Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: đỗ ái linh
Ngày gửi: 00h:14' 07-07-2026
Dung lượng: 6.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐÔNG NGẠC
TRƯỜNG MẦM NON HOÀNG TĂNG BÍ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI HÌNH THỨC GÂY HỨNG THÚ
GIÚP TRẺ 24-36 THÁNG TUỔI TÍCH CỰC THAM GIA
HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN VẬN ĐỘNG
Tên tác giả: Đỗ Thị Thu Hường
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Hoàng Tăng Bí

Đông Ngạc, tháng 04/2026

MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến: ........................................................ 1
2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến: ...................................................................... 1
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: ................................................... 1
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN .................................................................... 2
1. Thực trạng vấn đề (Nêu rõ cách làm cũ, phân tích nhược điểm): ................. 2
1.1 Cách làm cũ, phân tích nhược điểm: ........................................................... 2
1.2 Thực trạng: ................................................................................................... 2
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề (Nêu rõ cách làm mới, có
tính sáng tạo, hiệu quả, cách thức cụ thể triển khai thực hiện) ......................... 4
2.1.Biện pháp 1: Lập kế hoạch phát triển vận động giúp giáo viên lựa chọn
những bài vận động phù hợp. ............................................................................ 5
2.2.Biện pháp 2: Lấy trẻ làm trung tâm khi tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ
năng vận động. ................................................................................................... 7
2.3.Biện pháp 3: Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt động
khác trong ngày.................................................................................................. 8
2.4.Biện pháp 4:Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi vận động phù hợp với hoạt động
rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ ................................................................. 11
2.5.Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh trong
việc rèn các kỹ năng vận động cho trẻ ............................................................ 14
3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị: ............................. 15
4.Hiệu quả của sáng kiến: ................................................................................ 16
4.1.Hiệu quả về khoa học: ............................................................................... 16
4.2.Hiệu quả về xã hội: .................................................................................... 16
5.Tính khả thi (khả năng áp dụng vào thực tiễn công tác của đơn vị, địa
phương…): ....................................................................................................... 16
6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến: ......................................................... 16
7. Kinh phí thực hiện đề tài, sáng kiến: ........................................................... 17
III. KẾT LUẬN.................................................................................................. 18
1. Kết quả của việc ứng dụng sáng kiến: ......................................................... 18
2. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu:................................................ 18
3. Những kiến nghị, đề xuất:............................................................................ 19

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến:
Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến sức khỏe con người.
Người từng căn dặn:“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới,
việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công”. Đối với trẻ mầm non, đặc biệt
là trẻ 24–36 tháng tuổi, việc rèn luyện thể chất và phát triển vận động có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, góp phần hình thành nền tảng ban đầu cho sự phát triển toàn
diện của trẻ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều trẻ còn nhút nhát, khả năng vận động
chưa linh hoạt, chưa tích cực tham gia các hoạt động do hình thức tổ chức còn
đơn điệu, chưa thực sự hấp dẫn. Ở lứa tuổi này, trẻ rất hiếu động, dễ bị thu hút bởi
những yếu tố mới lạ, sinh động; nếu hoạt động thiếu đổi mới sẽ khó duy trì sự tập
trung và hứng thú của trẻ. Xuất phát từ thực tế đó, việc đổi mới hình thức gây
hứng thú giúp trẻ tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động là hết sức cần
thiết, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất và đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục tiêu của đề tài, sáng kiến:
Đề tài được thực hiện nhằm tìm ra và áp dụng các hình thức tổ chức hoạt
động linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 24–36 tháng
tuổi, cụ thể:
+ Tạo hứng thú, thu hút trẻ tích cực tham gia các hoạt động phát triển vận
động
+ Rèn luyện và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản phù hợp với độ tuổi
+ Hình thành cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin và thói quen tham gia hoạt động tập
thể
+ Góp phần nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động phát triển vận động trong
nhà trường
3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1.Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ 09/2025 đến tháng
03/2026
- Tháng 9/2025: Chọn đề tài, tiến hành khảo sát trẻ
- Tháng 10/2025 đến tháng 2/2026: Thực hiện đề tài
- Tháng 3/2026: Kết thúc đề tài
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp
trẻ 24-36 tháng tuổi tích cực tham gia hoạt động phát triển vận động”
3.3. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này của tôi được thực hiện với 35 trẻ lớp
nhà trẻ D4.

