Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

skkn hóa học 11

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 11h:01' 24-03-2026
Dung lượng: 6.4 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ……
TRƯỜNG THPT …..

BÁO CÁO BIỆN PHÁP
XÂY DỰNG TIẾT HỌC HẠNH PHÚC THÔNG QUA GIỜ DẠY HỌC
MÔN HÓA HỌC 11

Họ tên giáo viên:
Tổ:
Môn phân công giảng dạy:
Năm ra trường:

Năm học: 2023 - 2024

MỤC LỤC
Nội dung

TT

Trang

I

ĐẶT VẤN ĐỀ

4

II

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

4

1. Thực trạng công tác dạy học

4

1
1.1.

Thuận lợi

4

1.2.

Khó khăn

5

2. Biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy
2.1.

2.2.

Tìm hiểu về một số giải pháp có thể áp dụng
trong dạy học, cụ thể là trong hoạt động củng
cố bài học
Ví dụ minh hoạ dạy học thực tế

5
5
9

3. Thực nghiệm sư phạm

17

4. Kết luận

19

5. Những kiến nghị, đề xuất để triển khai, ứng dụng
các biện pháp vào thực tiễn

19

5.1.

Đối với tổ/nhóm chuyên môn

19

5.2.

Đối với lãnh đạo nhà trường

19

5.3.

Đối với Phòng GD&ĐT

20

2
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GQVĐ

Giải quyết vấn đề

HS

Học sinh

GV

Giáo viên

PP

Phương pháp

GD&ĐT

Giáo dục và Đào tạo

3
THÔNG TIN CHUNG VỀ BÁO CÁO BIỆN PHÁP
1. Tên báo cáo biện pháp: “Xây dựng tiết học hạnh phúc thông qua giờ dạy
học môn Hóa học 11”.
2. Tác giả:
- Họ và tên:
Nam (nữ):
- Trình độ chuyên môn:
- Chức vụ, đơn vị công tác:
- Điện thoại:
Email:

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn biện pháp
- Tích hợp giáo dục hạnh phúc: Mục đích chính của việc xây dựng tiết học hạnh
phúc là tạo ra một môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự tham gia và tạo
niềm vui trong quá trình học. Bằng cách áp dụng phương pháp và hoạt động
giáo dục hóa học phù hợp, giáo viên có thể tạo ra một tiết học thú vị và hấp dẫn,

