Tìm kiếm Giáo án
Tuần 2. Ai có lỗi?

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lò Thị Tuyến
Ngày gửi: 21h:30' 22-09-2014
Dung lượng: 34.2 KB
Số lượt tải: 1870
Nguồn:
Người gửi: Lò Thị Tuyến
Ngày gửi: 21h:30' 22-09-2014
Dung lượng: 34.2 KB
Số lượt tải: 1870
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn đức giỏi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3A1 tại Trường Tiểu học Xuân Lao”.
Phần I: Đặt vấn đề
I. Nguyên nhân chủ quan, khách quan
* Giáo viên:
Trong quá trình dạy học theo mô hình VNEN giáo viên chưa chú ý tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng kiến thức, đặc biệt là dạng giải toán có lời văn. Nguyên nhân là do giáo viên mới tiếp cận với chương trình dạy học theo kiểu mới này. Thời gian dành nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học mới này còn hạn chế
Khi dạy giải toán có lời văn cho học sinh giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc hướng dẫn kĩ năng đọc đề toán cho học sinh, học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán đã giải bài toán.
Giáo viên chưa khắc sâu quy trình giải toán có lời văn cho học sinh, chưa rèn kĩ năng thực hành giải toán theo quy trình vì thực tế trong một tiết dạy 40 phút, vừa làm bài tập ở nhiều mạch kiến thức khác nhau, trong đó có bài toán có lời văn thường ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời không được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức, chưa nắm được mẹo để giải bài toán.
* Học sinh:
Năm học 2013 - 2014 tôi được phân công dạy lớp 3A1. Lớp tôi chủ nhiệm có 20 em, nữ 12 em. Đa số các em thuộc diện gia đình hộ nghèo và cận nghèo, đều là con gia đình nông dân, cha mẹ ít quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn phó mặc việc học tập của con em mình cho giáo viên.
85% học sinh lớp tôi là dân tộc Thái, 5% là dân tộc Khơ mú, 10% là dân tộc H’mông vốn Tiếng Việt các em còn hạn chế. Nhất là với môn toán số lượng học sinh trung bình nhiều, học sinh yếu vẫn còn, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không hiểu được đề bài toán nên làm cho có theo yêu cầu của thầy cô, dẫn đến giải bài toán sai.
+ Học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán không chịu phân tích đề toán khi đọc đề.
+ Việc tìm hiểu đề toán, đang còn gặp nhiều khó khăn đối với học sinh trung bình yếu của lớp 3. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm ...
+ Học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán phức tạp. Hầu hết, các em làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể mà các em thường gặp, trong Hướng dẫn học Toán 3 khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ. Một số em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải thì còn lúng túng và có khi đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý.
+ Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm tra lại bài, dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan. Ngoài ra, còn có những trường hợp học sinh hiểu bài nhưng còn lúng túng trong cách trình bày nhất là với các bài toán giải có lời văn phức tạp.
Bên cạnh đó việc ý thức về tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn của các em chưa đầy đủ. Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh lên lớp 3 vẫn còn nhiều em chưa ghi được lời giải và phép tính đúng cho một bài toán.
Để thực hiện được vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học sinh lớp tôi ngay khi được phân công đầu năm. Tôi nghiên cứu tìm hiểu lực học của từng học sinh năm học trước đồng thời tôi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm năm học trước để nắm rõ hơn. Sau đó tôi cho kiểm tra khảo sát để phân loại từng đối tượng học sinh đầu năm học 2013 - 2014 của lớp 3A1 như sau:
Tổng số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
20 em
0
0
7
35 %
11
55 %
2
10 %
II. Lý do chọn sáng kiến
Năm học 2013- 2014 là năm học thứ hai Trường Tiểu học Xuân Lao được tham gia dự án dạy học theo mô hình trường học mới VNEN của Bộ Giáo dục và Đào tạo và cũng là một trong 68 trường được Sở Giáo dục và Đào tạo chọn theo mô hình trường học mới VNEN. Mô hình
“Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3A1 tại Trường Tiểu học Xuân Lao”.
