. Ông còn làm Sạc lô với cái nón tròn như quả
dưa hấu, và cây gậy mây, búng một cái cặp ngay vô nách, cái nón bay khỏi ót ông làm khán giả khoái chí
cười rần, trò vui nhứt ở đâu cũng thích là trò ông tướng thầy ba biết đi vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo.
Cha tôi đứng giữa sân khấu đất, ông rất dạn chuyện ăn nói, tiếng Tây tiếng Tàu, tiếng Miên ông biết mỗi
thứ một chút, ngoài ra còn những chuyện tiếu lâm ngắn làm mấy cô gái nghe nhằm đỏ mặt tía tai. Trên sân
diễn không hiếm chi chuyện ông gây lộn với khán giả, nếu như có ai nói sốc ông. Còn đám du thủ du thực,
chuyên môn móc túi sợ Cha tôi như thần, nếu Cha tôi trông thấy chúng nó móc túi ai, lập tức ông quên ông
đang là nghệ sĩ, ông nhảy tới tóm cổ nó thoi liền tại chỗ, ông có ngón đòn "sa bù lu" ra tay là bọn móc túi
lỗ mũi ăn trầu. Nhiều lần như vậy khiến cho Má tôi lo:
- Tụi nó móc túi người ta chớ nó móc túi ông đâu mà ông lo chuyện ba láp, nó thù vặt chém lén là mệt nha,
nó tiểu nhơn đánh lén sau lưng mình phải sợ chớ.
Nhưng Cha tôi vẫn vậy, nóng như Trương Phi, thấy chuyện bất bình chẳng tha. Khán giả miền quê vừa ớn
vừa khoái cha tôi mới là vui. Cha tôi rất ghét tay biện chà hống hách, cho nên khi nó nhờ ông nhổ cái răng,
ông cố ý nhổ cho nó nhảy dựng lên, làm cho ai cũng hả giận, mà tay biện chà khó nói điều gì. Sạc lô Trần
là một phần kỷ niệm của cô bác khán giả, sau này khi tôi đã lớn tuổi, nhiều người hỏi tôi, có phải là con
của Sạc lô Trần không, tôi thưa là phải, lập tức cô bác gởi lời thăm Cha tôi mạnh giỏi, với nụ cười trên
môi. Chính tôi cũng là một khán giả hâm mộ Cha tôi nhứt hạng. Trong đêm trường tĩnh mịch, tôi thường
thấy ông cặm cụi một mình chế biến những trò ảo thuật vui, lúc đó tôi thương Cha tôi không kể xiết, ông là
một nghệ sĩ cô độc, trong con người nhỏ bé này, có một tâm hồn nào khác hơn, trọng nghĩa khinh tài, khó ai
hiểu hết được.
Tôi không quên hình ảnh ông nơi sân khấu đất, sân khấu này quả là khó diễn hơn sân khấu rạp lớn, khán giả
ngồi rất gần, nhứt là đối với nghệ sĩ ảo thuật, sân khấu đất, có lẽ là như bây giờ người ta gọi là sân khấu
nhỏ.
Cần phải đủ bản lĩnh tiếp cận người xem. Cha tôi là một trong những kịch sĩ bẩm sinh, độc diễn giỏi, có
duyên nói, đi vào lòng người, ông đóng vai của chính ông, với nhiều sáng tạo, và đã đi vào những giai
thoại của khán giả bình dân. Người ta nói Sạc lô Trần dẫn con trâu qua ống chỉ, điều đó tôi chưa thấy mà
cũng không có ai thấy, những lời đồn đại này làm cho Cha tôi nổi tiếng thêm, nơi những chợ quê, khi đó
chưa có nhiều trò giải trí, nhiều nghệ sĩ tài năng hơn như hiện nay.
Tôi đang nghe tiếng chính tôi cười khi nhớ lại trò ông tướng thầy ba. Cha tôi rất tinh nghịch, ông vừa nói
giễu vừa xé một tờ giấy nhựt trình. Ông khéo tạo mảnh giấy vụn thành một hình nhân, ông trêu chọc hình
nhân này với nhiều lời bóng gió tay biện chà, khiến cho bà con đứng ngoài hả đã, cười ngất ngư..
