Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

SKKN LOP 5

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: 2024-2025
Người gửi: Phạm Ngọc Dũng
Ngày gửi: 19h:47' 07-04-2025
Dung lượng: 174.6 KB
Số lượt tải: 28
Số lượt thích: 0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Kính gửi: Hội đồng sáng kiến huyện Thới Lai
1. Tên sáng kiến: Biện pháp phát triển năng lực viết văn miêu tả cho học
sinh lớp 5.
2. Tác giả sáng kiến:
STT
1

Họ và tên
 Phạm Ngọc Dũng

Ngày, tháng, Chức vụ, đơn vị công
năm sinh
tác
14/05/1966

Giáo viên trường TH
Trường Xuân 1

Trình độ
chuyên môn
Cử nhân
Tiểu học

3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Không có.
4. Thời điểm sáng kiến được áp dụng: Năm học 2023 – 2024.
5. Nội dung sáng kiến:
Năm học 2023 – 2024, tôi được phân công dạy lớp 5A4 với sĩ số 38 học sinh
(HS). Khi tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Việt (phân môn Tập làm văn), tôi
gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn HS viết câu, viết đoạn dẫn tới giờ học
chưa đạt hiệu quả cao. Qua quan sát khả năng học tập, vận dụng kiến thức thực tế
của tất cả HS trong quá trình giảng dạy, tôi thấy các em vẫn còn nhiều hạn chế.
Để có số liệu chính xác hơn về kết quả học, tôi tiến hành kiểm tra HS thông
qua bài khảo sát chất lượng đầu năm và thu được kết quả như sau: số lượng HS chỉ
dừng lại ở mức độ là viết đúng đề bài, đảm bảo bố cục: 28 em (chiếm 74%); trong
khi đó, số HS biết sử dụng từ ngữ sinh động, tượng hình trong bài miêu tả: 20 HS
(chiếm 53 %), và số lượng HS có sử dụng các biện pháp tu từ chiếm số lượng rất ít
chỉ 19 em (chiếm 50%). Phần lớn các em chỉ viết đúng bố cục chứ chưa biết cách
viết câu văn sử dụng từ ngữ sinh động, tượng thanh, tượng hình hoặc biện pháp tu
từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…Vì thế câu văn mang tính đơn điệu và lặp từ rất
nhiều. Vậy, làm thế nào để giúp các em phát triển năng lực môn Tiếng Việt, viết
văn miêu tả. Bản thân tôi đã nghiên cứu và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng môn Tiếng Việt, phần viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5. Chính vì vây tôi
chọn “Biện pháp phát triển năng lực viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5”. Mong
muốn chia sẻ đến giáo viên tiểu học đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5.
Một số giải pháp thực hiện “Biện pháp phát triển năng lực viết văn miêu tả
cho học sinh lớp 5” cụ thể như sau:
a/ Cung cấp vốn từ cho học sinh.
* Thông qua chọn lọc hình ảnh qua các bài tập đọc.
Trong quá trình giảng dạy, tôi chỉ ra các từ ngữ miêu tả, chọn vài trường hợp
đặc sắc để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà văn khi sử dụng nó. Khi tìm hiểu