4
giúp học sinh cảm thấy hạnh phúc và đồng thời thúc đẩy sự tương tác và học tập
tích cực.
- Tạo liên kết giữa hạnh phúc và hóa học: Việc kết hợp chủ đề hạnh phúc với
môn học hóa học mang lại nhiều lợi ích. Đầu tiên, nó giúp học sinh nhận thức
rằng hóa học không chỉ là một môn học khô khan và trừu tượng mà còn có thể
ứng dụng vào đời sống hàng ngày và đóng góp vào sự hạnh phúc cá nhân và xã
hội. Thứ hai, việc tạo liên kết giữa hạnh phúc và hóa học có thể giúp học sinh
phát triển ý thức về việc sử dụng các chất hóa học an toàn và bảo vệ môi trường,
từ đó đóng góp vào sự hạnh phúc và sự phát triển bền vững của cộng đồng.
- Khuyến khích sự tham gia và tương tác: Bằng cách thiết kế các hoạt động
tương tác, thực hành thí nghiệm, và thảo luận nhóm trong tiết học, giáo viên có
thể khuyến khích sự tham gia tự do và tương tác giữa các học sinh. Điều này tạo
ra một môi trường học tập tích cực, giúp học sinh xây dựng kiến thức và kỹ
năng hóa học một cách sáng tạo và hạnh phúc. Sự tham gia tích cực và tương tác
trong quá trình học cũng góp phần vào việc tạo ra cảm giác hạnh phúc và thành
tựu khi học sinh đạt được mục tiêu và giải quyết các vấn đề hóa học.
- Phát triển kỹ năng mềm: Việc xây dựng tiết học hạnh phúc thông qua giờ dạy
học môn Hóa học 11 có thể giúp phát triển các kỹ năng mềm quan trọng như tư
duy sáng tạo, khả năng làm việc nhóm, giao tiếp hiệu quả và giải quyết vấn đề.
Các kỹ năng này không chỉ hỗ trợ học sinh trong việc học hóa học mà còn có giá
trị trong cuộc sống hàng ngày và tương lai nghề nghiệp.
2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
2.1. Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp tập trung ở môn Hóa học 11.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Học sinh các lớp …….
3. Mục đích nghiên cứu.
- Điều tra và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm học tập của học
sinh trong tiết học hóa học 11, bao gồm phương pháp giảng dạy, tài liệu giảng
dạy, cách tổ chức và tương tác trong lớp học.
- Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hạnh phúc và học tập: Tìm hiểu vai trò của
yếu tố hạnh phúc trong quá trình học tập và sự phát triển của học sinh. Nghiên
cứu sẽ tập trung vào các mối liên hệ giữa hạnh phúc, sự tham gia, tương tác, và
hiệu quả học tập trong môn hóa học 11.
- Đề xuất biện pháp xây dựng tiết học hạnh phúc: Dựa trên kết quả nghiên
cứu và các nghiên cứu liên quan, đề xuất các biện pháp và hoạt động cụ thể để
tạo ra một môi trường học tập tích cực, thú vị và hạnh phúc trong tiết học hóa
học 11. Các biện pháp này có thể bao gồm việc sử dụng phương pháp giảng dạy

5
sáng tạo, thực hành thí nghiệm, tạo dựng tương tác và thảo luận, áp dụng ứng
dụng thực tế và tạo liên kết giữa hóa học và cuộc sống hàng ngày của học sinh.
- Đánh giá hiệu quả của biện pháp đề xuất: Đánh giá sự ảnh hưởng của các
biện pháp xây dựng tiết học hạnh phúc thông qua việc thu thập phản hồi từ học
sinh và giáo viên. Đánh giá sẽ đo lường sự tăng cường hạnh phúc và tham gia
trong quá trình học, cũng như hiệu quả học tập và sự phát triển của học sinh
trong môn hóa học 11.
PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng công tác dạy học
1.1. Thuận lợi
Để thành công trong việc giảng dạy và học môn Hóa học 11 cần rất nhiều
yếu tố quyết định như: chương trình, sách giáo khoa, kế hoạch giảng dạy, môi
trường học tập, phương pháp giảng dạy của giáo viên, ý thức, thái độ học tập
của học trò. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt. Có
thể khẳng định, đổi mới phương pháp giảng dạy chính là việc làm cần thiết và
cấp bách hiện nay. Người giáo viên dạy khoa học tự nhiên cần khôi phục động
lực học tập, khơi dậy niềm say mê, tình yêu khoa học tự nhiên của học sinh.
Tôi luôn mong muốn làm thế nào để học sinh của mình năng động sáng tạo
hơn, hạnh phúc trong học tập, giờ học bớt căng thẳng, bớt áp lực, làm sao để các
em có cảm giác “mỗi ngày đến trường là một ngày hạnh phúc”, để rồi thông qua
mỗi giờ học khoa học tự nhiên các em sẽ nhận được kĩ năng giải quyết một số
vấn đề thực tế chứ không chỉ là những kiến thức khô khan.
Thông qua thực tế giảng dạy, dự giờ học hỏi ở đồng nghiệp cộng với các
đợt tập huấn chuyên môn bản thân tôi mạnh dạn áp dụng tổ chức một số hình
thức củng cố bài trong giờ dạy môn Hóa học 11 và thấy không khí của mỗi tiết
học sôi nổi hẳn lên đến giờ học các em không còn cảm thấy căng thẳng mà rất
háo hức mong đợi, học sinh trong lớp hoạt động tích cực và đồng đều, các em
mạnh dạn trình bày ý kiến, nêu thắc mắc,… từ đó các em tự chiếm lĩnh kiến
thức và ghi nhớ một cách bền vững hơn do đó mà kết quả học tập cũng được
nâng cao. Vì vậy, tôi đã chọn tìm hiểu vấn đề: “Xây dựng tiết học hạnh phúc
thông qua giờ dạy học môn Hóa học 11” để báo cáo biện pháp của mình.
1.2. Khó khăn
Những năm học trước đây, đa số các tiết học đều sử dụng phương pháp
truyền thống, hoạt động củng cố bài thường gây căng thẳng và nhàm chán, học
sinh lười phát biểu, có thói quen chờ giáo viên giảng rồi chép vào vở. Nhiều em
học sinh đã trở nên thụ động, một chiều và lơ là trong học tập, giáo viên không