- Đây là ông tướng thầy ba đui then hồi nhỏ khó nuôi, má ổng đen thui cho nên đặt ổng tên là ông lô xí sộ,
thầy ba ơi nói chuyện chút coi, thầy ba ơi.
- Ơi!
Có tiếng trả lời như tiếng con nít, làm cho khán giả hết hồn, thiệt ra chỉ có mình Cha tôi nói, đó là trò khẩu
thuật nói tiếng bụng, Cha tôi lại "hỏi" thầy ba rằng:
- Thầy đi vô nhà lồng chợ ăn cắp thịt heo được hông, trả lời?
- Được!
Tiếng thầy ba trả lời dẻo nhẹo, như bà bóng. Cha tôi hỏi:
- Thầy ba nói được là phải làm được nghe chưa. Bây giờ thầy ba chịu khó cho tui để thầy ba vô cái ống
này, khoan đừng có đi đâu nha cha nội, mấy bà già để tui lo cho, người cõi trên như thầy sao mà be he quá
vậy?
Biện chà có tiếng dê sòm, nghe vậy khán giả nhìn ông ta cười rộ lên. Tới đây Cha tôi bỏ hình nhân vô cái
ống thiếc tròn, cái ống này tôi phải lau chùi mỗi ngày, nó có hai ống, ống lớn che ngoài, ống nhỏ chứa sẵn
thịt heo.
Mỗi lần diễn trò này. Cha tôi dặn Má tôi đi chợ sớm, mua thịt heo ngon, để sau buổi diễn, kho thịt với hột
vịt cho cả nhà ăn. Tôi đánh trống theo lời nói của Cha tôi, ông thích tôi đánh trống, vì tôi hiểu ý ông. Thầy
ba đã nằm trong ống thiếc, Cha lại làm như lắng tai nghe:
- Ơi.
- Thầy ba nói trong này giống như đêm ba mươi, đen thui. Chịu khó chút nha thầy ba, chết chưa, cái ông
này chưa gì đi rồi, thầy ba lặn vô chợ rồi, thầy độn thổ rồi, bà con chờ chút sẽ thấy thầy ba ăn cắp thịt heo
về cho coi.
Ai cũng phải chờ, vì tò mò vốn là cái tánh chung của con người, chờ thầy ba đem thịt heo về cho nhãn tiền.
Trong lúc chờ, Cha tôi quảng cáo thuốc nhức răng, ông nói không có cái gì khổ cho bằng bệnh nhức răng,
vợ hun cũng đổ quạu, ông nhái điệu bộ của người nhức răng.
Cha tôi diễn hay tới mức giống hệt, tuy ông không còn cái răng thiệt nào. Ông mời một người đàn bà bước
vô sân, lúc đầu bà ta mắc cỡ, nhưng sau đó không vô không được vì bị những người khác đẩy vô:
- Hồi nhỏ tới bi giờ bà có nhức răng hông?
Cha tôi hỏi, bà kia trả lời:
- Dạ có, còn có một cái răng này thôi mà nó cũng nhức thấu trời?
Người đàn bà này chỉ còn một cái răng cửa.
- Bà có chồng chưa, có chồng rồi thì há miệng ra coi. Hai chuyện, có chồng hay nhức răng hoàn toàn khác
nhau, song bà này vẫn há miệng. Ai lại không có một vài lần nhức răng, nó vô cùng khó chịu, nhưng hầu
như không có thứ thuốc nào trị dứt, trong dân gian người ta lại nói, nhức răng là tại có con sâu ăn răng?
Cha tôi nói:
- Tôi để miếng bông gòn trong miệng bà, thuốc này bắt được con sâu ăn răng, nghe chưa.
