Tìm kiếm Giáo án
SKKN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 14h:26' 06-08-2023
Dung lượng: 339.0 KB
Số lượt tải: 221
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Trọng
Ngày gửi: 14h:26' 06-08-2023
Dung lượng: 339.0 KB
Số lượt tải: 221
Số lượt thích:
1 người
(Phan Thu Nga)
1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Lí do khách quan
Đại dịch Covid-19 bắt đầu ở Vũ Hán (Trung Quốc) từ cuối năm 2019, và
sau đó lan rộng ra khắp các quốc gia trên thế giới, đã tác động sâu sắc đến mọi
lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, xã hội, đến đời sống thường nhật của người dân.
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phải liên tiếp ra các chỉ thị số 15, 16 và 19
chỉ đạo về các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 như việc tập trung đông
người, khoảng cách an toàn tối thiểu, hoạt động của các cơ sở kinh doanh, vận
tải… trong những thời điểm khác nhau. Trước những diễn biến phức tạp của
dịch bệnh, dạy học trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu hướng được tăng
cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu, nhiệm vụ chính trong các
nhiệm vụ triển khai năm học để thích ứng với tình hình mới.
Trong năm học 2021 - 2022, hơn 20 triệu học sinh, sinh viên và gần 2
triệu nhà giáo các cấp học chưa thể tiếp tục dạy học và học theo phương thức
dạy học trực tiếp. Tình trạng này bị gián đoạn và kéo dài qua bốn đợt bùng phát
dịch COVID-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm chương trình,
phương pháp, kế hoạch tổ chức dạy và học, hoạt động của trường, lớp và đến sự
phát triển của trẻ em, học sinh, sinh viên cả nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm, hiệu quả
của cả hệ thống chính trị, ngành Giáo dục và đào tạo ở nước ta đã có nhiều đổi
mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải thiện cơ sở vật chất, thiết bị
dạy học; thay đổi, điều chỉnh các hoạt động dạy học, tổ chức dạy học trực tuyến
góp phần phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
dạy-học, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; mở rộng cơ hội tiếp
cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện để trẻ em, học sinh, sinh viên được học
ở mọi nơi, mọi lúc và bảo đảm công tác phòng, chống dịch, thích ứng với tình
hình của dịch COVID-19; đồng thời thực hiện tốt phương châm “tạm dừng đến
trường, không dừng học” đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của
năm học.
1.2 Lí do chủ quan
Trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp,
khó lường, để đảm bảo tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chương trình và mục
2
tiêu chất lượng giáo dục, việc tập trung đổi mới mạnh mẽ phương pháp tổ
chức dạy học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học để khắc phục, ứng phó
với tác động của dịch COVID-19 và các tình huống bất thường khác là yêu cầu
bắt buộc đối với ngành giáo dục nói chung và đối với mỗi thầy, cô giáo nói
riêng. Việc chuyển từ dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến; hoặc phải kết
hợp cả hai hình thức dạy học song song có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên việc
nâng cao kĩ năng công nghệ thông tin, ứng dụng các phần mềm hữu ích vào các
giờ dạy trực tuyến để tăng tính tương tác giữa giáo viên và học sinh; làm bài học
hấp dẫn, sinh động từ đó phát huy được năng lực của học sinh theo tôi nghĩ việc
làm cần thiết để tránh tình trạng “cô cứ nói mà em cứ lặng im”.
Từ những suy nghĩ trên, từ năm học 2020 – 2021 và đặc biệt trong năm
học 2021 – 2022, tôi đã chủ động tìm hiểu và áp dụng một số phần mềm tương
tác trong các giờ dạy trực tuyến và rút ra một số kinh nghiệm xin chia sẻ với các
đồng nghiệp qua đề tài:
“Ứng dụng một số phần mềm tương tác khi dạy học trực tuyến”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Như tôi đã trình bày ở trên, dạy học trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu
hướng được tăng cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu. Vì vậy khi
đề tài được thực hiện sẽ đạt được các mục đích sau:
Tăng cường kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin cho cả giáo viên và học
sinh.
