Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

skkn vật lí 10

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 10h:35' 24-03-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BÁO CÁO BIỆN PHÁP

SỬ DỤNG BÀI TẬP THỰC TẾ CHƯƠNG ĐỘNG LỰC
HỌC CHẤT ĐIỂM VẬT LÝ 10 NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH

MỤC LỤC

MỤC LỤC.............................................................................................................2
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.....................................................................3
PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................1
1. Bối cảnh của đề tài........................................................................................1
2. Lý do chọn đề tài...........................................................................................2
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu..................................................................3
4. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................3
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu..............................................................3
PHẦN NỘI DUNG................................................................................................5
1. Cơ sở lý luận..................................................................................................5
2. Thực trạng của vấn đề...................................................................................6
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề..........................................7
4. Hiệu quả mang lại của sáng kiến.................................................................22
5. Khả năng ứng dụng và triển khai................................................................24
6. Ý nghĩa của sáng kiến..................................................................................25
PHẦN KẾT LUẬN.............................................................................................26
1. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng các biện pháp
.........................................................................................................................26
2. Những kiến nghị, đề xuất để triển khai, ứng dụng các biện pháp vào thực tế
.........................................................................................................................26

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Ý nghĩa

1

THPT

Trung học phổ thông

2

GQVĐ

Giải quyết vấn đề

3

HS

Học sinh

4

GV

Giáo viên

5

NL

Năng lực

6

PP

Phương pháp

7

TB

Trung bình

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh của đề tài
Chúng ta đang sống trong một xã hội ngày càng đa dạng, với xu thế toàn cầu
hóa lôi cuốn sự hội nhập của mọi quốc gia trên thế giới. Những thay đổi và phát triển
liên tục ở mọi khía cạnh của cuộc sống đã đặt ra những thách thức cho ngành giáo dục
trong việc đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu mới của thời đại.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo
hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ
năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học”.
Vì thế, để thực hiện tốt về mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và
Đào tạo theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, chúng ta cần có nhận thức đúng về bản chất
của sự đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.
Trong đó, năng lực giải quyết vấn đề là 1 trong 10 năng lực chung của học sinh được
đề cập đến trong Chương trình giáo dục phổ thông mới. Mục tiêu chính của đổi mới
giáo dục là tạo ra những con người đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Vì vậy cần luyện
tập cho học sinh biết phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập, trong cuộc sống và
cả trong cộng đồng.
Từ những năm 1960, giáo viên Việt Nam đã làm quen với thuật ngữ “dạy học
nêu vấn đề”, nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo. Trước hết, cần tập cho
học sinh khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập hoặc thực tế. Đây
là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi người và không dễ dàng gì có
được. Sự thành đạt của mỗi người không chỉ tùy thuộc vào năng lực phát hiện kịp thời
những vấn đề nảy sinh trong thực tế mà còn phải biết giải quyết nó một cách hợp lí. Vì
vậy, ngay từ khi còn ở ngồi trên ghế nhà trường, học sinh cần phải được luyện tập
năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề.
Vật lý là môn học thực nghiệm, kiến thức Vật lý được vận dụng rất nhiều trong
thực tế cuộc sống, do đó thông qua bài tập thực tế học sinh được mở rộng tri thức, rèn
luyện khả năng tư duy, tính kiên nhẫn và vận dụng những kiến thức được học vào giải
quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên, chương trình dạy và học Vật lý phổ