6
thể điều chỉnh và theo dõi quá trình học cho từng em và không thể tương tác
trực tiếp để hỗ trợ các em làm bài.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, trong công cuộc thực
hiện cuộc cách mạng 4.0 chúng ta cần nhìn nhận lại cách truyền thụ kiến thức
cho học sinh. Quá trình hình thành năng lực chính là quá trình phát triển nhân
cách toàn diện của học sinh. Quá trình bồi dưỡng giáo dục năng lực là quá trình
tác động sư phạm của nhà giáo một cách đúng quy luật, đảm bảo tính khoa học
và mang tính thực tiễn. Chính vì vậy đầu năm học 2023 - 2024 tôi đã tiến hành
khảo sát 200 em học sinh khối 11 (gồm 6 lớp 11A1, 11A2, 11A3, 11A4, 11A5,
11A6) về sự hạnh phúc, cách thức học và nội dung phương pháp học môn Hóa
học:
Bảng 1. Kết quả khảo sát sự yêu thích của HS với phân môn Hóa học
Kết quả
C
âu
1

2

3

Nội dung

Số
lượn
g

Tỉ
lệ
%

Sự hạnh phúc học phân môn Hóa học ở các em thuộc mức nào?
Rất thích

12

6

Thích

35

Bình thường

95

Không thích

58

29

Môn Hóa học là một trong những môn thi vào các
trường ĐH, CĐ

39

19,
5

Bài học sinh động, thầy cô dạy vui vẻ, dễ hiểu

78

39

Kiến thức dễ nắm bắt

38

19

Kiến thức gắn thực tế nhiều

45

22,
5

17,
5
47,
5

Em thích học phân môn Hóa học vì:

Trong giờ học phân môn Hóa học em thích được học như thế nào
Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến, thảo luận và
làm việc

65

32,
5

Nghe giảng và ghi chép một cách thụ động

35

17,

7
5

4

Được làm các thí nghiệm thực hành để hiểu sâu sắc vấn
đề về hóa học

50

25

Làm các bài tập nhiều để ôn thi đại học

60

30

Không cần thí nghiệm thực hành nhiều

50

25

Tăng cường học lí thuyết và giải bài tập tính toán gắn
với kì thi đại học cao đẳng

90

45

Giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để đưa
kiến thức vào thực tiễn, tăng cường phần thực hành.