Tăng tính tương tác giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh cả
trước, trong và sau tiết học; giúp học sinh được củng cố kiến thức một cách tự
nhiên; không gò bó.
Giúp giờ học trực tuyến sinh động, lôi cuốn; học sinh sẽ bị hấp dẫn theo
dõi bài học qua các hoạt động tương tác được giáo viên thiết kế.
Tạo tính cạnh tranh trong học tập cho học sinh.
Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá; làm cho việc kiểm tra trở thành một
hoạt động nhẹ nhàng, vui vẻ.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Chủ thể: Một số phần mềm tương tác đơng giản, dễ áp dụng.
- Khách thể: Học sinh lớp 6C, 9A, 9B, 9E của nhà trường năm học 20202021.
3
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu : Từ cuối năm học 2020 -2021 và năm học 2021 –
2022
- Khảo sát mức độ chú ý của học sinh: Các tiết học đầu năm học.
- Thực nghiệm đề tài: Period 39 – Unit 5 : Skills 1 (Tiếng Anh 6) - (Phụ lục 1)
- Dạy thực nghiệm trên các lớp phụ trách từ tháng 9 năm học 2021 – 2022
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp cơ bản được sử dụng vào nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp: Giúp GV ghi nhận lại tình
hình học tập của học sinh, đánh giá hiệu quả của giải pháp
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh,
dự giờ, rút kinh nghiệm, thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.
- Phương pháp thực hành: Giúp học sinh trải nghiệm thực tế, hoàn thành các
nhiệm vụ giáo viên giao.
- Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên thực hiện giảng dạy tại các lớp được
phân công, rút kinh nghiệm và áp dụng.
- Phương pháp làm dự án, thuyết trình: Giao nhiệm vụ cho học sinh/ nhóm
học sinh chuẩn bị và thực hiện.
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Các căn cứ xây dựng đề tài
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT-GDTrH ngày 26 tháng 12 năm 2018
ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 03 năm 2021 quy định
về quản lí và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở
giáo dục thường xuyên.
Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2021 quy định về
đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc
hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá; tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung
học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.
Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03 tháng 10 năm 2017 về việc
hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định
hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017 – 2018.
Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2020 về việc
hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học cấp THCS, THPT.
4
Công văn số 2613/BGDĐT-GDTrH ngày 23 tháng 6 năm 2021 về việc
triển khai thực hiện chương trình giáo dục trung học năm học 2021 – 2022.
Công văn số 3699/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2021 về việc
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 – 2022.
Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc
xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Công văn 4040/BGDĐT-GDTrH ngày 16 tháng 9 năm 2021 về việc
hướng dẫn thực hiện Chương trình GDPT cấp THCS, THPT ứng phó với dịch
Covid-19 năm học 2021-2022
1.2. Đặc điểm tâm lí học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh THCS là tuổi đang trưởng thành, vị thành niên với vô
vàn những thay đổi trong tâm sinh lí, giao thời giữa Nhi đồng và Thanh niên.
Các em luôn khao khát hiểu biết để làm người lớn, để khẳng định cái tôi bằng
mọi giá. Đây là một giao thời khó khăn của các em, vì vậy công tác dạy học cho
đối tượng này cũng sẽ có đặc thù và khó khăn nhất định....
Hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinh trung học cơ sở đòi
hỏi và thúc đẩy các em có thái độ tích cực và độc lập hơn, tạo điều kiện cho các
em thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của mình. Sự thay đổi về nội dung dạy học: Vào
học trường trung học cơ sở, các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau,
có nội dung trừu tượng, sâu sắc và phong phú hơn, do đó đòi hỏi các em phải có
sự thay đổi về cách học. Sự phong phú về trí thức của từng môn học làm cho
khối lượng tri thức các em lĩnh hội được tăng lên nhiều, tầm hiểu biết của các
em được mở rộng.
Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập: Các được học
nhiều môn học do nhiều thầy, cô giảng dạy, cho nên phương pháp học tập thay
đổi ở các bộ môn và mỗi thầy, cô có cách trình bày, có phương pháp độc đáo
của mình. Thái độ say sưa, hứng thú học tập, lĩnh hội, phát triển trí tuệ, việc
hình thành và phát triển cách lập luận độc đáo cùng những nét tính cách quý báu
của các em điều do ảnh hưởng của cách dạy và nhân cách của người thầy. Các
em được học với nhiều thầy, nhiều bạn, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân cách,
phong cách xử thế khác nhau. Các em được tham gia vào nhiều dạng hoạt động
ở nhà trường như : lao động, học tập ngoại khóa, văn nghệ, thể thao...