Có hai chuyện bây giờ phải đứng chờ, đó là chờ ông tướng thầy ba đem thịt heo về, hai là chờ coi con sâu
ăn răng cho biết, bà này cũng chịu khó ngậm miếng bông gòn, với vẻ mặt tức cười. Lúc này Cha tôi giới
thiệu những chai thuốc nhức răng, và lấy miếng bông gòn trong miệng bà già ra để trên một cái đĩa, trên đó
bò lúc ngúc những con sâu "ăn răng". Cha tôi bán được khá nhiều chai thuốc nhỏ, đó là những chai dầu Nhị
Thiên Đường xài rồi trống không, ông pha chút rượu trắng với nước rễ cây, dán nhãn có hình Sạc lô với
cái cằm sưng vù và cái răng to tướng, chai thuốc là một món quà cay cay, vô thưởng vô phạt.
Về sau này khi tôi lớn lên tôi mới biết khó khi nào trị được bệnh nhức răng, khán giả mua thuốc nhức răng
của Cha tôi, như là mua vé coi ông vừa giễu vừa diễn xiệc ảo thuật cho vui, bà con cũng tha thứ không cằn
nhằn gì, coi như ăn trầu nhả bã, hút thuốc phà hơi mấy đồng bạc giây lát cũng tiêu tan.
- Bên này mua bên kia mua, lẹ tay thì còn chậm tay... cũng còn, chờ chút bà hai, đợi chút xíu ông tư ơi, bán
một tặng một, mua một chai tính tiền hai chai.
Có lẽ sân khấu tấu hài ăn nên làm ra một thời, mấy lúc hiện nay, là... nhờ Cha tôi chế ra cách nói chuyện
vui kiểu chai thuốc bắt con sâu ăn răng. Ông còn là tác giả khuyết danh của khá nhiều chuyện tức cười như
"con vịt ăn gì mà nó kêu cạp cạp" ông giải nghĩa rằng, con vịt ăn bắp, chỉ ăn bắp mới là cạp, giễu bình dân
vậy mà ai cũng khoái.
Cha tôi biết viết và nói tiếng Pháp, nghe đâu ông sinh ra trong một gia đình khá giả nhưng ông bỏ đi giang
hồ. Ông nói và sáng tác miệng thuộc loại giỏi. Ông có một cây viết "máy" hiệu Parker thường giắt trên nắp
túi không khi nào thấy ông viết gì, chỉ dùng để ký tên cho vui, ông có chữ ký kỳ lạ, nó như một cái hộp lớn
trong đó nhốt lại mỗi chữ "Trần". Chẳng mấy ai quan tâm thuốc của Sạc lô Trần có chữa khỏi bịnh hay là
không, nhiều người còn cười hả hê mua dùm Cha tôi nhiều miếng thuốc dán, đau đâu dán đó, bịnh gì cũng
hết? Vì Cha tôi hát mà không bán vé vào cửa cho nên thuốc cũng như tờ vé đứng, dùng để thưởng thức tài
nói "pha trò" của ông mà thôi.
Cha tôi trở lại cái đĩa, ông có vẻ lo lắng cho bà già:
- Trời ơi con sâu trong miệng nè, bà không sợ nó cắn đứt lưỡi bà sao bà? Ban đêm bà ngủ bà có nghe con
sâu nhai răng bà kêu cắc cắc không?
Thật ra đó cũng là ảo thuật, con sâu là những con mẻ từ hột cơm nguội, vô hại. Rồi như một lời tạ lỗi, cám
ơn khán giả, Cha tôi lập tức biểu diễn những trò khác rất hay, mà không bán một thứ "thuốc" nào nữa. Ông
lô xí sộ ăn cắp thịt trong nhà lồng chợ trở về, khi mở cái ống thiếc tròn, khán giả ồ lên một tiếng lớn, như
thần thoại, ai cũng thấy rõ một miếng thịt heo ngon. Ông tướng thầy ba đi chợ còn hơn "nình bà", ông khéo
lựa miếng thịt tươi rói, ai biết Má tôi còn là một người nội trợ nấu ăn ngon, nếu như trời không mưa, món
thịt kho hột vịt tuyệt cú mèo sẽ thay cho món "nước mắm rô ti" mặn rát lưỡi.