60

30

Nội dung dạy học

Kết quả khảo sát cho thấy số lượng học sinh yêu thích và thích phân môn
Hóa học rất thấp chỉ chiếm 6% và 17%; các em thích học vì phân môn Hóa học
là do giáo viên dạy, do là môn thi đại học và kiến thức gắn với thực tiễn. Các em
cũng rất chú trọng các nội dung dạy học gắn với các kì thi chiếm 45%. Rõ ràng
qua phân tích thì các em vẫn chủ yếu học theo lối truyền thống nặng về thi cử
đối phó, do vậy mà các em ít có yếu tố đam mê nghiên cứu và thực sự yêu thích
là rất ít, kĩ năng thực hành rất hạn chế và là nguyên nhân năng lực làm việc hạn
chế sau khi ra trường, đặc biệt là trong thời đại 4.0 với kỉ nguyên của thế giới
phẳng thì khả năng đáp ứng đầu ra sau khi ra trường lại càng rất khó khăn. 
2. Giải pháp tạo ra giờ học hạnh phúc
Giải pháp 1. Xây dựng các câu hỏi có nội dung thực tiễn vào trong bài học
Các câu hỏi có thể được thể hiện trong các hoạt động dạy học khác nhau
như nghiên cứu xây dựng kiến thức mới; củng cố, vận dụng kiến thức; ôn tập;
hoặc kiểm tra đánh giá…
Trong đó, có thể có các loại yêu cầu như:
+ Yêu cầu học sinh phải nhận biết kiến thức có liên quan và sử dụng để
giải thích sự vật hiện tượng. 
+ Yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức để đưa ra một phương án giải
quyết, cách làm đáp ứng được yêu cầu đề ra…
Ví dụ minh họa:
Bài 16: Alcohol – Hóa học 11 Chân trời sáng tạo
? Một số loài thực vật như bạc hà, hoa hồng, … thường có mùi thơm
dễ chịu và đặc trưng vì trong thành phần hoá học có chứa các alcohol. Vậy
Alcohol là gì? Alcohol được ứng dụng trong lĩnh vực gì?

8

Hình. Hoa hồng

Hình. Lá bạc hà

? Khi chưng cất rượu gạo theo phương pháp nấu rượu truyền thống,
tại sao không nên đun sôi quá mạnh?

Hình. Quy trình chưng cất rượu gạo
? Hãy giải thích tại sao: Ethanol được dùng làm dung môi cho nhiều
loại nước hoa?

9

Hình. Dung môi Ethanol
? Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông sau khi sử dụng rượu, bia.
Vậy trong rượu bia chứa chất gì và tại sao lại gây ra tai nạn giao thông?

Giải pháp 2. Xây dựng các bài tập, tình huống có nội dung thực tiễn vào
trong bài học
- Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp HS nắm vững
kiến thức, hình thành và phát triển các kĩ năng trong học tập khoa học.
- GV cũng cần sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học mà ở đó học
sinh được đặt vào tình huống thực tiễn. 
- HS thông qua các bài tập, tình huống được tự mình trải nghiệm, lĩnh hội
kiến thức và giải quyết vấn đề thực tiễn thông qua kiến thức đã học, qua đó vừa
chiếm lĩnh được kiến thức khoa học, vừa có thể giải thích được các vấn đề thực

10
tiễn địa phương liên quan hoặc đánh giá các vấn đề thực tiễn, đề xuất các biện
pháp khả thi để giải quyết vấn đề.
Ưu điểm của các phương pháp dạy học này là trong giờ học giáo viên đã
tạo được hạnh phúc cho người học, kích thích sự ham muốn được khám phá cho
người học, giáo viên chủ động trong việc tổ chức dạy học và không mất nhiều
thời gian.
Hạn chế của biện pháp dạy học này là người học cần phải có khả năng
liên tưởng, quan sát, tư duy trừu tượng và khái quát hóa tốt; một số vấn đề thực
tiễn tích hợp nhiều kiến thức liên quan nên mất nhiều thời gian để giải thích,
chứng minh. 
Một số ví dụ minh họa:
Bài 16: Alcohol – Hóa học 11 Chân trời sáng tạo
? Người ta thường dùng nước hoa để tạo mùi hương cho cơ thể. Theo em,
để làm nước hoa nói trên, người ta thường dùng hoá chất gì để làm dung môi
hòa tan?