Đời sống của học sinh trung học cơ sở trong xã hội : Ở lứa tuổi này các
em được thừa nhận như một thành viên tích cực và được giao một số công việc
nhất định trên liều lĩnh vực khác nhau như tuyên truyền cổ động, giữ trật tự
đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, bổ túc văn hóa... Thiếu niên
thích làm công tác xã hội: Có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn làm được những
5
công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm với người
lớn. Các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa
lớn lao. Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn
và muốn được thừa nhận mình là người lớn. Hoạt động xã hội là hoạt động có
tính chất tập thể, phù hợp với sở thích của thiếu niên. Do tham gia công tác xã
hội, mà quan hệ của học sinh trung học cơ sở được mở rộng, kinh nghiệm cuộc
sống phong phú lên, nhân cách của thiếu niên được hình thành và phát triển.
Tóm lại : Sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của thiếu niên ở
trong gia đình, nhà trường, xã hội mà vị trí của các em được nâng lên. Các em ý
thức được sự thay đổi và tích cực hoạt động cho phù hợp với sự thay đổi đó. Do
đó, đặc điểm tâm lý, nhân cách của học sinh trung học cơ sở được hình thành và
phát triển phong phú hơn so các lứa tuổi trước.
Do vậy để giúp các em có thái độ đúng đắn với việc học tập thì giáo viên
phải nắm bắt được tâm lý của các em để có cách dạy phù hợp và giúp các em
phát triển được các năng lực và phẩm chất cơ bản của học sinh.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
2.1. Thuận lợi
+ Về phía Giáo viên
- Giáo viên Tiếng Anh luôn nhận được sự quan tâm của Ngành, của cấp trên;
đặc biệt là Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích
giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để
giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
- Khi phải chuyển sang dạy học trực tuyến, Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội đã
nhanh chóng cung cấp cho giáo viên tài khoản Zoom miễn phí và không giới
hạn thời gian. Nhà trường đã mua tài khoản phần mềm Shubclassroom. Sự
quan tâm kịp thời này đã tạo điều kiện cho giáo viên rất nhiều.
- Là một trong những trường được Phòng Giáo dục đánh giá cao về chất lượng
dạy và học. Tập thể giáo viên của nhà trường đoàn kết, có nghị lực, bản lĩnh,
đầy nhiệt huyết.
- Bản thân tôi được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn về nâng cao kĩ năng sử
khai thác, sử dụng công nghệ thông tin dành cho giáo viên Tiếng Anh do Sở
GD-ĐT Hà Nội, Phòng GD-ĐT Ba Vì và nhà trường tổ chức.
+ Về phía học sinh:
- Khi được giáo viên giao nhiệm vụ các em tích cực tham gia. Các em rất chủ
động, sáng tạo, nhanh nhạy trong sử dụng các phần mềm, hoàn thành xuất sắc
các nhiệm vụ.
- Mỗi bài học là một chủ đề rất gần gũi với học sinh nên các em luôn cảm thấy
hào hứng khi được khám phá, tìm hiểu các nội dung liên quan đến chủ đề. Mặt
6
khác, các em được thỏa thích với những ý tưởng mới, được trao đổi, học hỏi
rất nhiều từ bạn bè xung quanh. Thông qua các giờ học Tiếng Anh, học sinh tự
mình phát triển năng lực ngôn ngữ, khả năng phân tích, đánh giá, tự lựa chọn
và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực cá nhân. Giúp các em
mạnh dạn hơn khi trình bày những ý kiến cá nhân trước tập thể.
- Học sinh rất yêu thích môn học vì là một giờ học không gò bó, không có
nhiều áp lực, lại tiếp thu được một số kiến thức trong xã hội, kĩ năng sống...
Đó chính là một lợi thế, không phải môn học nào cũng có được.