1

thông hiện nay còn nặng về lí thuyết và các bài tập tính toán khô khan đã làm hạn chế
khả năng tư duy và vận dụng sáng tạo của học sinh Việt Nam so với bạn bè quốc tế.
Thực tế ở các trường phổ thông số lượng học sinh theo khối có môn Vật lý giảm sút đi
nhiều so với thời gian trước đây. Do vậy, việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
thực tế để phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh là cần thiết.
2. Lý do chọn đề tài
Trong chương trình Vật lý lớp 10, kiến thức về động lực học chất điểm có nội
dung rất phong phú, đa dạng và gần gũi với thực tế. Các kiến thức về động lực học
chất điểm không chỉ sẽ giúp học sinh tìm hiểu những nội dung liên quan đến kiến thức
sau này mà quan trọng hơn nó giúp học sinh giải thích được nhiều hiện tượng sẽ gặp
trong thực tế đời sống. Vì vậy, việc sử dụng bài tập thực tế về động lực học chất điểm
để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh ở trung học phổ thông là vấn đề
mang tính cấp thiết, cần được quan tâm nghiên cứu.
Qua nhiều năm dạy học, tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của mình
năng động sáng tạo hơn, hứng thú trong học tập, giờ học bớt căng thẳng, bớt áp lực,
làm sao để các em có cảm giác “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”, để rồi thông
qua mỗi giờ học các em sẽ nhận được kĩ năng giải quyết một số vấn đề thực tế chứ
không chỉ là những kiến thức khô khan.
Việc giải quyết những vấn đề thực tế giúp người học thấy được các biểu hiện
của kiến thức trong thực tế, đồng thời tích lũy được kinh nghiệm về cách thức xây
dựng kiến thức và vận dụng chúng phục vụ cho đời sống con người. Từ đó học sinh
tiếp cận với thực tế, thực hành, huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm
sẵn có và cảm xúc của cá nhân để tương tác trực tiếp với đối tượng học tập, giải quyết
nhiệm vụ nhận thức, từ đó tích lũy những kinh nghiệm mới. Những kinh nghiệm mới
này được chuyển hóa thành tri thức và kĩ năng mới, kinh nghiệm mới, hiểu biết mới,
năng lực mới, thái độ và giá trị mới của người học.
Với sự quan trọng của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tế cho học
sinh, đồng thời để đảm đảm mục tiêu môn học và để mỗi giờ dạy môn Vật lý sôi nổi,
HS không còn cảm thấy căng thẳng mà rất háo hức mong đợi, học sinh trong lớp hoạt
động tích cực và đồng đều, các em mạnh dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc,… từ đó
các em tự chiếm lĩnh kiến thức, ghi nhớ một cách bền vững, áp dụng kiến thức tốt hơn
do đó mà kết quả học tập cũng được nâng cao, tôi mạnh dạn xây dựng đề tài “Sử dụng
bài tập thực tế chương động lực học chất điểm Vật lý 10 nhằm phát triển năng lực
giải quyết vấn đề cho học sinh”.

2

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.1. Phạm vi nghiên cứu
Trường ..........................................................., khối 10, môn Vật lý, chủ đề
Động lực học chất điểm.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các lớp 10A1 và 10A2.
4. Mục đích nghiên cứu
Hình thành phát triển ở học sinh năng lực giải quyết vấn đề thực tế thông qua
chủ đề Động lực học chất điểm môn Vật lý 10, giúp học sinh nhận thức rõ vai trò của
môn học trong thực tế để học sinh hứng thú trong mỗi giờ học. Đồng thời góp phần
cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm
chất chủ yếu và năng lực chung. Phát triển được năng lực tư duy, năng lực tự học cũng
như năng lực làm việc với tập thể của học sinh. Không những giúp cho kết quả học tập
của học sinh được nâng cao trong quá trình học tập mà còn tạo ra các kĩ năng làm việc
cho học sinh sau khi ra trường đi làm, phát triển bản thân.
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc
phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập. Nhà giáo dục người Đức là
Disterverg đã khẳng định đúng đắn rằng: “Người giáo viên tồi truyền đạt chân lý,
người giáo viên giỏi dạy cách tìm ra chân lý”. Điều này có nghĩa rằng người giáo viên
không chỉ giới hạn công việc của mình ở việc đọc cho học sinh ghi chép những kiến
thức có sẵn, bắt các em thuộc lòng rồi kiểm tra điều ghi nhớ của các em thu nhận được
ở bài giảng của giáo viên hay trong sách giáo khoa. Điều quan trọng là giáo viên cung
cấp cho các em những kiến thức cơ bản (bao gồm kiến thức khoa học, sự hiểu biết về
các quy luật, nguyên lý và các phương pháp nhận thức) làm cơ sở định hướng cho việc
khám phá các kiến thức mới, vận dụng vào học tập và cuộc sống. Vì vậy việc khơi
dậy, phát triển tri thức, ý chí, năng lực bồi dưỡng, rèn luyện về học tập là con đường
phát triển tối ưu của giáo dục. Đó chính là con đường lấy học sinh làm trung tâm, làm
chủ thể của việc nhận thức với sự hướng dẫn, giáo dục tích cực có hiệu quả của giáo
viên, điều này được thực hiện trên cơ sở hoạt động tích cực, tự giác của học sinh được
gọi là phương pháp dạy học mới để phân biệt với phương pháp dạy học cũ còn gọi là
kiểu dạy học truyền thống.

