Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

SKKN Địa Lí 2008 (TP Hải Phòng)

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Đình Đông - Đăng Dương
Ngày gửi: 22h:52' 23-04-2008
Dung lượng: 100.5 KB
Số lượt tải: 106
Số lượt thích: 0 người
Phần I: Đặt vấn đề:
(. Lý do chọn đề tài:
Những năm gần đây việc đổi mới phương pháp theo hướng tích cực hoá nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh luôn đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi nghiên cứu, học hỏi để thực hiện được yêu cầu đó.
Môn địa lý là môn học có đặc thù riêng. Ngoài việc tìm hiểu tri thức qua kênh chữ, học sinh còn phải năm bắt kiến thức qua kênh hình
( Tranh, ảnh, lược đồ...biểu đồ, bản đồ, hình mẫu).
Qua thực tế giảng dạy môn địa lý, tôi nhận thấy kỹ năng sử dụng lược đồ của học sinh còn yế, chỉ một số biết sử dụng. Năm học 2006 - 2007 đựoc nhà trường phân công dạy địa lý 9, tôi nhận thấy việc cần thiết phải rèn cho học sinh kỹ năng sử dụng lược đồ để khai thác kiến thức. Thông qua phân tích lược đồ học sinh chủ động năm kiến thức trong bài học và có hứng thú hơn khi học tập bộ môn.
(. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9A, 9B trường THCS An Hoà.
Phần II: Cơ sở khoa học:
(. Cơ sở lý luận:
Đọc và khai thác kiến thức từ bản đồ, lược đồ là một trong những kỹ năng rất qua trọng khi học địa lý vì các lược đồ đều được in màu, nội dung tương ứng với kênh chữ. Các nội dung trong lược đồ, các kí hiệu được sử dụng đã gợi mở để học sinh có thể tự khám phá, tự lĩnh hội kiến thức trên cơ sở đó học sinh có được tư duy mềm dẻo khi nhận dạng và phân tích lược đồ. Từ đó học sinh khắc sâu được kiến thức cơ bản, đặc trưng của từng vùng lãnh thổ như làm điểm tựa cho tư duy tổng hợp. Mặt khác sự phân hoá không gian của các hiện tượng địa lý, kinh tế xã hội được biểu diễn bằng nhiều cách khác nhau ở các lược đồ, các màu sắc thể hiện vùng chen hoá nông nghiệp, các vùng rừng...sự phân hoá tầng, độ cao phản ánh khá rõ câu trúc không gian của các điều kiện tự nhiên hay các hiện tượng kinh tế xã hội được nói đến trong bài. Các trung tâm công nghiệp có quy mô khác nhau được thể hiện bằng các kí hiệu to, nhỏ cho thấy rõ hơn các vùng phát triển rất mạnh của đất nước cũng như sự khác biệt theo vùng. Vì vậy có thể nói qua lược đồ ta thu lượm và khai thác được rất nhiều kiến thức. Do vậy học sinh không những biết sử dụng mà còn phải biết sử dụng một cách thành thạo các lược đồ khi học địa lý.
(. Cơ sở thực tiễn:
Qua thực tiến giảng dạy tôi nhận thấy kĩ năng này ở học sinh còn yếu, chỉ một số học sinh biết sử dụng. Vì vậy mà việc học sinh nắm bắt kiến thức của các em còn thụ động và hạn chế. Hơn nữa ở một số em việc học tập môn địa lý gần như là bắt buộc; nghĩa là các em chưa có hứng thú học tập. Để khắc phục tình trạng trên theo tôi cần phải có những biện pháp đó là:
2.1 Giáo viên cần yêu cầu học sinh khai thác kiến thức từ kênh hình trong mỗi bài.
2.1 Giáo viên gợi mở để học sinh tự khám phá, tự lĩnh hội kiến thức.
2.3 Trong mỗi bài giáo viên cần tăng cường đặt câu hỏi từ các nguồn thông tin được khai thác trên lược đồ.
Muốn thực hiện tốt các biện pháp trên trước hết cần rèn luyện cho học sinh biết cách sử dụng lược đồ và dần rèn luyện thành kỹ năng, kĩ xảo sử dụng lược đồ một cách thành thạo.
Phần III: Giải quyết vấn đề:
(. Điều tra cơ bản:
- Đối tượng điều tra: Học sinh lớp 9A, 9B trường THCS An Hoà
( Tổng số 80 em).
- Kết quả:
+ Học sinh biết sử dụng lược đồ: 10 em = 12,5%.
+ Học sinh bước đầu nắm được cách dử dụng lược đồ: 40 em = 50%.
+ Học sinh chưa biết cách sử dụng lược đồ: 30 em = 37,5%.
Qua điều tra tôi nhận thấy hầu hết học sinh có chú ý tới lược đồ khi học. Một số học sinh giỏi đã biết cách sử dụng lược đồ. Nhưng kĩ năng sử dụng của đại đa số học sinh còn yếu. Khả năng đọc nội dung trong lược đồ còn rất hạn chế. Những học sinh trung bình và yếu không nắm được cách sử dụng nên không có hứng thú trong quá trình khai thác nội dung kiến thức. Hơn nữa thời gian cho một tiết học ít nên việc cho học sinh tìm hiểu kiến thức trên lược đồ gặp nhiều khó khăn.
Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng sử dụng lược đồ của học sinh?
(. Xây dựng kế hoạch thực hiện:
Từ thực tế điều tra, tôi tiến hành xây dựng kế hoạch thành 3 giai đoạn:
*Giai đoạn 1: Từ 5/9/2005 đến 10/9/2005.
- Tiến hành khảo sát chất lượng:
+ Hình thức: Kiểm tra:
+ Sĩ số lớp 9A, 9B: 80 em.
+ Kết quả:
Học sinh biết sử dụng lược đồ: 10 em = 12,5%.
Học sinh bước đầu nắm đựoc cách dử dụng lược đồ: 40 em = 50%.
Học sinh chưa biết cách sử dụng lược đồ: 30 em = 37,5%.
Từ thực trạng đó, tiến hành xây dựng kế hoạch, đặt ra mục tiêu và tìm biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học.
*Mục tiêu cần đạt:
+ Cuối học kì I:
Học sinh sử dụng lược đồ thành thạo: 20 em = 25%.
Học sinh biết cách sử dụng lược đồ: 50 em = 62,5%.
Học sinh chưa biết cách sử dụng lược đồ còn 10 em = 12,5%.
+ Cuối năm học: Số học sinh sử dụng lược đồ thành thạo và biết sử dụng đạt 100%.
*Giai đoạn 2: Từ ngày 10/9/2005 đến 15/2/2006.
Thực hiện giảng dạy và kiểm tra đợt I.
*Giai đoạn 3: Từ 16/2/2006 đến 10/5/2006.
Tiếp tục phát huy những ưu điểm. Tiến hành kiểm tra và rút kinh nghiệm.
(. Tổ chức thực hiện:
- Lớp 9A: Làm lớp thực nghiệm.
- Lớp 9B: Làm lớp đối chứng.
- Thực nghiệm dạy trên các lược đồ:
+ Bài 3: Lược đồ phân bố dân cư và đô thị Việt Nam năm 1999.
+ Bài 8: Lược đồ nông nghiệp Việt Nam.
+ Bài 12: Lược đồ công nghiệp khai thác nhiên liệu và công nghiệp điện.
+ Bài 29: Lược đồ kinh tế vùng Tây Nguyên.
+ Bài 32: Lược đồ kinh tế Đông Nam Bộ.
Qua các bước như sau:
Bước 1: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà:
Đây là bước rất quan trọng trong việc chủ động nắm kiến thức của học sinh đảm bảo là làm việc với lược đồ. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ và hướng dẫn học sinh cụ thể.
Bước 2: Học sinh quan sát lược đồ:
Học sinh có nắm bắt được kiến thức trên lược đồ hay không phụ thuộc rất lớn vào thao tác này. Giáo viên phải chú ý đến các kí hiệu trên lược đồ để hướng dẫn học sinh.
Bước 3: Đặt câu hỏi nêu vấn đề, gợi ý học sinh tìm hiểu lược đồ:
Sau khi học sinh quan sát lược đồ, giáo viên đặt hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu. Quá trình khai thác nội dung kiến thức được thực hiện trong bước này, giáo viên chủ động hướng dẫn, học sinh chủ động nắm bắt kiến thức.
Bước 4: Học sinh trả lời câu hỏi qua việc tìm hiểu nội dung lược đồ.
Học sinh trình bày những kiến thức qua việc tìm hiểu ở bước . Đây là bước thể hiện sự tích cực, chủ động của học sinh:
Bước 5: Giáo viên nhận xét, bổ sung, hoàn chỉnh kiến thức. Đây là bước cuối cùng để hoàn thiện tri thức cho học sinh.
Các bước được thực nghiệm trên các lược đồ như sau:

Bài 3: Lược đồ phân bố dân cư
và đô thị Việt Nam năm 1999.

Bước 1: Hướng dẫn học sinh chuẩn bị ở nhà:
Quan sát kỹ lược đồ:
- Quan sát lược đồ và nắm bắt được các kí hiệu:
- Tìm hiều khu vực có mật độ dân số trên 1000 người/km2, từ 501 đến 1000 người /km2, từ 101 đến 500 nhỏ hơn 100 người/km2.
- Chỉ ra mối quan hệ giữa phân bố dân cư với điều kiện tự nhiên.
Bước 2: Quan sát lược đồ:
Giáo viên treo lược đồ( phóng to), giới thiệu chú thích trên lược đồ.
- Vùng đất màu đỏ: Mật độ dân số > 1000người/km2.
- Vùng đất màu hồng: Mật độ dân số từ 501 đến 1000 người/km2.
- Vùng đất da cam: Mật độ dân số từ 101 đến 500 người/km2.
- Vùng đất vàng nghệ: Mật độ dân số dưới 100 người/km2.
- Ô vuông to màu đỏ: Đô thị trên 1 triệu người.
- Ô vuông nhỏ màu đỏ: Đô thị từ 350.000 đến 1 triệu người.
- Chấm tròn to màu xanh: Đô thị từ 100.000 đến dưới 350.000 người.
- Chấm tròn nhỏ màu xanh: Đô thị dưới 100.000 người.
Bước 3: Nêu câu hỏi:
Câu 1: Quan sát H3.1: Lược đồ treo tường cho biết dân cư tập trung đông đúc ở những vùng nào? Thưa thớt ở những vùng nào?
Câu 2: Vì sao dân cư lại tập trung đông đúc ở vùng đồng bằng, ven biển và các đô thị?
Câu 3: Tại sao dân cư lại thưa thớt ở vùng núi?
Bước 4: Học sinh trả lời câu hỏi
Câu 1: Dân cư tập trung đông đúc ở vùng đồng bằng, ven biển và các đô thị lớn ( Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng...)
Câu 2: Dân cư tập trung đông đúc ở đồng bằng, vên biển và các đô thị lớn vì: ở đồng bằng và các đô thị có nhiều thuận lợi về điều kiện sống.
Câu 3: Dân cư thưa thớt ở vùng núi vì: Miền núi điều kiện sống còn nhiều khó khăn ( giao thông đi lại khó khăn, địa hình khó canh tác...).
Bước 5: Giáo viên chốt kiến thức ( Theo phần trả lời của học sinh)
Dân cư nước ta sống tập trung ở đồng bằng, ven biển và các đô thị.

Bài 8: Lược đồ nông nghiệp Việt Nam

Bước 1: Hướng dẫn học ở nhà:
- Quan sát lược đồ, nắm bắt các kí hiệu:
Bước 2: Quan sát lược đồ: Giáo viên giải thích các kí hiệu quan trọng
- Hình chữ nhật màu vàng nghệ: Vùng trồng cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp hàng năm.
- Hình chữ nhật màu đỏ: Vùng trồng cây công nghiệp lâu năm.
- Hình chữ nhật màu xanh lá cây: Vùng vùng rừng già và trung bình.
- Hình chữ nhật màu tím: Vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung.
- Hình chữ nhật màu xanh cốm: Vùng nông lâm kết hợp.
- Hình bông hoa: Cây chè.
- Hình quả cam:
 
Gửi ý kiến

↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