2.2. Khó khăn :
+ Về phía Giáo viên:
- Tuy tôi đã cố gắng và tích cực tìm hiểu ứng dụng công nghệ thông tin vào
giảng dạy nhưng tôi cũng tự nhận thấy mình còn rất nhiều hạn chế.
- Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn; phòng học chức năng dành riêng cho bộ
môn chưa có nên giáo viên còn gặp khó khăn khi muốn sử dụng công nghệ
thông tin vào bài giảng khi dạy học trực tiếp.
- Do thời lượng một tiết học rất ngắn nên các hoạt động ứng dụng các phần
mềm tương tác nếu giáo viên và học sinh không thao tác nhanh hoặc gặp trục
trặc về tín hiệu đường truyền rất dễ bị thiếu thời gian.
+ Về phía Học sinh:
- Tính tích cực, tự lực và sáng tạo của một số học sinh chưa cao, ít quan tâm
vận dụng kiến thức, chưa biết cách khai thác các tài nguyên sẵn có. Một số gia
đình chưa có đường truyền Internet ổn định nên học sinh gặp khó khăn khi
truy cập vào các link bài tập giáo viên gửi.
- Phòng chức năng không có nên trong những tiết có hoạt động nhóm còn mất
trật tự gây ảnh hưởng đến các giờ học khác.
3. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU:
Khi bắt đầu dạy học trực tuyến tôi khá lúng túng. Bản thân chưa thạo các
thao tác trên phần mềm Zoom, chưa biết cách khai thác các tính năng sẵn có
trên ứng dụng; mất cả buổi để soạn giáo án world và giáo án power point. Khi
lên lớp có lớp học sinh vào học đầy đủ, có lớp không. Sau một số tiết giáo
viên điểm danh gắt gao thì học sinh đăng nhập vào học đầy đủ nhưng tắt
camera, giáo viên gọi thì học sinh không tương tác. Hiện tượng này xảy ra với
tỉ lệ cao hơn ở các tiết 1, tiết 5 buổi sáng và tiết 1 buổi chiều là khi các em vẫn
còn buồn ngủ hoặc đói bụng nên sẽ ngủ gật hoặc bỏ đi tìm đồ ăn, làm việc
riêng.
Có một thực tế không thể phủ nhận là trong thời gian đầu các bài giảng
của tôi chỉ mang tính một chiều, tôi cố gắng để truyền đạt cho học sinh đầy đủ
các nội dung trong sách giáo khoa, có thiết kế một số trò chơi trong giáo án
7
power point nhưng cũng chỉ thu hút được một số học sinh chú ý vào bài giảng
tương tác cùng giáo viên, đó thường là các học sinh có ý thức học tập tốt, tự
giác; còn các học sinh khác khi có thiết bị kết nối Internet trong tay các em rất
dễ phân tâm vào các mạng xã hội và các trò chơi trực tuyến, hoặc các em sẽ
tắt camera, tắt micro để làm việc riêng.
3.1 Nội dung khảo sát:
3.1.1 Đối tượng học sinh: Học sinh lớp 6C, 9A, 9B, 9E
3.1.2 Phương pháp khảo sát:
- Phương pháp tư duy để quan sát, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
- Phương pháp nghiên cứu: Tự học, tự nghiên cứu, tổng hợp.
3.1.3 Nội dung khảo sát:
Theo dõi, thống kê các biểu hiện của học sinh trong giờ học.
3.1.4 Thời gian khảo sát:
Từ ngày 06 tháng 9 năm 2021 đến ngày 18 tháng 9 năm 2021.
