SKKN: SỬ DỤNG BIỂU ĐỒ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Văn Rỗ (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:14' 10-10-2008
Dung lượng: 39.5 KB
Số lượt tải: 29
Nguồn:
Người gửi: Huỳnh Văn Rỗ (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:14' 10-10-2008
Dung lượng: 39.5 KB
Số lượt tải: 29
Số lượt thích:
0 người
PHẦN I :
I/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, bản thân thấy được môn Địa lý cầ sử dụng rất nhiều đồ dùng trực quan. Khi sử dụng đồ dùng trực quan không những củng cố kiến thức, mở rộng kiến thức mà dùng nó để phát hiện kiến thức mới mà không cần nhiều đến kênh chữ. Nhưng khi giảng dạy thấy học sinh ở nông thôn, mà đặc biệt là ở địa bàn Nhơn Tân lại khó khăn về kinh tế, cho nên các em vừa đi học, về nhà lại giúp công việc cho gia đình, nên việc học của các em chưa chú tâm nhiều.
Chính những điều trên, bản thân mạnh dạn chọn đề tài này, phần nào giúp cho học sinh phát hiện một số kiến thức mới chủ yếu dựa vào đồ dùng trực quan.
II/. NHIỆM VỤ :
Đề tài này nhằm để phục vụ trong giảng dạy Địa lý. Dùng nó học sinh dễ dàng phát hiện kiến thức mới không cần mất nhiều thời gian suy nghĩ hay phải dựa vào một thứ tài liệu nào cả.
III/. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH :
Dùng một số đồ dùng trực quan như : bản đồ, biểu đồ, lược đồ, at lat,… phù hợp với bài dạy. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những vấn đề mới dựa vào các câu hỏi của giáo viên.
Để làm được điều đó, trước hết giáo viên thăm dò xem học sinh của mình có ưa thích tìm hiểu về địa lý dựa vào đồ dùng trực quan không ? Tiếp đến giáo viên nói rõ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan, kế tiếp là giáo viên chuẩn bị hàng loạt đồ dùng phù hợp. Cuối cùng là thực hành ( thực nghiệm ) trên lớp.
IV/. CƠ SỞ VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU :
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học địa lý, cụ thể dựa vào các phân môn : Bản đồ học, Lý luận dạy học địa lý và kinh nghiệm giảng dạy địa lý tự nhiên.
Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 9 năm 2001 đến tháng 12 năm 2003
PHẦN II :
I/. TÌNH TRẠNG SỰ VIỆC HIỆN TẠI LÀM ĐỐI CHỨNG :
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài cái đặc thù của bộ môn là phải sử dụng nhiều đến đồ dùng dạy học trong phần lớn các bài. Song chỉ có một số ít học sinh biết sử dụng các loại đồ dùng trực quan này làm nguồn kiến thức riêng cho mình, biết vận dụng nó để giải thích sự vật hiện tượng gì đó. Còn phần lớn học sinh chỉ biết nhìn theo hình thức thoáng qua để đối phó những câu hỏi kiểm tra đơn thuần của giáo viên như xác định lãnh thổ Việt Nam hay xác định Châu Đại Dương, … thì những điều này quá ư đơn giản không có chút gì gọi là tư duy.
Bên cạnh đó, giáo viên có thể đặt ra nhiều vấn đề mà học sinh khó có thể tìm ra trong chớp nhoáng dựa vào kênh chữ, mà chỉ dựa vào kênh hình mới tìm ra được nhanh và chính xác nhất thôi.
Cũng có nhiều bài học, học sinh không cần quan sát, nghiên cứu nhiều mà chỉ xem xét khái quát nhất qua đồ dùng trực quan là đã nắm được vấn đề. Nhưng thực tế điều này ít học sinh làm được, đa phần chỉ học vào phần ghi bảng của giáo viên ( trong phần này nếu quên định một câu thì coi như kiến thức bài đó học sinh chưa nắm được ).
Một điểm cụ thể là học sinh ở nông thôn ít tìm hiểu bài trước, lại ít chịu học bài cũ. Nên sự tư duy về địa lý hình như bị hiếm hoi.
II/. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP MỚI :
Các đồ dùng trực quan trong Địa lý là nguồn tri thức địa lý quan trọng. Qua bản đồ, biểu đồ, lược đồ học sinh có thể nhìn một cách bao quát các khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà các em chưa có điều kiện đến tận nơi để quan sát.