2
bài giúp các em thấy được cái hay cái đẹp của đất nước, quê hương, con người ...
qua cách miêu tả, qua cách sử dụng biện pháp nghệ thuật vào miêu tả làm giàu thêm
ngữ liệu, vốn hiểu biết cho các em. Để HS có thể hiểu các hình ảnh, từ ngữ nếu giải
thích bằng lời thì khó có thể giúp các em hiểu hết được, chính vì thế tôi sử dụng
công nghệ thông tin vào các tiết dạy mang lại kết quả thiết thực. Việc HS được nhìn
tận mắt, được nghe tận tai là cách giúp các em hiểu bài hiệu quả nhất.
Ví dụ: Tiếng việt bài 8A (tiết 1) Bài tập đọc: “Kì diệu rừng xanh”. Tôi cho
HS quan sát cảnh rừng để các em thấy được vẻ đẹp của rừng là bức tranh tổng hòa
của âm thanh màu sắc qua việc miêu tả nấm rừng, cây rừng, nắng rừng, màu sắc,
con vật và âm thanh của rừng. Từ việc phân tích đó giúp HS có hình dung tưởng
tượng ra khung cảnh khu rừng vừa đẹp, vừa lạ.
* Thông qua nội dung Luyện từ và câu.
Khi dạy nội dung Luyện từ và câu, tôi cho HS được mở rộng vốn từ qua các
tiết dạy về từ đồng nghĩa, trái nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ láy, từ ghép, từ đồng âm, …
Dạy mở rộng vốn từ cho HS qua các từ đồng nghĩa, tôi cho các em quan sát
tranh ảnh, hình ảnh minh họa các từ để HS phân biệt. Ví dụ: Tìm các từ đồng nghĩa
chỉ màu đỏ: đỏ hoe, đỏ đậm,… hay các từ đồng nghĩa chỉ màu xanh: xanh thẳm,
xanh đọt chuối, xanh biếc…
Tôi tổ chức cho các em được mở rộng vốn từ qua việc cùng nhau thảo luận,
chia sẻ cùng bạn.
Ví dụ: Tiếng việt bài 15C: Những người lao động (tiết 1) - Bài tập 4 trang
166 : Viết vào vở các từ ngữ miêu tả hình dáng của người.
Đầu tiên, tôi cho HS vận dụng vốn hiểu biết của cá nhân mình tìm ra các từ
ngữ miêu tả hình dáng của người. Sau đó, tôi cho HS thảo luận, chia sẻ với nhau về
các tìm được vào phiếu bài tập của nhóm. Việc các em cùng nhau thảo luận, chia sẻ
sẽ giúp các em có nhiều vốn từ được học từ bạn bè, góp phần làm giàu vốn từ của
bản thân.
b/ Hướng dẫn học sinh viết câu, đoạn văn hay thu hút người đọc.
* Bắt đầu câu văn bằng một sự vật, sau đó đến trạng thái của sự vật.
Đầu tiên, tôi hướng cho HS xác định mình muốn nói về sự vật nào? Sự vật đó
đang làm gì?
Ví dụ: Cô gà mái đang dắt đàn con kiếm ăn quanh vườn.
- Bắt đầu câu văn bằng bộ phận Trạng ngữ diễn ra sự việc.
Sau khi HS viết được câu có chủ ngữ và vị ngữ, tôi sẽ gợi mở tiếp: Thời gian
diễn ra sự việc đó vào lúc nào? Địa điểm ở đâu? Đây là trạng ngữ là thành phần phụ
của câu bổ sung ý nghĩa hoàn chỉnh cho câu văn.
- Bắt đầu câu văn bằng một hoạt động.
Tôi hướng dẫn các em bắt đầu câu bằng hoạt động hay nói khác hơn là bằng
động từ chỉ hoạt động của bản thân đặt trước thành phần chính của câu và được
ngăn cách bởi dấu phẩy.

3
Ví dụ : Ngồi bên cửa sổ, tôi mải mê ngắm nhìn mặt trăng tròn vành vạnh.
- Bắt đầu câu văn bằng một cảm nhận của bản thân:
Việc khai phá các giác quan sẽ giúp HS có cái nhìn trực quan nhất đối với sự
vật. Từ đó, các em chỉ cần hệ thống lại từ ngữ là sẽ viết được các câu văn.
sớm.
câu.