3.2. Kết quả khảo sát:
Qua 02 tuần học đầu năm qua theo dõi, thống kê tôi thu được bảng kết
quả sau:
+ Tuần 1: Từ ngày 06/9/2021 đến 11/9/2021
Lớp
Sĩ số
Số tiết Số lượt học
Số lượt học
Số lượt học
sinh tích
sinh thường
sinh không
cực tương
xuyên tắt
tương tác
tác
camera
(giáo viên gọi
nhiều lần)
6C
39
3
78
20
10
9A
38
4
72
30
12
9B
36
4
20
60
32
9E
38
4
15
76
38
+ Tuần 2: Từ ngày 12/9/2021 đến 18/9/2021
Lớp
Sĩ số
Số tiết Số lượt học
sinh tích
cực tương
tác
Số lượt học
sinh thường
xuyên tắt
camera
Số lượt học
sinh không
tương tác
(giáo viên gọi
nhiều lần)
6C
39
3
70
40
25
9A
38
4
65
46
28
9B
36
4
18
72
40
9E
38
4
12
88
52
(* Lớp 9 học 4 tiết / tuần trong đó 03 tiết chính khóa + 01 tiết tự chọn)
8
Từ các con số trong 02 bảng thống kê cho thấy, ở tuần học thứ 2 số lượt
học sinh tích cực tương tác ở các lớp đều giảm; còn số lượt học sinh thường
xuyên tắt camera và không tương tác với giáo viên đều tăng. Từ thực tế này đã
thúc đẩy tôi phải đổi mới trong cách dạy của mình để giờ học trở nên hấp dẫn
hơn, thu hút được sự chú ý của học sinh trong suốt tiết học, “buộc” học sinh
phải tương tác với giáo viên bằng các hình thức khác nhau.
4. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
4.1 Nhóm các phần mềm tạo bài tập tương tác trong tiết học
Trong tiết học, tôi thường sử dụng từ 1 đến 2 phần mềm tạo bài tập
tương tác trong số các phần mềm sau:
Tên ứng dụng
Logo nhận diện
- Quizizz
- Wordwall
- Liveworksheets
- Padlet
- Jamboard
* Mục đích: Tạo các bài tập tương tác sử dụng trong tiết học, khiến cho học
sinh làm bài tập mà cảm giác như đang được “chơi” . Các bài tập này giáo
viên có thể linh hoạt thiết kế và sử dụng vào các hoạt động khác nhau trong
suốt giờ dạy của mình. Có thể thiết kế cho hoạt động kiểm tra bài cũ vào đầu
giờ học, có thể là một hoạt động trong sách giáo khoa ở giữa tiết học, cũng có
thể là một bài tập củng cố ở cuối tiết học. Giáo viên nên thay đổi các dạng bài
tập và thời điểm sử dụng các bài tập để tạo bất ngờ cho học sinh và buộc học
sinh phải theo dõi tiết học mới có thể tham gia vào “game”.
* Biện pháp thực hiện:
- Ứng dụng “Quizizz”:
Đây có thể nói là ứng dụng tôi sử dụng sớm nhất và nhiều nhất vì phần
mềm rất thân thiện, dễ sử dụng. Chỉ cần có 1 tài khoản là giáo viên có thể dễ
9
dàng tạo các bài tập trắc nghiệm. Học sinh rất thích các bài tập tương tác trên
“Quizizz” vì vừa vui vừa có tính cạnh tranh thứ hạng.
+ Cách sử dụng các dạng bài tập trên Quizizz:
Bài tập trên “Quizizz” có nhiều dạng: Multiple choice/ Poll (câu hỏi có
nhiều lựa chọn), Fill in the blank (điền vào chỗ trống), Open-ended (trả lời câu
hỏi), Draw (vẽ theo yêu cầu),... nhưng tôi thường dùng hai dạng bài Multiple
choice và Fill in the blank vì nó phù hợp với yêu cầu nhanh, gọn, tiết kiệm
thời gian trong mỗi tiết học và cũng đảm bảo tính chính xác khi đánh giá học
sinh. Với hoạt động tương tác trên lớp giáo viên sẽ chọn hình thức “Start a live
quiz” sau đó học sinh sẽ tham gia vào “game” bằng link do giáo viên chia sẻ
hoặc đăng nhập vào “Join my quiz.com” và nhập mã “join code”
Ví dụ 1: Ở tiết “A closer look 1” - Unit 1 lớp 6, tôi đã kiểm tra bài cũ
bằng bài tập Multiple choice: chọn từ phù hợp với hình ảnh hoặc chọn hình
ảnh phù hợp với từ.