2
II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng vấn đề (Nêu rõ cách làm cũ, phân tích nhược điểm):
1.1 Cách làm cũ, phân tích nhược điểm:
Ở những năm học vừa rồi, bản thân tôi cũng giảng dạy tại lứa tuổi nhà trẻ,
và thường dùng những phương pháp cơ bản, ít đổi mới, chưa gây được hứng thú
cho trẻ, thiếu sự sáng tạo, linh hoạt còn mang tính chất đơn điệu cứng nhắc như:
chỉ tiến hành các hoạt động thể chất trong giờ học phát triển vận động nên trẻ chưa
được hoạt động nhiều, cũng như chưa thể hiện được hết bản thân, chưa phát triển
toàn diện về mọi mặt cho trẻ. Trong quá trình tổ chức các hoạt động phát triển vận
động cho trẻ 24–36 tháng tại lớp, giáo viên chủ yếu áp dụng các phương pháp
truyền thống như: cho trẻ tập theo mẫu, cô làm trước – trẻ làm theo sau, tổ chức
các bài tập đơn lẻ, ít có sự đổi mới về hình thức. Nội dung vận động thường lặp
lại, chưa phong phú, chưa gắn với trò chơi hay tình huống thực tế nên chưa tạo
được sự hứng thú cao cho trẻ.
Bên cạnh đó, việc tổ chức hoạt động còn mang tính đồng loạt, chưa chú ý
đến sự khác biệt về thể chất và khả năng của từng trẻ. Một số trẻ còn rụt rè, nhút
nhát chưa được khuyến khích kịp thời; trong khi đó những trẻ nhanh nhẹn lại chưa
được phát huy hết khả năng. Đồ dùng, dụng cụ phục vụ hoạt động vận động còn
hạn chế, chưa đa dạng, chưa thu hút trẻ tham gia tích cực.Ngoài ra, sự phối hợp
giữa gia đình và nhà trường trong việc rèn luyện kỹ năng vận động cho trẻ chưa
thực sự chặt chẽ. Phụ huynh còn chú trọng nhiều đến việc ăn uống, học chữ mà
chưa quan tâm đúng mức đến việc phát triển vận động cho trẻ trong giai đoạn này.
Nhược điểm của cách làm cũ:
Trẻ tham gia hoạt động một cách thụ động, thiếu hứng thú.
Kỹ năng vận động của trẻ phát triển chưa đồng đều.
Chưa phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trẻ.
Hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục mầm
non.
1.2 Thực trạng:
Năm học 2025-2026, tôi được nhà trường phân công dạy lớp nhà trẻ 24-36
tháng tuổi, với 35 trẻ.
* Thuận lợi:
- Ban giám hiệu luôn quan tâm tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục
trẻ, thường xuyên tổ chức các buổi bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và các đợt
dạy chuyên đề, dự giờ đồng nghiệp, hội thi cho giáo viên được học tập và rút kinh
nghiệm cho bản thân.