Ví dụ : Thích thú ngắm nhìn mặt trời mọc, mỗi ngày tôi đều cố gắng dậy thật
* Sử dụng các từ gợi tả tượng thanh, tượng hình, so sánh, nhân hóa trong

Việc đầu tiên, tôi cho HS tìm hiểu thế nào là từ tượng thanh, tượng hình. Từ
những câu HS viết, tôi gợi mở cho các em tìm ra từ tượng thanh, tượng hình phù
hợp bổ sung vào câu cho hay hơn.
Tương tự như cách dùng từ, tôi cho HS so sánh câu văn hay có sử dụng biện
pháp so sánh, nhân hóa để các em nhận biết cũng như linh hoạt trong việc sử biện
pháp tu từ vào câu văn, đoạn văn và bài văn.
Ví dụ: Giọng cô trầm ấm ngân nga. / Giọng cô trầm ấm ngân nga như tiếng
hát. (sử dụng biện pháp so sánh).
Ví dụ: Cô mèo mướp hớn hở chạy ra sân nằm phơi nắng. (sử dụng biện pháp
nhân hóa).
dẫn.

* Thay đổi cách viết câu và mở rộng câu để tạo ra câu văn sinh động, hấp

+ Sử dụng đảo ngữ khi viết câu để tránh việc viết câu theo một cấu trúc đơn
điệu, gây nhàm chán cho người đọc.
Ví dụ: Trước mắt em là thảm lúa xanh bao la.
Thảm lúa xanh như mở rộng dần ra trước mắt em.
+ Kết hợp nhiều cách để mở rộng câu tạo nên câu văn, đoạn văn hấp dẫn
Ví dụ: Con mèo có đôi mắt tròn.
Từ trong bóng tối, chú mèo Mun nhà em xuất hiện như một thiên thần
với đôi mắt tròn xoe như hai hòn bi ve màu xanh ngọc bích.
c/ Sử dụng sơ đồ tư duy để hướng dẫn học sinh miêu tả.
Tôi định hướng cho HS quan sát sơ đồ tư duy. Mỗi nội dung là một nhánh của
sơ đồ. Trên mỗi nhánh, HS có thể triển khai tiếp các ý nhỏ, bổ sung hình ảnh, kí
hiệu cho nhánh đó. Tôi hướng dẫn về màu sắc, tính phân bậc của sơ đồ. Cuối cùng
dùng mũi tên chỉ sự gắn kết các ý, ý này với ý kia, hoặc đánh số thứ tự.
Tôi yêu cầu HS thực hiện viết theo sơ đồ từ trái sang phải hoặc từ trên xuống
dưới. Các em có thể bắt đầu từ một nhánh nhỏ của sơ đồ tư duy để miêu tả, chỉ cần
bài viết HS đầy đủ nội dung, các nội dung viết có liên kết với nhau là là được. Từ
việc quan sát sơ đồ của tôi, các em khi lập dàn ý cũng có thể tự vẽ sơ đồ tư duy
riêng cho bản thân mình.