Giải pháp 3. Xây dựng một số thí nghiệm hóa học gắn liền cuộc sống
Sử dụng thí nghiệm hoá học trong dạy học là một trong những cách tích
cực hóa hoạt động dạy và học. Theo tài liệu tập huấn của Bộ giáo dục và đào
tạo, thí nghiệm hoá học được dùng trong dạy và học theo những cách sau:
Sử dụng thí nghiệm khi dạy bài mới: GV có thể sử dụng thí nghiệm
trong tiết dạy bài mới để truyền đạt kiến thức cho HS. Trong tiết dạy bài mới, thí
nghiệm có thể được dùng theo các hướng: nghiên cứu khám phá, phát hiện và
giải quyết vấn đề, minh hoạ kiểm chứng.
Sự dụng thí nghiệm theo hướng nghiên cứu khám phá:

11
Theo hướng nghiên cứu khám phá thì thí nghiệm Hoá học được dùng làm
nguồn kiến thức để HS nghiên cứu tìm tòi, là phương tiện xác định tính đúng
đắn của các giả thuyết khoa học đưa ra. Thí nghiệm được sử dụng theo cách nào
sẽ tạo điều kiện cho HS phát triển cách tư duy độc lập, sáng tạo và năng lực tự
học, HS sẽ nắm kiến thức vững chắc, sâu sắc và phong phú về lý thuyết lẫn thực
tế. Cách tiến hành sử dụng thí nghiệm theo nghiên cứu khám phá như sau:
- Nêu vấn đề nghiên cứu.
- Phân tích vấn đề, đặt ra các giả thuyết khoa học khác nhau.
- HS tự đề xuất cách nghiên cứu, kiểm chứng các giả thuyết. Một số
trường hợp ở mức độ thấp, GV có thể hướng dẫn, gợi ý cho HS.
- Tiến hành thí nghiệm theo đề xuất.
- Phân tích và giải thích hiện tượng từ đó xác nhận các giả thuyết đúng.
- Kết luận.
Sử dụng thí nghiệm theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề:
Theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề, GV đặt ra cho HS một vấn đề
nhận thức, HS tiếp nhận mâu thuẫn nhận thức đó và biến thành mâu nội tại của
bản thân, có nhu cầu muốn giải quyết mâu thuẫn đó, tạo động cơ suy nghĩ học
tập. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS tham gia tích cực vào quá trình tìm hiểu,
giải quyết vấn đề, qua đó rút ra kiến thức mới cho bản thân. Cách tiến hành sử
dụng thí nghiệm theo nghiên cứu khám phá như sau:
- Nêu vấn đề, tạo mâu thuẫn nhận thức từ vấn đề
- Đề xuất hướng giải quyết, thực hiện kế hoạch giải quyết.
- Phân tích để rút ra kết luận.
- Vận dụng.
Sử dụng thí nghiệm theo minh hoạ kiểm chứng
Theo hướng kiểm chứng, HS có cơ hội củng cố, vận dụng kiến thức đã có;
hiểu rõ, sâu và rộng kiến thức lý thuyết đã học. HS được kiểm chứng kiến thức
đã học trên thực tế bằng các thí nghiệm Hoá học, từ đó ý thức được phương
pháp suy diễn cần được thực nghiệm mới có thể đưa ra các kết luận chính xác đó là một trong các phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học. Cách tiến
hành sử dụng thí nghiệm theo nghiên cứu khám phá như sau:
- Nêu vấn đề bài học cho HS.
- HS dự đoán kiến thức mới, hiện tượng thí nghiệm.
- Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, so sánh với dự đoán ban đầu
từ đó xác định dự đoán có đúng không?
- Kết luận.
Sử dụng thí nghiệm trong giờ luyện tập, ôn tập: Trong giờ luyện tập, ôn
tập GV thường ít sử dụng thí nghiệm Hoá học nên không khí giờ học dễ căng