Link bài tập: https://quizizz.com/admin/quiz/613aae664ba6e5001e34febc
Ví dụ 2 : Sau khi học sinh học về cụm động từ (Phrasal verbs) ở bài 1 và
bài 2 (Unit 1 and Unit 2) ở lớp 9, tôi đã tạo 1 bài tập gồm 2 dạng bài Multiple
choice và Fill in the blank để củng cố lại kiến thức cho học sinh.
Link bài tập: https://quizizz.com/admin/quiz/6032f8ac74aa86001f0260f7
Sau khi học sinh hoàn thành bài tập theo yêu cầu, giáo viên chỉ cần vào
phần “Report” trong tài khoản của mình sẽ kiểm tra được ngay học sinh làm
đúng bao nhiêu câu, hoặc còn sai câu nào, tỉ lệ đúng của mỗi câu, tỉ lệ đúng
toàn bài.
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Là ứng dụng dễ dùng, dễ thiết kế. Đặc biệt giáo viên có thể khai thác các
câu hỏi sẵn có trong thư viện “quiz library” sau đó chỉnh sửa cho phù hợp nên
rất tiết kiệm thời gian.
Có thể chèn thêm hình ảnh, âm thanh, công thức toán học,... nên câu hỏi
rất sinh động.
Được tích hợp sẵn hiệu ứng âm thanh, hình ảnh đẹp mắt, vui nhộn.
Có điểm thưởng và nhiều phần thưởng khác khi học sinh trả lời tốt, trả
lời nhanh.
Có xếp hạng khi kết thúc bài tập, tạo tính thi đua cho học sinh. Có thể
làm bài theo nhóm học sinh.
Không giới hạn số lượng bài và số lượt truy cập.
Nhược điểm:
Khi thiết kế giáo viên chọn dạng câu hỏi nào thì sẽ cố định định dạng đó,
muốn thay đổi sẽ phải chỉnh sửa từng câu.
10
Điểm tổng cuối cùng rất cao vì có nhiều điểm thưởng. Tôi thường lấy
điểm theo tỉ lệ % làm đúng của học sinh để khích lệ các học sinh thao tác
chậm hơn các bạn.
Nếu tín hiệu đường truyền Internet yếu rất khó đăng nhập vào “game”.
Bài tập không có giới hạn thời gian khi tương tác trực tiếp nên giáo viên
phải quan sát bảng tổng trên màn hình máy chủ, khi có nhiều học sinh đã hoàn
thành bài tập, hoặc hết thời gian do giáo viên đặt ra thì click “end” để kết thúc
và xem kết quả.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H1.1; H1.2; H1.3]
- Ứng dụng “Wordwall”:
Ứng dụng được tôi biết đến, khai thác và sử dụng sau “quizizz” nhưng
tôi rất thích vì có nhiều tiện ích thú vị. Tài khoản “Wordwall” được đăng kí
bằng Gmail, học sinh rất hứng thú làm bài tập tương tác trên ứng dụng này vì
bài tập đa dạng, không nhàm chán.
+ Cách sử dụng các dạng bài tập trên Wordwall:
Một đặc điểm ưu việt của phần mềm này là cùng một bài tập nhưng giáo
viên có thể linh hoạt chuyển đổi thành nhiều dạng bài khác nhau mà không cần
chỉnh sửa. Với tài khoản đăng kí miễn phí 1 bài tập có thể chuyển đổi thành 13
định dạng khác nhau: Match up (kéo thả), Find the match (nối), Cross word (ô
chữ), Quiz (câu hỏi chọn lựa), Game show (chọn đáp án có thời gian đếm
ngược), Maze Chase (mê cung), Spin Wheel (vòng xoay),.....và mỗi định dạng
bài lại được tích hợp cùng hiệu ứng âm thành, hình ảnh đẹp, lôi cuốn nên cùng
một bài tập học sinh làm đi làm lại nhiều lần mà không chán.
Ví dụ: Hoạt động 2 tiết “A closer look 2” – Unit 7 lớp 6, thay vì yêu cầu
học sinh nối như bình thường, tôi đã thiết kế hoạt động này thành bài tập tương
tác trên Wordwall, và thay đổi các định dạng bài khác nhau, học sinh tham rất
nhiệt tình, hào hứng.