Phần I: Đặt vấn đề
I. Nguyên nhân chủ quan, khách quan
* Giáo viên:
Trong quá trình dạy học theo mô hình VNEN giáo viên chưa chú ý tới việc làm thế nào để học sinh nắm vững được lượng kiến thức, đặc biệt là dạng giải toán có lời văn. Nguyên nhân là do giáo viên mới tiếp cận với chương trình dạy học theo kiểu mới này. Thời gian dành nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học mới này còn hạn chế
Khi dạy giải toán có lời văn cho học sinh giáo viên chưa chú ý nhiều đến việc hướng dẫn kĩ năng đọc đề toán cho học sinh, học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán, không chịu phân tích đề toán đã giải bài toán.
Giáo viên chưa khắc sâu quy trình giải toán có lời văn cho học sinh, chưa rèn kĩ năng thực hành giải toán theo quy trình vì thực tế trong một tiết dạy 40 phút, vừa làm bài tập ở nhiều mạch kiến thức khác nhau, trong đó có bài toán có lời văn thường ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trả lời không được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức, chưa nắm được mẹo để giải bài toán.
* Học sinh:
Năm học 2013 - 2014 tôi được phân công dạy lớp 3A1. Lớp tôi chủ nhiệm có 20 em, nữ 12 em. Đa số các em thuộc diện gia đình hộ nghèo và cận nghèo, đều là con gia đình nông dân, cha mẹ ít quan tâm đến việc học tập của con em mình, còn phó mặc việc học tập của con em mình cho giáo viên.
85% học sinh lớp tôi là dân tộc Thái, 5% là dân tộc Khơ mú, 10% là dân tộc H’mông vốn Tiếng Việt các em còn hạn chế. Nhất là với môn toán số lượng học sinh trung bình nhiều, học sinh yếu vẫn còn, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không hiểu được đề bài toán nên làm cho có theo yêu cầu của thầy cô, dẫn đến giải bài toán sai.
+ Học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán không chịu phân tích đề toán khi đọc đề.
+ Việc tìm hiểu đề toán, đang còn gặp nhiều khó khăn đối với học sinh trung bình yếu của lớp 3. Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm ...
+ Học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán phức tạp. Hầu hết, các em làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể mà các em thường gặp, trong Hướng dẫn học Toán 3 khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ. Một số em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải thì còn lúng túng và có khi đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý.
+ Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm tra lại bài, dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan. Ngoài ra, còn có những trường hợp học sinh hiểu bài nhưng còn lúng túng trong cách trình bày nhất là với các bài toán giải có lời văn phức tạp.
Bên cạnh đó việc ý thức về tầm quan trọng của việc giải toán có lời văn của các em chưa đầy đủ. Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh lên lớp 3 vẫn còn nhiều em chưa ghi được lời giải và phép tính đúng cho một bài toán.
Để thực hiện được vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học sinh lớp tôi ngay khi được phân công đầu năm. Tôi nghiên cứu tìm hiểu lực học của từng học sinh năm học trước đồng thời tôi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm năm học trước để nắm rõ hơn. Sau đó tôi cho kiểm tra khảo sát để phân loại từng đối tượng học sinh đầu năm học 2013 - 2014 của lớp 3A1 như sau:
Tổng số
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
20 em
0
0
7
35 %
11
55 %
2
10 %
II. Lý do chọn sáng kiến
Năm học 2013- 2014 là năm học thứ hai Trường Tiểu học Xuân Lao được tham gia dự án dạy học theo mô hình trường học mới VNEN của Bộ Giáo dục và Đào tạo và cũng là một trong 68 trường được Sở Giáo dục và Đào tạo chọn theo mô hình trường học mới VNEN. Mô hình
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓









Các ý kiến mới nhất