3
- Đội ngũ cán bộ giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, có tinh thần
nhiệt huyết với nghề, yêu thương trẻ, đoàn kết trong công việc và luôn hoàn thành
tốt nhiệm vụ được giao.
- Bản thân tôi đã nắm vững chuyên môn, luôn yêu nghề mến trẻ, ham học
hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
- Trẻ học cùng độ tuổi, khỏe mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào các
họat động của lớp.
- Phụ huynh học sinh 100% sử dụng điện thoại thông minh nên rất thuận lợi
cho việc tuyên truyền, trao đổi thông tin qua zalo nhóm lớp để cùng phối hợp
chăm sóc giáo dục trẻ tốt.
- Trường có sân chơi ngoài trời và phòng thể chất có đồ dùng phát triển thể
chất cho trẻ.
* Khó khăn:
+ Về phía giáo viên:
- Việc tổ chức hoạt động phát triển vận động chưa thu hút, chưa giúp trẻ thấy
thoải mái, giáo viên lên lớp chỉ mới dừng lại ở hoàn thành nhiệm vụ, hình thức và
phương pháp chưa linh hoạt, sáng tạo, chưa quan tâm đến sở thích riêng của trẻ.
- Giáo viên chưa linh hoạt và sáng tạo trong việc xây dựng môi trường lớp
học, đồ dùng đồ chơi chưa phong phú đa dạng, trẻ chưa được trải nghiệm nhiều.
+ Về phía phụ huynh:
- Ở lớp vẫn còn một số phụ huynh đi làm xa hay công việc phải tăng ca
nhiều, ít quan tâm tới trẻ, để các con ở nhà với ông bà nên việc phối kết hợp với
giáo viên và nhà trường còn gặp nhiều khó khăn.
+ Về phía trẻ:
- Một số trẻ chưa có nề nếp học tập, chưa biết cách chơi cùng bạn, ngôn ngữ
còn khá nhiều hạn chế.
- Một số đồ dùng trực quan trong khi hoạt động còn chưa hấp dẫn nên các
hoạt động phát triển vận động cho trẻ còn khô khan.
- Khả năng vận động giữa các trẻ trong lớp không giống nhau.
- Một số trẻ vẫn còn nhút nhát không tham gia vào các hoạt động của lớp.
- Một số phụ huynh chưa coi trọng việc học mà cho rằng việc cho trẻ đến
trường chỉ là chơi.
+ Để thực hiện đề tài có hiệu quả tôi đã tiến hành khảo sát trẻ, cụ thể như sau:

Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

4
Bảng khảo sát trẻ đầu năm học (Tháng 9/2025)
Đầu năm
Tổng số
Đạt
Chưa đạt
STT
Nội dung khảo sát
trẻ
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
lượng
%
lượng
%
Trẻ khỏe mạnh, cân nặng,
1
chiều cao đảm bảo theo độ
10
28,5
25
71,5
tuổi.
Trẻ biết kĩ năng vận động
2
8
22,8
27
77,2
đi, chạy.
Trẻ biết kĩ năng vận động
3
7
20
28
80
bật, nhún.
Trẻ biết kĩ năng vận động
4
10
28,5
25
71,5
bò, trườn, trèo.
35
Trẻ biết kĩ năng vận động
5
9
25,7
26
74,3
đẩy, ném, bắt, tung.
Trẻ biết kĩ năng vận động
6
khéo léo của đôi bàn tay và
8
22,8
27
77,2
các ngón tay.
Thực hiện được một số
việc tự phục vụ đơn giản, 1
7
10
28,5
25
71,5
số thói quen tốt trong sinh
hoạt hàng ngày.
Qua bảng khảo sát đầu năm học (tháng 9/2025) cho thấy, tỷ lệ trẻ đạt các nội
dung phát triển vận động và kỹ năng còn thấp, dao động từ khoảng 20% đến dưới
30%, trong khi số trẻ chưa đạt chiếm tỷ lệ cao (trên 70%). Đặc biệt, các kỹ năng
vận động như đi, chạy; bật, nhún; bò, trườn, trèo; cũng như sự khéo léo của đôi
bàn tay và thói quen tự phục vụ của trẻ còn nhiều hạn chế.
Từ thực trạng đó cho thấy việc tổ chức các hoạt động vận động cho trẻ chưa
thực sự thu hút và phát huy được tính tích cực của trẻ. Vì vậy, cần thiết phải đổi
mới hình thức tổ chức, tạo hứng thú để giúp trẻ 24–36 tháng tích cực tham gia các
hoạt động phát triển vận động, từ đó nâng cao thể lực và phát triển toàn diện cho
trẻ.
2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề (Nêu rõ cách làm
mới, có tính sáng tạo, hiệu quả, cách thức cụ thể triển khai thực hiện)
2.1.Biện pháp 1: Lập kế hoạch phát triển vận động giúp giáo viên lựa
chọn những bài vận động phù hợp.
* Tác dụng của biện pháp
Việc lập kế hoạch phát triển vận động một cách khoa học và phù hợp với lứa
Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