Về mặt nội dung : Bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào có thể làm được. Những ký hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung địa lý đã được mã hoá, trở thành thứ ngôn ngữ đặc biệt, ngôn ngữ bản đồ. Hay các số liệu thống kê kinh tế có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành các tri thức về địa lý tự nhiên cũng như kinh tế xã hội. Chúng “ soi sáng và giải thích được nhiều khái niệm và quy luật về địa lý.” Nhiều luận điểm, lý thuyết cũng có sức thuyết phục mạnh mẽ
I/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Trong thực tế giảng dạy ở trường phổ thông, bản thân thấy được môn Địa lý cầ sử dụng rất nhiều đồ dùng trực quan. Khi sử dụng đồ dùng trực quan không những củng cố kiến thức, mở rộng kiến thức mà dùng nó để phát hiện kiến thức mới mà không cần nhiều đến kênh chữ. Nhưng khi giảng dạy thấy học sinh ở nông thôn, mà đặc biệt là ở địa bàn Nhơn Tân lại khó khăn về kinh tế, cho nên các em vừa đi học, về nhà lại giúp công việc cho gia đình, nên việc học của các em chưa chú tâm nhiều.
Chính những điều trên, bản thân mạnh dạn chọn đề tài này, phần nào giúp cho học sinh phát hiện một số kiến thức mới chủ yếu dựa vào đồ dùng trực quan.
II/. NHIỆM VỤ :
Đề tài này nhằm để phục vụ trong giảng dạy Địa lý. Dùng nó học sinh dễ dàng phát hiện kiến thức mới không cần mất nhiều thời gian suy nghĩ hay phải dựa vào một thứ tài liệu nào cả.
III/. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH :
Dùng một số đồ dùng trực quan như : bản đồ, biểu đồ, lược đồ, at lat,… phù hợp với bài dạy. Sau đó giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những vấn đề mới dựa vào các câu hỏi của giáo viên.
Để làm được điều đó, trước hết giáo viên thăm dò xem học sinh của mình có ưa thích tìm hiểu về địa lý dựa vào đồ dùng trực quan không ? Tiếp đến giáo viên nói rõ tầm quan trọng của đồ dùng trực quan, kế tiếp là giáo viên chuẩn bị hàng loạt đồ dùng phù hợp. Cuối cùng là thực hành ( thực nghiệm ) trên lớp.
IV/. CƠ SỞ VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU :
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học địa lý, cụ thể dựa vào các phân môn : Bản đồ học, Lý luận dạy học địa lý và kinh nghiệm giảng dạy địa lý tự nhiên.
Thời gian tiến hành nghiên cứu đề tài từ tháng 9 năm 2001 đến tháng 12 năm 2003
PHẦN II :
I/. TÌNH TRẠNG SỰ VIỆC HIỆN TẠI LÀM ĐỐI CHỨNG :
Trong quá trình nghiên cứu, ngoài cái đặc thù của bộ môn là phải sử dụng nhiều đến đồ dùng dạy học trong phần lớn các bài. Song chỉ có một số ít học sinh biết sử dụng các loại đồ dùng trực quan này làm nguồn kiến thức riêng cho mình, biết vận dụng nó để giải thích sự vật hiện tượng gì đó. Còn phần lớn học sinh chỉ biết nhìn theo hình thức thoáng qua để đối phó những câu hỏi kiểm tra đơn thuần của giáo viên như xác định lãnh thổ Việt Nam hay xác định Châu Đại Dương, … thì những điều này quá ư đơn giản không có chút gì gọi là tư duy.
Bên cạnh đó, giáo viên có thể đặt ra nhiều vấn đề mà học sinh khó có thể tìm ra trong chớp nhoáng dựa vào kênh chữ, mà chỉ dựa vào kênh hình mới tìm ra được nhanh và chính xác nhất thôi.
Cũng có nhiều bài học, học sinh không cần quan sát, nghiên cứu nhiều mà chỉ xem xét khái quát nhất qua đồ dùng trực quan là đã nắm được vấn đề. Nhưng thực tế điều này ít học sinh làm được, đa phần chỉ học vào phần ghi bảng của giáo viên ( trong phần này nếu quên định một câu thì coi như kiến thức bài đó học sinh chưa nắm được ).
Một điểm cụ thể là học sinh ở nông thôn ít tìm hiểu bài trước, lại ít chịu học bài cũ. Nên sự tư duy về địa lý hình như bị hiếm hoi.
II/. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP MỚI :
Các đồ dùng trực quan trong Địa lý là nguồn tri thức địa lý quan trọng. Qua bản đồ, biểu đồ, lược đồ học sinh có thể nhìn một cách bao quát các khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà các em chưa có điều kiện đến tận nơi để quan sát.
Về mặt nội dung : Bản đồ có khả năng phản ánh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể mà không một phương tiện nào có thể làm được. Những ký hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung địa lý đã được mã hoá, trở thành thứ ngôn ngữ đặc biệt, ngôn ngữ bản đồ. Hay các số liệu thống kê kinh tế có ý nghĩa nhất định trong việc hình thành các tri thức về địa lý tự nhiên cũng như kinh tế xã hội. Chúng “ soi sáng và giải thích được nhiều khái niệm và quy luật về địa lý.” Nhiều luận điểm, lý thuyết cũng có sức thuyết phục mạnh mẽ
 








Các ý kiến mới nhất