12
thẳng và nặng nề vì GV có thể sử dụng thí nghiệm trong giờ luyện tập, ôn tập để
củng cổ, tái hiện và làm sáng kiến thức cho HS, qua đó nâng cao tính tích cực,
nhận thức, hạnh phúc học tập cho HS và tạo không khí sôi động cho lớp học.
Ngoài sử dụng thí nghiệm để minh hoạ kiểm chứng, tái hiện lại kiến thức đã học
cho HS, GV có thể dùng thí nghiệm hoá học như bài tập hoá học, đặt vấn đề và
nhiệm vụ cho HS phải vận dụng kiến thức để giải quyết.
Sử dụng thí nghiệm nhằm tái hiện lại kiến thức đã học cho HS:
Sử dụng thí nghiệm Hoá học tái hiện lại kiến thức đã học cho HS trong
giờ luyện tập, ôn tập không phải lặp lại thí nghiệm đã biểu diễn mà có thể dùng
các thí nghiệm mới, có những dấu hiệu chung của thí nghiệm đã làm nhưng dấu
hiệu của kiến thức mới nhằm chỉnh lí, củng cố, khắc sâu kiến thức, tránh sự khái
quát, suy diễn thiếu chính xác ở HS.
Sử dụng thí nghiệm được sử dụng như bài tập Hoá học:
Thí nghiệm Hoá học có thể được dùng như bài Hoá học nhằm tạo ra một
vấn đề thực nghiệm yêu cầu HS phải vận dụng tích cực, sáng tạo và chính xác
kiến thức đã học để giải quyết vấn đề thực nghiệm được đưa ra.
Sử dụng thí nghiệm trong giờ thực hành: GV có thể hướng dẫn cho HS
tự tiến hành các thí nghiệm nhằm minh hoạ, kiểm chứng, củng cố và vận dụng
kiến thức đã học. Qua đó, HS được rèn luyện các kĩ năng, năng lực và phẩm
chất cần thiết.
Sử dụng thí nghiệm trong kiểm tra, đánh giá: GV có thể sử dụng thí
nghiệm vào quá trình kiểm tra để đánh giá được kĩ năng, thái độ của HS thông
qua các bài tập Hoá học thực nghiệm từ thí nghiệm hoặc các bài thực hành Hoá
học trong chương trình.
Một số thí nghiệm hóa học gắn liền cuộc sống đã thực hiện
Tôi đã thiết kế được một số thí nghiệm hóa học gắn liền cuộc sống nhằm
cung cấp nguồn tài liệu dạy học tham khảo cho GV trong việc sử dụng thí
nghiệm trong một số bài dạy chương trình phân môn Hoá học lớp 8 nói riêng và
chương trình KHTN cấp THPT nói chung.
Các thí nghiệm được trình bày theo cấu trúc bao gồm:
- Mục địch thí nghiệm, vị trí áp dụng thí nghiệm.
- Chuẩn bị.
- Thao tác tiến hành.
- Những lưu ý kĩ thuật.
- Hình ảnh minh hoạ.
- Câu hỏi khai thác thí nghiệm và lời giải.
Dưới đây là một số thí nghiệm hóa học đơn giản liên quan đến alcohol mà bạn
có thể thực hiện tại nhà, sử dụng các dụng cụ thí nghiệm thông thường.

13
Thí nghiệm: “Lên men giấm chuối từ rượu”
- Mục đích: Quan sát quá trình lên men của rượu etylic để hình thành giấm.
- Chuẩn bị:


5 trái chuối chín



100gram đường kính trắng. Nếu không dùng đường bạn có thể dùng 1 trái



dừa tươi
100 ml rượu gạo



Hũ thủy tinh sạch để đựng giấm



5 lít nước sôi để nguội

Hình ảnh Chuẩn bị nguyên liệu để làm giấm chuối. Ảnh Internet.
- Thao tác tiến hành:
Bước 1: Tạo giấm cái từ chuối
● Chuối bạn lột bỏ vỏ. Nếu dùng dừa thì chặt dừa để lấy phần nước dừa
nhé. Cho vào chuối và đường hoặc nước dừa vào hũ thủy tinh. Thêm 100
ml rượu gạo cùng 5 lít nước sôi để nguội vào cùng.