5
tuổi 24–36 tháng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực trong quá trình tổ chức hoạt
động cho trẻ:
- Giúp giáo viên chủ động, linh hoạt trong tổ chức hoạt động
- Đảm bảo tính hệ thống và liên tục trong phát triển kỹ năng vận động.
Các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, giúp trẻ phát
triển vận động một cách tự nhiên, bền vững.
- Thông qua kế hoạch, giáo viên có thể điều chỉnh mức độ vận động cho từng
nhóm trẻ (nhanh, chậm, nhút nhát…), từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Khi các bài vận động được lựa chọn đa dạng, phong phú, gắn với trò chơi
và tình huống gần gũi, trẻ sẽ hào hứng tham gia, mạnh dạn và tự tin hơn.
* Cách thức thực hiện biện pháp
Dựa trên kế hoạch năm học của nhà trường xây dựng và căn cứ vào nội dung
trong chương trình theo độ tuổi. Căn cứ vào thời gian, thời điểm thực hiện bài tập
ở vào giai đoạn nào của chương trình năm học. Căn cứ vào mức độ phát triển, khả
năng thực tế của trẻ, tôi đã xây dựng kế hoạch, nội dung các vận động tập luyện
cho trẻ, xác định độ khó của từng bài tập và sắp xếp theo trình tự để đưa vào
hướng dẫn trẻ cho phù hợp đi từ dễ đến khó đảm bảo củng cố, phát triển những
vận động trẻ đã biết, đồng thời chuẩn bị cho những kỹ năng vận động cao hơn.
Nội dung trong chương trình đã được trình bày theo từng loại vận động và theo
mức độ tăng dần từ dễ đến khó, đồng thời phù hợp với từng chủ đề chủ điểm, phù
hợp với các hoạt động khác và các sự kiện. Khi lập được kế hoạch tổ chức thì việc
giáo viên tiến hành thực hiện rất hiệu quả.
Việc lập kế hoạch phát triển vận động giáo viên xác định các kỹ năng cần
thiết để dạy trẻ. Khi sử dụng các mốc về kỹ năng vận động để nhóm trẻ có cùng
nhu cầu với nhau từ đó chia trẻ về từng nhóm để giáo viên lựa chọn những bài tập
vận động phù hợp. Tiếp đó giáo viên có thể chọn hoạt động để thực hành từng kỹ
năng.
+ Có những trẻ kỹ năng giữ thăng bằng còn hạn chế xếp vào một nhóm để
có bài tập vận động về giữ thăng bằng.
+ Những trẻ vận động chạy còn hạn chế xếp vào một nhóm .
+ Những trẻ chưa biết tự đi dép xếp vào một nhóm...
+ Với kỹ năng chạy giáo viên có thể chọn các bài tập như chạy thẳng hướng,
chạy theo hiệu lệnh…
+ Với kỹ năng ném giáo viên chọn các bài tập như ném trúng đích, ném xa…
+ Với các kỹ năng vận động tinh giáo viên sẽ chọn các bài tập mà trẻ phải sử
dụng các ngón tay, các phần cơ của bàn tay để thực hành các kỹ năng đề ra.
Giáo viên chia các hoạt động thành từng bước nhỏ trong các tuần và dần dần
gia tăng độ khó của bài tập. Sau mỗi hoạt động giáo viên phải đánh giá lại kế
Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