Tôi lại nghe tiếng tôi cười, nhưng cuộc đời không phải là một chuỗi cười thật sự vui, xâu chuỗi có nhiều
hạt lớn hạt nhỏ, hạt xấu hạt tốt, hạt cười hạt khóc, hạt hạnh phúc và vô hạnh, nó là xâu chuỗi vô thường.
Anh tôi ra sân, chú Tài "say" thay chỗ tôi đánh trống.
Chú đánh trống khá giỏi, tiếng trống của chú tôi không bắt chước được, nó có nhiều nhịp căng, có khi rời
rạc, có khi liên hồi, tôi hay lắng nghe tiếng trống của chú Tài khi chú lia nhẹ chiếc dùi ở rìa trống, không
thể giải thích được. Gần giống như người ta nghe nhạc giao hưởng, lạ thường thay nhiều khi những nốt nhạc
lại gợi nhớ hình ảnh nào đó, có lúc là một dòng sông, có lúc là một áng mây và có lúc làm nhớ tới một
người, tôi nào cho mình là người lương thiện, nhưng khi nghe tiếng trống tôi chợt nghĩ về Cha tôi. Tôi thấy
ông là hai con người, một là chính ông, tuyệt đối lương thiện, còn người thứ hai sao mà xa lạ với tôi tới
nỗi tôi ngạc nhiên và hổ thẹn, vì mình có những ý nghĩ đó với bậc sanh thành. Chẳng hạn như những đồng
tiền bán thuốc "nhức răng" nằm đầy trên tấm vải nhựa buổi sáng hôm nào, chẳng qua tôi là một kẻ kiêu
hãnh, làm dáng, chuyên rước cho mình nỗi khổ tâm, dù cho nó là những hạt cát vốn đã bẩn bụi trần gian.
Hình như tôi cũng có người thứ hai trong tôi, ai mà biết được, lần hồi tôi cho là có thật. Hai con người này
trong tôi không hoà thuận, một trầm tư sám hối, còn một có cơ phá phách, hỗn loạn, bất kham. Chúng như
một con gà chọi nhốt chung với một con vịt, một kẻ hung hăng thích xung đột, kẻ khác ngây thơ và hoàn
toàn thụ động.
Thông thường, xiệc rong bán thuốc, thời đó biểu diễn làm quà, nó không có nhiều trò lớn, vậy mà ghe hát
của Cha tôi có màn phóng dao. Khán giả không chỉ thích cười cợt, mà họ con thích cảm giác mạnh. Khổ
nổi Cha tôi lại là người đánh trống cho màn phóng dao, ông là một nghệ sĩ cầu toàn. Tất nhiên tiếng trống
của Cha tôi không thể nào chê, về sự điêu luyện, ông phối các âm thanh thường rất đơn điệu thành một
chuỗi tiếng động thúc giục, hấp dẫn, lôi cuốn, và hồi hộp. Khi anh tôi xuất hiện ở giữa sân, anh như một
ông Hoàng, với những lưỡi dao, trong tiếng trống trận mạc nôn nao. Còn tôi phải lủi thủi vác tấm ván
phóng dao từ dưới sông cạnh đó lên bờ, chen qua nhiều người như mọi lần. Em gái nhỏ của tôi, và cả anh
tôi, bước ra cúi chào khán giả. Em tôi là người đứng trước tấm ván.
Anh tôi là một người mà ai gặp, nếu đó lại là những cô con gái, thì khó thể nào quên, anh thật đẹp, nhứt là
khi anh ra sân khấu, mặc cho đó là sân khấu đất tàn tạ.
Như một Hoàng tử bị đày đoạ xuống cõi trần gian, vị Hoàng tử này vừa tội nghiệp vừa kiêu hãnh biết bao.