14


Đậy kín nắp hũ, bảo quản ở nơi khô ráo thoáng mát không để tiếp xúc



trực tiếp với ánh nắng mặt trời. Đặc biệt không được di chuyển hũ thủy
tinh.
Sau 45 đến 60 ngày tùy vào thời tiết, bạn mở nắp ra sẽ thấy xuất hiện một
lớp váng trắng đục. Đó được gọi là con giấm.

Trong cách làm giấm chuối, chuối bạn có thể để nguyên trái hoặc cắt lát. Ảnh
Internet.
Nếu bạn để giấm càng lâu ngày, con giấm sẽ dày lên và có màu giống như con
sứa biển. Khi con giấm bắt đầu hình thành, nước trong hũ cũng bắt đầu chua.
Bạn có thể kiểm tra và bắt đầu chiết giấm sang hũ thủy tinh khác. Lưu ý trong
lúc gạn nên cẩn thận để tránh làm trôi con giấm.
Bước 2: Tiến hành nuôi giấm
Sau khi thực hiện chiết giấm để nuôi, bạn lưu ý giữ lại xác chuối và con giấm.
Thực hiện pha đường với nước theo tỉ lệ 1 chén đường với 6 chén nước lọc và
khuấy đều cho hỗn hợp tan. Khi đường đã tan hoàn toàn thì đổ từ từ vào hũ
giấm. Cho nước đường vào hũ giấm cũ cho đến khi đạt thể tích 8/10 thể tích hũ
là được.

15

Sau mỗi lần thêm nước đường mới vào lớp con giấm sẽ dày lên. Ảnh Internet.
Lần thêm nước đường này sẽ nhanh tạo thành con giấm hơn. Nên bạn cứ kiểm
tra xem khi nào giấm chua thì lại chiết ra, giữ lại con giấm và thêm nước đường
như trên.
Bước 3: Thực hiện gây hũ giấm mới
● Cứ sau mỗi lần chiết và thêm nước đường mới vào. Bạn sẽ được 1 lớp con


giấm mới mỏng hơn.
Khi hũ đã được vài lớp con giấm bạn nên tiến hành gây hũ giấm khác. Vì



để lâu con giấm dày sẽ chiếm đi nhiều thể tích hũ.
Bạn nhẹ nhàng lấy từng lớp con giấm cho sang hũ thủy tinh mới. Thêm
nước đường vẫn theo công thức trên.

16

Vẫn đặt hũ giấm mới tránh ánh nắng trực tiếp, tránh côn trùng và không được xê
dịch hũ giấm. Ảnh Internet.


Khi nước đường trong hũ mới chua lên thành giấm là được. Gây được

khoảng 3 hũ giấm mới bạn bỏ xác chuối ở lọ đầu tiên đi là được.
Bước 4: Lọc lấy nước giấm chuối
● Sau khi bạn gạn lấy nước giấm, tiếp đó đem lọc qua vải thưa cho nước


giấm được trong hơn. Bạn có thể dùng liền nước giấm luôn cũng được.
Trường hợp nếu bạn muốn sử dụng lâu dài, bạn nấu sôi nước giấm lên rồi
để nguội. Sau đó cho vào chai, lọ đậy kín lại là được.

17

Chỉ cần lọc những lợn cợn là có thể sử dụng ngay. Ảnh Internet.
Trong thời gian lâu mà bạn không sử dụng, giấm sẽ tạo con như bình thường.
Tuy giấm chua hơn nhưng vẫn dùng bình thường. Giấm chuối trắng và hơi đục.
- Những lưu ý kĩ thuật: Đảm bảo vệ sinh và an toàn trong quá trình làm thí
nghiệm. Đặt chai hoặc lọ ở nơi thoáng khí và tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp.
- Hình ảnh minh hoạ:
- Câu hỏi khai thác thí nghiệm và lời giải:
+ Tại sao rượu etylic sau một thời gian lên men lại hình thành giấm?
- Quá trình lên men là quá trình vi khuẩn hoặc men vi sinh tiến hành oxi hoá
rượu etylic thành axit axetic, hay còn gọi là giấm.
+ Tại sao cần đậy kín chai hoặc lọ trong quá trình lên men?
- Đậy kín chai hoặc lọ giúp ngăn ngừa sự tiếp xúc với không khí và vi khuẩn
khác, tạo môi trường thuận lợi cho quá trình lên men diễn ra an toàn và hiệu
quả.
Giải pháp 4. Sử dụng trò chơi trong dạy học