Link bài tập: https://wordwall.net/resource/30946793/wn-question-matching
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Các định dạng bài tập phong phú, hình thức đẹp. Dễ dàng chuyển đổi
sang các dạng bài khác nhau mà không cần chỉnh sửa.
Dễ tạo bài tập. Có thể copy từ văn bản word có sẵn.
Dễ dàng gửi bài cho học sinh bằng các đường link.
Có bảng xếp hạng sau khi học sinh chọn “Submit” để nộp bài.
Nhược điểm:
Với tài khoản miễn phí chỉ tạo được tối đa 5 bài tập. Muốn tạo thêm phải
xóa bớt bài tập cũ. Muốn nâng cấp tài khoản sẽ mất phí từ 70.000đ đến
105.000đ/ tháng.
11
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H2.1; H2.2; H2.3]
- Ứng dụng “Liveworksheet”:
Đây là một ứng dụng làm bài trực tuyến đơn giản, thích hợp cho các học
sinh lớp lớn như lớp 8, lớp 9 làm các bài tập ngữ pháp. Ưu điểm của ứng dụng
này là phần mềm sẽ chấm điểm ngay cho học sinh sau khi học sinh nhấn
“Finish” để nộp bài.
Ví dụ: Trong tiết tự chọn ở lớp 9 học sinh ôn tập về thì quá khứ đơn và
quá khứ hoàn thành, tôi đã thiết kế bài tập và chia sẻ link cho học sinh luyện
tập.
Link bài tập: https://www.liveworksheets.com/4-fp1101435hd
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Dễ tạo bài, chỉ cần post file PDF một bài tập có sẵn lên và thêm đáp án là
được.
Không giới hạn số lượng bài được tạo.
Có thể tìm kiếm bài thích hợp trong kho lưu trữ của mềm do các tài
khoản khác chia sẻ.
Học sinh có thể đăng nhập vào link bài tập luyện tập nhiều lần.
Học sinh biết điểm của mình ngay sau khi nộp bài.
Nhược điểm:
Nếu giáo viên không tạo nhóm lớp trong ứng dụng sẽ không lưu được
điểm.
Các dạng bài tập không có hình thức đẹp, hấp dẫn như các ứng dụng
khác.
Định dạng câu trả lời của học sinh phải chuẩn như đáp án của giáo viên.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H3.1; H3.2]
- Ứng dụng “Padlet”
Đây là ứng dụng thích hợp khi thảo luận vì nhiều học sinh có thể cùng
tương tác một lúc (gõ văn bản), các em cũng có thể chia sẻ file âm thanh,
video, hình ảnh đính kèm. Khi sử dụng ứng dụng này học sinh sẽ được thỏa sức
sáng tạo.
Link Padlet của tôi: https://padlet.com/chunggvtanlinh/k3a6fmaldlaxt2xx
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Dễ sử dụng, giáo viên chia sẻ link trang Padlet vào chat box hoặc qua
Zalo là học sinh có thể tham gia được.
12
Học sinh có thể gửi sản phẩm của mình bằng nhiều hình thức.
Bài làm của học sinh được công khai nên các em rất dễ nhận xét, đánh
giá cho bạn.
Trên cùng một trang có thể tạo cột riêng cho từng đối tượng cụ thể.
Nhược điểm:
Mỗi tài khoản Padlet miễn phí chỉ tạo được 03 trang.
Mọi sản phẩm được công khai nên tính bảo mật không cao. Nhiều học
sinh ngại chia sẻ sản phẩm của mình lên nhóm.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H4]
- Ứng dụng “Jamboard”:
Ứng dụng này có sẵn trong drive của các gmail, hoàn toàn miễn phí và
không giới hạn số lượng trang được tạo. “Jamboard” thích hợp cho hoạt động
nhóm và làm các bài viết online, các sản phẩm sẽ được lưu lại, giáo viên và học
sinh có thể chỉnh sửa sau. Giáo viên có thể tải bài làm của học sinh xuống với
định dạng PDF.
Link trang Jamboard của tôi: https://jamboard.google.com/u/0/
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Miễn phí, dễ sử dụng.
Thông tin được tự động lưu trữ.
Có thể chỉnh sửa dễ dàng.