Anh tôi tới đây từ một lâu đài trong chuyện cổ tích, mái tóc anh đen nhánh, nuôi dài chải chuốt, da anh
trắng xanh, nụ cười mê hồn.
Còn tôi là ai? Từ trước khi tôi là một phôi thai chung dòng sữa Má với anh, chúng tôi không biết nhau
trước, nhưng bây giờ vị Hoàng tử là anh ruột của tôi, tội nghiệp là anh cũng đói khổ cùng cực như mọi
người trong "Hoàng gia" chiếc ghe hát của chúng tôi có 6 người, Cha tôi, Má tôi, anh em tôi và chú Tài
"say". Cuộc sống trôi giạt, giả thật qua nhiều năm tháng, điều tôi khổ nhứt là trái tim quá đỗi nhạy cảm của
tôi, nó thổn thức từ khi tôi chưa đủ hình hài, trôi theo tôi sau chiếc ghe hát, trên những dòng sông là tấm
ván phóng dao, đầy thương tích như nỗi đau của kiếp người.
Thời thơ ấu của tôi, của anh em tôi cứ vậy, chầm chậm trôi theo những dòng sông vui buồn, trong cơ khổ
đói khát với hoàn cảnh riêng biệt không giống ai. Vì vậy mà tôi trở nên rất ít nói, có khi nhiều ngày liền tôi
không nói một tiếng, làm cho Cha tôi, nhứt là Má tôi cứ tưởng rằng tôi bị ai đó cắt mất lưỡi. Tôi chỉ thầm
nói trong cái đầu nhỏ của tôi hai chữ "tại sao" rồi cúi đầu nhẫn nhục, chịu đựng, bởi không ít người nhìn
chúng tôi với đôi mắt chê trách, khinh miệt bầy xướng ca vô loài, mặc dù chúng tôi có ca hát chi đâu? Tôi
sống phiêu linh một kiếp lục bình trôi nổi, thời tuổi nhỏ của tôi đi và sống qua nhiều nơi, buộc lòng tôi
phải thấy nhiều, suy nghĩ nhiều hơn những thằng nhỏ khác. Đôi khi tôi ngồi cười một mình, Má tôi cứ tưởng
tôi bị tâm thần hay ma ám, Má đâu có biết con rơi nước mắt vì những điều khổ tâm quá sức con, người Má
bình thường này nào đâu đã biết mình sinh ra một con người dị tật, nó có một trái tim quá lớn. Mưa vẫn rơi
vào những tháng mười với tiếng trống, và trò phóng dao, bên bãi sông cuối chợ sáng chiều, nỗi đau luôn
trở lại bất cứ lúc nào trong cuộc đời sau này của tôi, một vở bi hài kịch trúc trắc.
***
Tấm ván dùng để phóng những lưỡi dao, gồm có ba mảnh ván nhỏ ghép lại, phía sau nó có hai thanh gỗ
chặn, một dưới thấp gần bàn chân tôi, còn hai dùng cho tôi giữ nó đứng thẳng. Tấm ván cao khỏi đầu tôi
khi tôi đứng sau nó, còn cao hơn em gái tôi đứng ở phía trước nhiều.
Cha tôi nhờ người thợ mộc chuyên đóng hòm đóng tấm ván này, đáng lý bằng gỗ thông mềm, nhưng rồi trại
hòm không có loại ván này, nó được đóng bằng gỗ dầu cứng, khổ nỗi tấm ván quá cứng, không "ăn" dao,
cho nên ngoài việc đứng làm chú hề con mỗi đêm, phụ diễn với Cha tôi, ban ngày tôi còn phải tưới nước
cho tấm ván mềm đi.
Cha quyết định bán chiếc ghe, lên bờ lập một đoàn xiệc nhỏ, trong đó có lý do đường sông lúc sau này có
cướp mà cướp thì không từ ai...