4

Ví dụ: Bài 12C. Những người tôi yêu (tiết 1) trang 130.
d/ Tổ chức trò chơi trong dạy học tập làm văn.
Đa số HS lớp 5 nói riêng và HS tiểu học nói chung, các em đều thích chơi. Vì
thế, trong các tiết học, tôi luôn lựa chọn nội dung để tổ chức trò chơi cho các em
như: Cùng đoán; Đối đáp; Cười rồi sửa sai; ... Đó có thể là bài tập trong sách, nội
dung ôn bài cũ hoặc nội dung ôn kiến thức sau bài học.
Ví dụ: Trò chơi “Cùng đoán”: HS quan sát hình ảnh về một sự vật, đồ vật,
người dùng hành động để miêu tả lại. Trong quá trình HS miêu tả thì các em trong
lớp sẽ quan sát để nói câu theo đúng yêu cầu. Trò chơi này rất thú vị giúp HS nhanh
trí khéo léo trổ tài trước lớp. Đối với trò chơi này tôi sử dụng vào hoạt động khám
phá.
Tóm lại, tổ chức các trò chơi trong tiết học Tập làm văn nhằm cung cấp cho
HS một số ý, câu, từ và khắc sâu những nội dung cần phải có trong bài để bài viết
có đầy đủ ý vận dụng được một số từ có hình ảnh gợi cảm, gợi tả.
đ/ Chấm bài và sửa bài văn cho học sinh.
Sau khi HS làm bài tập xong, tôi cho HS chia sẻ nhận xét bài làm lẫn nhau
trong nhóm và trước lớp. Tôi đưa ra theo các tiêu chí đánh giá bài làm như sau:
Tiêu chí 1: Đúng yêu cầu đề bài; có thể hiện cảm xúc;
Tiêu chí 2: Nêu được nét nổi bật của sự vật được miêu tả; Giúp người đọc
hình dung được sự vật được miêu tả;
Tiêu chí 3: Bố cục ba phần rõ ràng, cân đối, hợp lí; Nội dung miêu tả được
sắp xếp logic;
Tiêu chí 4: Cách dùng từ ngữ, hình ảnh; câu viết đúng ngữ pháp, có liên kết.
Cuối cùng, tôi là người nhận xét, kết luận thống nhất đánh giá chung kết quả
bài làm của HS và rút ra những tiến bộ cần phát huy, thống nhất những câu văn hay,
hấp dẫn, những bài văn đạt và những thiếu sót cần sửa chữa bổ sung.
e/ Kết quả đạt được:
Qua một thời gian áp dụng các biện pháp từ đầu năm đến cuối học kì I, bản

5
thân tôi nhận thấy chất lượng bài văn của HS thay đổi rõ rệt. Các em đã biết vận
dụng các từ ngữ, biện pháp tu từ cũng như cách mở rộng câu vào bài viết. Sau đây
là bảng đánh giá kết quả bài làm văn của HS:

Năm học

TSHS

Viết đúng đề bài,
đảm bảo bố cục
Số
lượng

Tỉ lệ %

Sử dụng từ ngữ
sinh động, tượng
thanh, tượng hình
Số
Tỉ lệ %
lượng

Sử dụng các
biện pháp tu từ
Số
lượng

Tỉ lệ %

Đầu năm học

38

28

74%

20

53%

19

50%

Giữa HKI

38

32

84,3%

29

77%

28

74%

Cuối HKI

38

36

95%

35

93%

34

90%

6. Tính hiệu quả:
Kết quả thực nghiệm sư phạm đã khẳng định tính đúng đắn và khoa học của
những biện pháp đã được xây dựng trong đề tài. Điều thành công lớn sau khi thực
hiện đề tài là chất lượng bài làm văn của học sinh được nâng lên rõ rệt, giáo viên có
thêm những kinh nghiệm quý báu trong công tác giảng dạy. Học sinh thêm yêu quý
Tiếng Việt, ham thích đọc sách và chất lượng học tập của lớp ngày một nâng cao và
đặc biệt các biện pháp này không tốn kinh phí nhiều.
Những biện pháp nêu trên góp phần đưa chất lượng học tập của học sinh khối
4, 5 trong nhà trường ngày một nâng cao, mối liên hệ giữa gia đình - nhà trường xã hội càng mật thiết, đưa phong trào dạy tốt - học tốt của nhà trường ngày càng
phát triển.
7. Phạm vi ảnh hưởng.
Giải pháp này, tôi đã áp dụng có hiệu quả rất tốt trong thời gian qua. Trong
thời gian tới, tôi vẫn sẽ áp dụng để đạt kết quả cao hơn nữa. Với các biện pháp trên
có thể áp dụng cho tất cả HS ở khối lớp 4, 5 của các trường trong huyện, trong
thành phố.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trên là trung thực, đúng sự thật và hoàn
toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN,
ĐƠN VỊ ĐỀ NGHỊ

Trường Xuân, ngày 24 tháng 3 năm 2024
Tác giả sáng kiến

Nguyễn Ngọc Phú

Phạm Ngọc Dũng
 
Gửi ý kiến