3

Đề tài của tôi sau khi áp dụng đã đạt được một số kết quả đáp ứng được yêu cầu
của phương pháp dạy học mới với những điểm như sau:
+ Về mặt lý luận: Đề xuất được một số biện pháp để phát triển năng lực giải
quyết vấn đề của học sinh trung học phổ thông.
+ Về mặt thực tế: Thiết kế và xây dựng được hệ thống câu hỏi bài tập thực tế
trong chương trình Vật lý lớp 10 chủ đề Động lực học chất điểm để phát triển năng lực
giải quyết vấn đề cho học sinh.

4

PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
1.1. Cơ sở lý luận về bài tập thực tế
Dạy học Vật lý gắn liền với thực tế là mong muốn của rất nhiều GV Vật lý. Bởi
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với cuộc sống con người. Nếu HS thấy
được sự gần gũi giữa kiến thức bộ môn với thực tế các em sẽ yêu thích môn Vật lý
hơn, hứng thú tìm hiểu khoa học, có thêm kĩ năng sống, ý thức bảo vệ môi trường tốt
hơn và có năng lực vận dụng kiến thức tốt hơn. Theo tôi, việc đưa các kiến thức Vật lý
gắn liền với thực tế trong quá trình dạy học đem lại nhiều lợi ích:
- Học sinh tiếp nhận kiến thức đó một cách tự nhiên, nhớ kiến thức được lâu
hơn, hiểu được tầm quan trọng của kiến thức trong thực tế, từ đó tăng hứng thú học tập
và tìm hiểu kiến thức.
- Kích thích học sinh tìm hiểu, giải thích các hiện tượng thực tế đời sống, đặt
các giả thuyết và nghiên cứu.
- Có kiến thức thực tế sẽ thúc đẩy việc gắn kiến thức lý thuyết và thực hành
trong nhà trường với thực tế đời sống, đẩy mạnh thực hiện dạy học theo phương châm
“ học đi đôi với hành”.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc gắn bài học với các nội dung có liên
quan tới thực tế còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Nhiều bài tập Vật lý còn rất xa vời
thực tế cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến các tính toán phức tạp. Để phần nào
đáp ứng được nhu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập môn Vật lý phổ
thông theo hướng gắn với thực tế nên trong đề tài tôi tuyển chọn và xây dựng thêm
một số kiến thức lý thuyết và bài tập Vật lý dạng này, đồng thời đưa chúng vào trong
dạy học với phương pháp phù hợp nhằm góp phần nâng cao hứng thú học tập cho HS
THPT.
1.2. Cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề
a. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kĩ năng (thao
tác tác duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những
nhiệm vụ của bài toán.
Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình
huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham

5

gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và
xây dựng (Định nghĩa trong đánh giá PISA, 2012).
b. Ý nghĩa của việc hình thành và phát triển năng lực GQVĐ cho người học
- Sự hình thành và phát triển năng lực GQVĐ giúp HS hiểu và nắm chắc nội
dung cơ bản của bài học. Từ đó HS có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức xã
hội của mình.
- Sự hình thành và phát triển năng lực GQVĐ giúp HS hình thành kỹ năng giao
tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, hoà nhập cộng đồng.
- Sự hình thành và phát triển năng lực GQVĐ giúp GV có thể đánh giá một
cách khá chính xác khả năng tiếp thu của HS và trình độ tư duy của học sinh, tạo điều
kiện cho việc phân loại HS một cách chính xác. GV có thể trực tiếp uốn nắn những
kiến thức sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho HS.
Một trong những biện pháp phát triển năng lực GQVĐ hiệu quả nhất cho HS là
phát triển cho HS khả năng vận dụng kiến thức từ môn học để giải quyết những vấn đề
thực tế có liên quan, đôi khi từ những vấn đề thực tế sau khi HS giải quyết, HS tự tìm
hiểu được những kiến thức mới của môn học. Đó là lí do tôi đưa ra một số biện pháp
sau:
2. Thực trạng của vấn đề
Trong quá trình dạy học ở trường THPT ………………, tôi nhận thấy rằng:
Kiến thức của HS còn hời hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệ với thực tế sinh động của
sản xuất và đời sống. Nhiều HS chưa nắm chắc các khái niệm Vật lý cơ bản, chưa hiểu
được các hiện tượng Vật lý thông thường xảy ra trong đời sống và sản xuất, HS chưa
biết liên hệ với kiến thức đã học để giải thích. HS tiếp thu kiến thức ở lớp còn thụ
động, ít suy nghĩ về bài học, thuộc bài một cách máy móc, nên còn lúng túng khi phải
độc lập vận dụng kiến thức của mình. Về nhà HS học bài còn nặng về học thuộc lòng.
GV ít liên hệ kiến thức Vật lý với thực tế. Do cách thi cử có ảnh hưởng quan
trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có
nội dung gắn với thực tế. Do vậy, đa số GV chỉ đưa những kiến thức Vật lý thực tế vào
các hoạt động ngoại khóa, còn những tiết học tuyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào
hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì GV chỉ tập trung
các kĩ năng khác có nội dung thuần túy Vật lý để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài
kiểm tra.
Chính vì thế vốn hiểu biết thực tế của HS về các hiện tượng có liên quan đến
Vật lý trong đời sống hàng ngày còn ít.

6

Giải pháp của chúng tôi đưa ra là thiết kế và sử dụng bài tập thực tế trong các
bài học nhiều hơn, có thể dùng trong nhiều trường hợp như nghiên cứu tài liệu mới,
củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kiểm tra, đánh giá kiến thức.
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.1. Nguyên tắc xây dựng bài tập thực tế
- Phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại:
+ Trong một bài tập Vật lý thực tế, bên cạnh nội dung Vật lý, còn có những dữ
liệu thực tế. Những dữ liệu đó cần phải được đưa vào một cách chính xác, không tuỳ
tiện thay đổi nhằm mục đích dễ tính toán.
+ Đối với một số bài tập về sản xuất Vật lý, nên đưa vào các dây chuyền công
nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên thế giới, không nên đưa các công nghệ
đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng.
- Phải gần gũi với kinh nghiệm của HS: Những vấn đề thực tế có liên quan đến
Vật lý thì rất nhiều và rộng. Nếu bài tập thực tế có nội dung về những vấn đề gần gũi
với kinh nghiệm đời sống và môi trường xung quanh HS thì sẽ tạo cho họ động cơ và
hứng thú mạnh mẽ khi tiếp nhận và giải quyết vấn đề.
- Phải sát với nội dung học tập: Các bài tập thực tế cần có nội dung sát với
chương trình mà HS được học. Nếu bài tập thực tế có nội dung hoàn toàn mới về kiến
thức Vật lý thì sẽ không tạo được động lực cho HS để giải bài tập đó.
3.2. Quy trình các bước thực hiện lồng ghép câu hỏi liên quan đến vấn đề thực tế
+ Bước 1: Xác định mục tiêu bài học.
+ Bước 2: Lựa chọn nội dung lồng ghép từ ngân hàng các câu hỏi có liên hệ
thực tế để đưa vào bài học.
+ Bước 3: Lựa chọn hoạt động để lồng ghép phù hợp.
+ Bước 4: Thiết kế hoạt động dạy học.
3.3. Tiến trình dạy học phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh
+ Bước 1: Đặt vấn đề. GV hoặc HS phát hiện vấn đề, nhận dạng vấn đề, nêu
vấn đề cần giải quyết.
+ Bước 2: Tạo tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề thường xuất hiện
khi: nảy sinh mâu thuẫn giữa điều HS đã biết và điều đang gặp phải, gặp tình huống bế
tắc trước nội dung mới hay gặp tình huống, xuất phát từ nhu cầu nhận thức tại sao.