Chúng tôi được đi xe hơi, đi tới đâu chú Tài "say" tìm mướn xe tới đó, nay chú được lên chức quản lý, đi
xin phép hát. Cha tôi không còn hát sân đất, bán những chai, thuốc nhức răng nữa, mà là một ông bầu, khá
nhiều nghệ sĩ hát rong kéo về hợp tác. Có chú Phi Long trước đây là nghệ sĩ phóng dao, nay chuyên đi dây
thép trên cao, đặc biệt là chú đi guốc, đi xe đạp một bánh trên dây, có bác Hai Đại Bàng chuyên xiệc trên
chiếc xe đạp kiểu, bác Hai cũng diễn ảo thuật, chú Lê Bân là người miền Bắc chuyên về trò đạp chiếc
thang cao, với đứa con gái, nhỏ leo lên uốn dẻo. Một ban nhạc đệm nữa chớ, gồm tay đàn măng-đô-lin,
ông tên là Bà Kim Cương, người đàn ông mù hết sức sạch sẽ, vui tính, người vợ suốt ngày cằn nhằn, với
đứa con gái không làm gì ráo, chỉ biết khóc, chú Bảy Hơn một người trước kia thổi kèn đám ma, và một
tay trống, chú tên là Thành cái thùng trống là gia tài lớn của chú, chú Bê ốm nhách, hoạ sĩ vẽ quảng cáo,
với bà vợ ho lao.
Ngoài ra còn có gia đình một người Hoa Miến Điện, gồm người chồng chuyên về trò chồng người, bốn
người con, hai trai hai gái biểu diễn trò khéo, một gia đình người Hoa Chợ Lớn khác, người cha làm hề
xiệc, cô con gái khá đẹp tung hứng. Cha tôi làm Sạc-lô, một tiết mục khác, ông giả trang thành người Ấn
Độ nuốt lửa và trò tàng hình, chú Chín Chim làm hề ngoài cửa, anh tôi là nghệ sĩ phóng dao. Đoàn xiệc duy
nhứt lúc đó trong miền Nam là đoàn Nghệ Tinh của ông bầu Trần, chúng tôi hát ở những rạp khá lớn, nhiều
nơi.
Má tôi không biết chữ, nhưng nhờ đi đây đi đó quá nhiều, cho nên nói chuyện rất hay, bà hay đi coi bói,
sau đó thuộc tuồng, lại bói cho người khác. Những buổi trưa trong rạp hát vắng người, bà coi bói cho
người trong đoàn. Còn tôi lúc nào cũng kê tấm ván phóng dao trên một hàng ghế nằm nhìn lên trần rạp: Má
tôi là người tằn tiện, chính bà dành dụm được một số tiền trong thời gian Cha tôi làm nghề bán thuốc để
cho Cha lập gánh hát.
Má tôi có khách ngoài tới coi bói lúc nào tôi không biết, nhưng khi tới một rạp hát nào, bên cạnh phòng vé
bà cũng cho dán một bảng hiệu riêng, do chú Bê vẽ, trên đó có một bàn tay, với những lá bài tây, lâu dần
khán giả tới coi bói khá đông. Thu nhập của Má tôi có vẻ tức cười, nhưng Cha tôi không có ý kiến, riêng
ông thỉnh thoảng cũng có người bệnh... đau răng tới mua chai thuốc, hay nhờ ông nhổ dùm cái răng đau, ông
còn có nghề cắt mây hay lột cườm trong mắt, một Đông Y sĩ bẩm sinh, khá mát tay.
Anh tôi ít khi có mặt trong rạp, chỉ có khi tới màn biểu diễn của anh, vào ban đêm, tới đâu, lúc nào anh
cũng hay ngồi ngoài quán nước với những người bạn, anh luôn luôn có bạn, họ ngồi rất lâu, có khi là cả
ngày trong quán nước hay quán cà phê giống như anh, những người bạn lạ mặt này trầm tính, nhưng khó
biết họ từ đâu tới, làm nghề gì, nói chuyện gì. Cha tôi thì luôn đi đâu đó với chú Tài "say", còn em gái tôi
lúc nào cũng nằm trong một góc tối với xâu chuỗi và quyển kinh.