18
Trò chơi 1: Trò chơi giải ô chữ.

Yêu cầu: HS trả lời hàng ngang và hàng dọc của ô chữ.
Mục đích: Tạo sự hạnh phúc cho tiết học, phát triển cho học sinh năng lực phân
tích vấn đề, năng lực tư duy tổng hợp, rèn luyện kỹ năng phản ứng nhanh.
Chuẩn bị: Slide ô chữ. 
Luật chơi: 
- Giáo viên giới thiệu qua ô chữ gồm có bao nhiêu hàng ngang, hàng dọc,
từ chìa khoá nằm ở hàng nào. 
- GV đọc/chiếu lần lượt từng câu hỏi gợi ý để học sinh xung phong giải ô
chữ. 
- Nếu bạn nào trả lời đúng thì ghi dòng chữ đó vào ô chữ và sẽ được cộng
điểm hoặc tuyên dương còn nếu trả lời sai thì sẽ nhường cơ hội cho các bạn còn
lại. 
- Ai tìm ra được ô từ khóa chính xác và nhanh nhất sẽ là người chiến
thắng.
Ví dụ: Hoạt động dạy học bài 16. Alcohol

19

20

21

22

23

Hình. Một số hình mẫu minh họa trò chơi Giải ô chữ
Trò chơi 2. Mảnh ghép bí ẩn

Yêu cầu: Tìm được bức tranh đằng sau các mảnh ghép.
Mục đích: Rèn luyện cho học sinh sự nhạy bén, khả năng phân tích và tư duy,
cũng cấp nhiều hơn cho các em các kiến thức về tự nhiên, ứng dụng trong đời
sống liên quan đến bài học.

24
Chuẩn bị: nội dung câu hỏi, câu trả lời, slide mảnh ghép.
Luật chơi: Cho HS chơi theo cá nhân hoặc nhóm
 - Mỗi HS hoặc mỗi nhóm được chọn mảnh ghép theo thứ tự. Để mở được
mảnh ghép HS hoặc nhóm phải trả lời đúng câu hỏi.
- Khi mảnh ghép được mở sẽ làm lộ ra một phần bức ảnh, các nhóm đoán
nội dung và ý nghĩa bức ảnh. Nếu không có HS nào hay đội nào đoán được trò
chơi sẽ tiếp tục và mở các mảnh ghép tiếp theo.
- Trò chơi có thể kết thúc khi có người chiến thắng hoặc khi mở được
hoàn toàn hình ảnh của bức tranh tùy mục đích của giáo viên.
Ví dụ: Hoạt động củng cố bài 16. Alcohol

25

Hình. Bộ câu hỏi của các mảnh ghép

26

Hình. Bức tranh bí ẩn nói về Alcohol
Trò chơi 3. Buzzle

Yêu cầu: Ghép các thẻ theo đúng thứ tự để được nội dung hoàn chỉnh.
Mục đích: Rèn luyện cho học sinh khả năng phân tích và tư duy, sắp xếp các dữ
liệu theo một trình tự logic, giúp học sinh dễ nhớ đối với các dữ liệu nhiều và
khó nhớ như công thức cấu tạo của các alcohol, ứng dụng của Alcohol, …
Chuẩn bị: các thẻ ghép hình.
Luật chơi: Cho HS chơi theo cá nhân hoặc nhóm
 - Mỗi HS hoặc mỗi nhóm được phát một bộ thẻ, các em tư duy, sắp xếp
và ghép lại thành một nội dung hoàn chỉnh.
- Khi hoàn thành, các em ch
 
Gửi ý kiến