7

+ Bước 3: GQVĐ. GV hoặc HS đề xuất cách GQVĐ khác nhau (nêu giả thuyết
khác nhau), thực hiện cách giải quyết đã đề ra (kiến thức giả thuyết).
+ Bước 4: Kết luận vấn đề. Phân tích để chọn cách giải quyết đúng (lựa chọn
giả thuyết đúng và loại bỏ giả thuyết sai). Nêu kiến thức hoặc kĩ năng, thái độ thu nhận
được từ GQVĐ trên.
3.4. Một số biện pháp lồng ghép trong quá trình dạy học
a. Lồng ghép vào hoạt động khởi động
Lồng ghép vấn đề liên quan đến thực tiễn vào hoạt động khởi động nhằm tăng
hứng thú học tập, kết nối kiến thức bài cũ và bài mới từ đó để kích thích học sinh
chiếm lĩnh kiến thức.
Ví dụ bài – Định luật I Newton
Bài tập 1: Mô tả và giải thích điều gì xảy ra đối
với hành khách ngồi trong ô tô ở các tình huống
sau:
a) Xe đột ngột tăng tốc.
b) Xe phanh gấp.
c) Xe rẽ nhanh sang trái.
Hướng dẫn giải
a) Khi xe đột ngột tăng tốc thì hành khách sẽ ngả người về phía sau. Vì theo quán tính,
khi xe tăng tốc đột ngột thì người ngồi trong xe có xu hướng bảo toàn vận tốc cả về
hướng và độ lớn, nên khi xe tiến về phía trước đột ngột thì người chưa kịp thay đổi
theo nên có xu hướng ngả về phía sau.
b) Khi xe phanh gấp thì hành khách sẽ ngả người về phía trước. Vì khi ô tô đang
chuyển động thì cả ô tô và người đều chuyển động. Khi ô tô phanh gấp thì ô tô dừng
lại còn hành khách trong xe theo quán tính nên vẫn di chuyển về phía trước.
c) Khi xe rẽ nhanh sang trái thì người sẽ nghiêng về phía bên phải. Vì khi xe đang
chuyển động thì người và xe chuyển động cùng một hướng. Nhưng khi xe rẽ trái thì
người theo quán tính vẫn chuyển động theo hướng cũ nên bị nghiêng về bên phải.

8

Bài tập 2: Để tra đầu búa vào cán búa, nên chọn cách nào dưới
đây? Giải thích tại sao.
a) Đập mạnh cán búa xuống đất như hình 1
b) Đập mạnh đầu búa xuống đất như hình 2
Hướng dẫn giải
Ta nên chọn cách đập mạnh cán búa xuống đất như a. Vì khi đập cán búa xuống
đất, khi chạm đất thì cán búa dừng lại đột ngột, theo quán tính đầu búa vẫn có xu
hướng bảo toàn vận tốc cả về hướng và độ lớn nên vẫn tiếp tục đi xuống. Do vậy, đầu
búa sẽ dễ tra vào cán hơn và chắc chắn hơn.
Bài tập 3: Giải thích tại sao: Khi đặt cốc nước lên tờ giấy mỏng,
giật nhanh tờ giấy ra khỏi đáy cốc thì cốc vẫn đứng yên.

Hướng dẫn giải
Cốc nước đang đứng yên, khi giật tờ giấy ra, theo quán tính, cốc nước không
thể di chuyển theo ngay lập tức mà cần một chút thời gian. Nhưng do thời gian giật tờ
giấy ra quá ngắn, không đủ để cốc nước thay đổi trạng thái từ đứng yên sang chuyển
động nên cốc nước vẫn đứng yên.
Ví dụ bài – Định luật III Newton
Bài tập 1: Xét trường hợp con ngựa kéo xe như
hình bên. Khi ngựa tác dụng một lực kéo lên xe,
theo định luật III Newton sẽ xuất hiện phản lực
có cùng độ lớn nhưng ngược hướng so với lực
kéo. Vậy tại sao xe vẫn chuyển động về phía
trước?
Hướng dẫn giải
Lực do ngựa kéo xe và phản lực do xe tác dụng lên ngựa có độ lớn bằng nhau,
ngược chiều nhưng điểm đặt của hai lực này nằm trên hai vật khác nhau nên hai lực
này không cân bằng. Vì vậy xe vẫn chuyển động về phía trước

9

Bài tập 2: Giải thích tại sao các vận động viên khi bơi tới mép hồ bơi và quay lại
thì dùng chân đẩy mạnh vào vách hồ bơi để di chuyển nhanh hơn.