Giữa trưa, tôi nằm trên tấm ván phóng dao nghe Má tôi bói bài cho một bà khách, một điều tôi phải công
nhận là Má tôi có năng khiếu coi bói... bẩm sinh, bà lại ưa quan sát, có thói quen bắt chước giỏi, lại nhiều
tưởng tượng, bà còn thuộc lòng nhiều chuyện đời xưa, số vốn này vô tình khiến cho Má tôi dẫn dắt câu
chuyện bói toán trơn tru:
- Theo như lá bài này, con đầm chuồn này cho tui biết thì... hồi nhỏ bà bị bịnh nặng lắm.
Má tôi trang bài, lật ra một con nói với bà khách, tôi thầm nghĩ, có người nào lúc còn nhỏ lại không bịnh
này bịnh kia, chí ít cũng nóng ho. Bà khách giật mình:
- Dạ có tui đau ban khỉ, sém chết.
- Thấy chưa, tui nói không sai, bà còn té nữa phải không, té xuống nước, cái mạng bà lớn lắm đó nha...
- Dạ có tui té xuống giếng, may là má tui hay kịp vớt lên, không thì tui chết rồi, rồi cái, tui bịnh ban cua tóc
rụng hết ráo, còn nữa, hồi hai tuổi tui nghe má tui nói lại, tui té xuống sông, chìm lỉm, vớt lên chết luôn
mấy ngày, không biết sao bỏ vô hòm rồi tự nhiên tui sống dậy, rồi cái tự nhiên bây giờ tánh tui hơi tưng
tưng.
- Ông bà khuất mày khuất mặt quở, biết sao hông, tại song thân của bà đặt tên bà quá đẹp, kỵ huý. Nhờ kiếp
trước bà ăn ở nhơn đức hay giúp người cho nên quới nhơn độ mạng, cứu bà đó nghen.
- Ờ tui nhớ rồi, má tui nói hồi bốn năm tuổi tui đẹp mà dễ thương lắm, rồi cái ba má tui đặt tên tui là Mộng
Hoa, hèn chi ông bà quở, bây giờ làm sao đây bà. Tui cũng hiền như cục bột, đứa con nít trong xóm, tui
cũng không dám mích lòng, mà sao kỳ, tui... khổ triền miên.
- Tôi nói cái này bà đừng sợ, có người ghen ghét bà muốn hại bà.
- Trời ơi ai mà ác nhơn sát đức vậy không biết?
Tôi ngẫm nghĩ đây không phải là coi bói thông thường mà hai người đàn bà tâm sự với nhau, ai cũng đã
qua thời con gái, giờ nuối tiếc kiếm cớ nhắc lại, đôi khi chỉ để khen mình. Má tôi xào bộ bài tây:
- Con đầm rô này, người nữ này hại bà chớ ai vô đây, còn thằng tây già này là chồng hiện tại của bà, bà có
tới bốn đời chồng, mà không lần nào trọn chuyện tình ngãi. Chồng bà lớn tuổi hơn bà phải không, bà phải
có người chồng nhỏ tuổi hơn, bà mới có hạnh phúc.
Tôi lại nghĩ, tất nhiên là vậy rồi, bao giờ thì trong các cuộc hôn nhân người chồng luôn lớn tuổi hơn người
vợ. Bà khách có vẻ hối tiếc, số phận người phụ nữ thật truân chuyên.
Vẻ hối tiếc hiện rõ trên khuôn mặt người đàn bà này, nó đã có quá nhiều nếp nhăn theo thời gian. Má tôi
chỉ một con bài:
- Hồi còn trẻ bà hết lòng thương người trai này, tức là ở kế bên nhà bà, nhưng hai bên gia đình không đồng
ý, trắc trở cho tới bây giờ, đúng chưa.
Bà khách bật khóc, bây giờ chỉ còn một mình bà nói, còn Má tôi lắng nghe, câu chuyện thật dài, cho tới
trời xẩm tối. Bà khách trả tiền công coi bói ch...
 








Các ý kiến mới nhất