6
hoạch đã đưa ra xem liệu trẻ đã sẵn sàng với những kỹ năng vận động tiếp theo
chưa hay cần phải tiếp tục thực hành những kỹ năng đó.
Căn cứ vào nội dung các vận động được sắp xếp trong chương trình theo độ
tuổi. Căn cứ vào thời gian, thời điểm thực hiện bài tập ở vào giai đoạn nào của năm
học. Căn cứ vào mức độ phát triển, khả năng thực tế của trẻ, xây dựng một kế
hoạch nội dung các vận động tập luyện cho trẻ, xác định độ khó của từng bài tập
và sắp xếp theo trình tự để đưa vào hướng dẫn trẻ cho phù hợp đi từ dễ đến khó
đảm bảo củng cố, phát triển những vận động trẻ đã biết đồng thời chuẩn bị cho
những vận động mới.
* Ví dụ:
+ Sắp xếp các bài tập vận động “Đi và thăng bằng” cho trẻ 24 - 36 tháng theo
độ khó tăng đần như sau: Đầu tiên là bài “Đi theo hướng thẳng”, tiếp đến là “Đi
trong đường hẹp”, “Đi có mang vật trên tay”, “Đi theo hiệu lệnh”
+ Sắp xếp các bài tập vận động bò: “Bò thẳng hướng”, “Bò trong đường hẹp”,
“Bò theo đường gấp khúc”, “Bò chui qua cổng”, “Bò có mang vật trên lưng”
Hình ảnh minh họa: Bò chui qua cổng
+ Với các vận động khác cũng cần sắp xếp tương tự. Như vậy ta có thể lập kế
hoạch cho từng nhóm vận động từ dễ đến khó như sau:
STT
Nhóm vận động
Vận động cơ bản
1
Vận động đi / chạy
- Đi theo hướng thẳng
- Đi trong đường hẹp
- Đi có mang vật trên tay
- Đi theo hiệu lệnh
- Đi trong đường hẹp có mang vật trên
tay
- Đi có mang vật trên đầu
- Đi bước vào các ô
- Đi theo đường ngoằn ngoèo
-Đi theo đường ngoằn ngoèo có mang
vật trên tay
- Đi bước qua vật cản
- Đi kết hợp với chạy
- Chạy theo hướng thẳng
- Chạy đổi hướng
- Đứng co 1 chân.
2
Vận động phối hợp tay/mắt
- Tung bóng bằng 2 tay
- Tung bóng qua dây
- Tung bắt bóng cùng cô
Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

7
- Ném bóng về phía trước
- Ném bóng vào đích
3
Vận động phối hợp tay/chân - Bò theo hướng thẳng
- Bò thẳng hướng theo đường hẹp
- Bò chui qua cổng
- Bò theo đường ngoằn ngoèo
- Bò thẳng hướng có mang vật trên
lưng
- Bò qua vật cản
- Trườn theo hướng thẳng
- Trườn qua vật cản
4
Vận động thể hiện sức mạnh - Ném xa
cơ bắp
- Bật tại chỗ
- Bật qua vạch kẻ
* Kết quả của biện pháp:
Nhờ việc lập kế hoạch khoa học, phù hợp: Trẻ được luyện tập vận động
một cách có hệ thống, không gò bó. Phù hợp với từng đối tượng trẻ, trẻ hứng thú,
tích cực tham gia hơn. Kỹ năng vận động của trẻ được củng cố và phát triển rõ
rệt.
Biện pháp 2: Lấy trẻ làm trung tâm khi tổ chức các hoạt động rèn luyện
kỹ năng vận động.
* Tác dụng của biện pháp
Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là dựa trên nhu cầu, hứng thú, khả năng và
thế mạnh của từng trẻ, giáo viên cần tin tưởng rằng mỗi trẻ đều có thể thành công
và tiến bộ, tạo cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau. Qua đó, giúp giáo
viên có thể lựa chọn, những bài tập phát triển vận động một cách phong phú, đa
dạng, hấp dẫn, tạo hứng thú và thu hút trẻ tham gia vào phát triển vận động.
* Cách thức thực hiện biện pháp
Học mà chơi, chơi mà học giáo viên có thể lồng các vận động vào các trò
chơi vận động như trò chơi “Gà trong vườn rau” rèn kỹ năng bật chạy cho trẻ.
Mỗi đứa trẻ đều có sự khác biệt về hoàn cảnh, điều kiện gia đình, môi
trường sống và học tập… Do đó, mỗi trẻ là một cá thể riêng biệt khác nhau về thể
chất, tình cảm, mối quan hệ xã hội, trí tuệ, tâm lý. Vậy nên điều cần thiết là giáo
viên nắm bắt được đặc điểm từng cá nhân của trẻ. Vận động nào trẻ còn hạn chế
để từ đó tiếp tục rèn luyện và phát huy những vận động tích cực của trẻ.
Giáo viên đánh giá mức độ của từng trẻ từ đó điều chỉnh mức độ của bài
tập vận động sao cho phù hợp với sự phát triển của riêng cá nhân trẻ. Có nghĩa là

Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

8
thiết kế cho từng hoạt động có mức độ khó hơn hoặc dễ hơn bằng cách bổ sung
hoặc giảm bớt yêu cầu của bài vận động..
* Ví dụ:
Với bài ném trúng đích nếu trẻ đã có kỹ năng tốt ta có thể tăng thêm độ
khó bằng cách lùi đích ra xa hơn hoặc với trẻ kỹ năng chưa tốt ta có thể để đích
gần hơn để trẻ ném.
+ Với bài đi trong đường hẹp nếu trẻ khá ta có thể cho trẻ thực hiện kỹ năng
đi trong đường hẹp hơn, trẻ yếu thì đi trong đường rộng hơn.
Hình ảnh minh họa: Đi trong đường hẹp và ném bóng trúng đích.
+ Hay với vận động tinh rèn sự khéo léo của các ngón tay trẻ khá sẽ cho xâu
hạt vòng nhỏ hơn còn trẻ kỹ năng kém hơn sẽ cho xâu hạt vòng to hơn…
* Kết quả của biện pháp
Tôi thấy trẻ lớp tôi đều rất hứng thú thể hiện khả năng của mình. Mỗi trẻ đều
có cơ hội để rèn kỹ năng vận động khác nhau đặc biệt là thông qua hoạt động học
và vui chơi.
3. Biện pháp 3: Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt
động khác trong ngày.
* Tác dụng của biện pháp:
Lồng ghép các hoạt động giáo dục thể chất vào các hoạt động. Có thể tận
dụng được các đồ vật có sẵn ở môi trường xung quanh, tạo không gian cho trẻ vận
động một cách thoải mái không gò bó.
* Cách thức thức thực hiện biện pháp:
Mỗi hoạt động của trẻ đều nhằm đạt được mục đích nhất định. Vì thế, hoạt
động nào cũng có tính chất riêng của nó. Nếu như hoạt động chung được tổ chức
nhằm cung cấp các kiến thức cho trẻ thì hoạt động ngoài trời lại giúp trẻ được tự
do phát triển vận động phù hợp với sức khỏe của trẻ cụ thể như:
3.1. Thông qua hoạt động học.
* Hoạt động phát triển vận động:
Một hoạt động phát triển vận động thường có 3 phần:
- Khởi động: Rèn kĩ năng đi, chạy cho trẻ. Giáo viên cho trẻ đi các kiểu đi,
chạy khác nhau: đi nhanh, đi chậm, chạy nhanh, chạy chậm.
- Trọng động:
+ Bài tập phát triển chung giúp trẻ phát triển đều các nhóm cơ, hô hấp. “Tập
với bóng, máy bay, hái hoa…”
+ Vận động cơ bản: Giáo viên lựa chọn các vận động từ dễ đến khó phù hợp
với trẻ. Với những trẻ đã thực hiện tốt có thể tăng độ khó hơn, trẻ chưa thực hiện
được có thể giảm xuống. Trong một tháng phải đảm bảo thay thổi các vận động

Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

9
* Ví dụ: Đi theo hướng thẳng, bò chui qua cổng, chạy theo hướng thẳng,
bật qua các vòng. Trẻ được giao lưu với các anh chị lớp MGL, trẻ rất hào hứng
khi tham gia
+ Trò chơi vận động : Trò chơi vận động không được trùng nhóm cơ với
vận động cơ bản.
* Ví dụ: Vận động cơ bản là “Tung bóng” thì trò chơi vận động là “Bong
bóng xà phòng”. Vì vận động cơ bản chủ yếu là phát triển nhóm cơ tay thì trò chơi
giúp phát triển nhóm cơ chân.
Hồi tĩnh : Trẻ đi nhẹ nhàng điều hòa hô hấp, hít thở
* Hoạt động giáo dục âm nhạc:
Nhằm phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ cho trẻ và thẩm mĩ cho trẻ.
Nhưng qua đó cũng cung cấp cho trẻ kỹ năng vận động thông qua các bài vận
động theo nhạc hay thông qua các trò chơi âm nhạc “Nhảy theo nhạc” , “Hãy bắt
chước”…
* Ví dụ: Khi dạy trẻ vận động theo nhạc bài “Cá vàng bơi” trẻ được vận
động nhẹ nhàng theo lời bài hát. Phát triển kỹ năng vận động đặc biệt là sự mềm
dẻo của đôi cánh tay, bàn tay của trẻ khi vận động động tác cá vàng bơi.
* Hoạt động làm quen văn học:
Trong hoạt động làm quen văn học, để thu hút sự chú ý và tạo hứng thú cho
trẻ, tôi đã đổi mới hình thức tổ chức bằng cách sử dụng tạp dề kể chuyện. Đây là
một hình thức trực quan sinh động, phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ 24–36
tháng tuổi, giúp trẻ dễ dàng tiếp cận nội dung câu chuyện.
Khi sử dụng tạp dề, các nhân vật trong truyện được thiết kế bằng hình ảnh
ngộ nghĩnh, gắn trực tiếp lên tạp dề của cô. Trong quá trình kể chuyện, cô vừa kể
vừa di chuyển các nhân vật, kết hợp với giọng điệu diễn cảm, cử chỉ linh hoạt, tạo
nên sự hấp dẫn và cuốn hút đối với trẻ. Hình thức này giúp trẻ:Tập trung chú ý
hơn khi nghe kể chuyện.
* Hoạt động tạo hình:
Là một hoạt động mang tính nghệ thuật nhằm cung cấp các kiến thức sơ
đẳng về tạo hình cho trẻ thông qua đó phát triển khả năng quan sát tri giác, phân
biệt, khả năng phân tích tổng hợp các thao tác tư duy trực quan. Hoạt động tạo
hình có ý nghĩa to lớn trong việc rèn kỹ năng vận động cho trẻ mầm non. Để tạo
ra sản phẩm trẻ phải sử dụng các kỹ năng tạo hình, kỹ năng sử dụng đồ dùng.
Ngoài việc dạy trẻ cảm thụ được cái đẹp từ các sản phẩm trẻ tạo ra, trẻ được rèn
luyện các vận động tinh, sự khéo léo của đôi bàn tay thông qua các hoạt động:
dán, xé, vò, di màu, nặn, chấm hồ…

Đổi mới hình thức gây hứng thú giúp trẻ 24–36 tháng tuổi tích cực tham gia
hoạt động phát triển vận động

10
* Ví dụ: Trong hoạt động “ Nặn hoa đào”: Trẻ được rèn luyện sự khéo léo
của đôi bàn tay thông qua việc, nhào bóp đất, véo đất, xoay tròn ấn dẹt tạo ra sản
phẩm.
Hình ảnh minh họa: Hoạt động nặn hoa đào và tô màu quả cà chua
3.2: Thông qua các hoạt động khác.
* Hoạt động thể dục sáng:
Thông qua hoạt động thể dục s
 
Gửi ý kiến