Hướng dẫn giải
Các vận động viên khi bơi tới mép hồ bơi và quay lại thì dùng chân đẩy mạnh
vào vách hồ bơi để đi chuyển nhanh hơn là vì khi VĐV tác dụng lực vào vách hồ bơi
thì vách hồ bơi cũng sẽ tác dụng một lực lên chân của VĐV. Lực này giúp các VĐV có
đà di chuyển nhanh hơn.
Bài tập 3: Khi ta ném một quả bóng vào tường thì quả bóng sẽ bay ngược trở lại
nhưng tường thì không thay đổi. Hãy giải thích hiện tượng này.

Hướng dẫn giải
Bóng bay đến đập vào tường, bóng tác dụng lên tường một lực thì tường cũng
tác dụng ngược lại một lực vào bóng, hai lực xuất hiện đồng thời, cùng độ lớn, ngược
chiều và đặt vào hai vật khác nhau nên làm bóng bay ngược lại, tường đứng yên do nó
rất vững chãi.
b. Lồng ghép vào hoạt động hình thành kiến thức
Lồng ghép vấn đề liên quan đến thực tiễn vào hoạt động hình thành kiến thức
nhằm tăng hứng thú học tập bài mới, từ đó để kích thích học sinh chủ động, sáng tạo
trong lĩnh hội kiến thức.

10

Ví dụ bài – Tổng hợp và phân tích lực
Bài tập 1 (SGK Chân trời sáng tạo): Một người đang gánh lúa như hình bên.
Hỏi vai người đặt ở vị trí nào trên đòn gánh để đòn gánh
có thể nằm cân bằng trong quá trình di chuyển? Biết khối
lượng hai bó lúa lần lượt là
,
và chiều dài
đòn gánh là 1,5 m. Xem như điểm treo hai bó lúa sát hai
đầu đòn gánh và bỏ qua khối lượng đòn gánh.
Hướng dẫn giải
- Trọng lượng của mỗi bó lúa lần lượt là:

- Áp dụng quy tắc tổng hợp hai lực song song
cùng chiều:

- Lại có, chiều dài đòn gánh là 1,5 m nên:
- Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình:

Vậy phải đặt vai trên đòn gòn cách đầu A 1 đoạn 62,5 cm và đầu B một đoạn 82,5 cm
thì gánh lúa nằm cân bằng
Bài tập 2: Một tấm ván nặng 240 N được bắc qua
một con mương, Trọng tâm của tấm ván cách điểm
tựa A 2,4 m và cách điểm tựa B 1,2m. Hỏi lực mà
tấm ván tác dụng lên điểm tựa A bằng bao nhiêu?
Hướng dẫn giải
-



là hai lực song song cùng chiều nên:

(1)

11

- Áp dụng quy tắc tổng hợp hai lực song song
cùng chiều:

- Từ (1) và (2), suy ra
Ví dụ bài – Định luật II Newton
Bài tập 1: Một xe bán tải khối lượng 2,5 tấn đang di chuyển trên cao tốc với tốc
độ 90 km/h. Các xe cần giữ khoảng cách an toàn so với xe phía trường 70m. Khi
xe đi trước có sự cố và dừng lại đột ngột. Hãy xác định lực cản tối thiểu để xe
bán tải có thể dừng lại an toàn.
Hướng dẫn giải
- Đổi 2,5 tấn = 2500 kg; 90 km/h = 25 m/s
- Khi xe trước dừng đột ngột, để có thể dừng lại an toàn không xảy ra va chạm, thì
quãng đường tối đa xe phía sau đi được từ lúc hãm phanh đến lúc dừng là 70m.
- Gia tốc của xe là:

,
dấu “-“ thể hiện xe đang chuyển động chậm dần.
- Lực cản tối thiểu để xe sau dừng lại an toàn là:

Bài tập 2: Một người công nhân đẩy chiếc xe trượt có khối lượng m bằng 240 kg
qua đoạn đường 2,3m trên một
mặt hồ đóng băng không ma sát.
Anh ta tác dụng một lực
theo
phươn
 
Gửi ý kiến