Nhược điểm:
Học sinh bắt buộc phải có gmail mới có thể đăng nhập được vào link.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H 5]
*Kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Sau khi tôi đưa các dạng bài tập tương tác vào trong các giờ học đã thu
hút được sự chú ý của học sinh vào các tiết học. Các em phải chú ý theo dõi giờ
học thì mới biết lúc nào được tham gia vào các bài tập thú vị và cách thực hiện
các bài tập đó như thế nào. Qua các bài tập tương tác này tôi cũng có thể lấy
được điểm kiểm tra thường xuyên của học sinh.
4.2 Nhóm các phần mềm tạo bài tập về nhà cho học sinh
Ngoài việc tạo các bài tập tương tác ngay trên lớp, tôi còn vận dụng ưu
điểm của các phần mềm để tạo bài và giao bài về nhà cho học sinh. Tôi thường
sử dụng các phần mềm “Quizizz”, “Wordwall”, và các ứng dụng
“Shubclassroom” và “Google form”.
13
* Mục đích: Tạo các bài tập về nhà cho học sinh có giới hạn thời gian để học
sinh luyện tập mà không cảm thấy căng thẳng, nhàm chán. Học sinh các thể tự
học vào thời điểm thuận lợi với mình, kết quả sẽ được lưu trên hệ thống, giáo
viên và học sinh có thể kiểm tra sau.
- Ứng dụng “Quizizz”:
Để tạo bài tập về nhà cho học sinh trên “Quizizz”, giáo viên chọn “Asign
homework” sau đó đặt giới hạn thời gian nộp bài, lấy link gửi cho học sinh
qua Zalo là học sinh có thể đăng nhập vào và làm bài.
Ví dụ: Sau khi học về mệnh đề quan hệ (Relative clause – Unit 9) tôi đã
thiết kế và gửi link bài tập cho các con luyện tập ở nhà.
Link bài tập: https://quizizz.com/admin/quiz/5ea78c2ad4b00b001bd4bb28
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Hiệu ứng đẹp, học sinh sẽ có cảm giác như được tham gia vào một trò
chơi chứ không nặng nề như khi làm bài tập trên giấy.
Với Link bài tập được giáo viên chia sẻ học sinh có thể làm đi làm lại
nhiều lần để ghi nhớ.
Kết quả học tập được lưu trữ tự động và sau đó có thể chia sẻ được.
Nhược điểm:
Chính vì có thể làm nhiều lần nên một số học sinh có lực học khá sẽ cảm
thấy không công bằng, nên kết quả này chỉ mang tính tham khảo hoặc là một
hình thức động viên cho học sinh có lực học yếu hơn.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H1.1; H1.2; H1.3]
- Ứng dụng “Wordwall”:
Với phần mềm “Worldwall”, giáo viên tạo bài tập, chọn định dạng bài,
chọn “Set assingment”, đặt giới hạn thời gian, lấy link và chuyển cho học sinh.
Với các định dạng bài tập khác nhau học sinh sẽ có những trải nghiệm rất khác
nhau. Với 1 bài tập giáo viên vừa có thể sử dụng để tương tác trên lớp vừa có
thể chọn định dạng thích hợp để chuyển thành bài tập về nhag cho học sinh.
Ví dụ: Ở tiết “A closer look 2” – Unit 10 lớp 6. Trước khi yêu cầu học
sinh tự viết về ngôi nhà mơ ước của mình, tôi đã tạo 1 bài tập sắp xếp từ thành
câu hoàn chỉnh “Unjumble” trên “Wordwall”, sau khi học sinh hoàn thành bài
tập các con sẽ có 1 bài mẫu hoàn chỉnh để tham khảo.
Link bài tập: https://wordwall.net/play/31262/378/157
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Với bài tập “Unjumble” do tôi tạo, học sinh sẽ sắp xếp thành công với
gợi ý từ phần mềm: khi nào học sinh xếp đúng từ sẽ tự động đổi màu.
Hiệu ứng đẹp, âm thanh vui tai giúp học sinh không bị nhàm chán.
14
Giáo viên tạo bài rất dễ: copy các câu hoàn chỉnh từ file word sẵn có vào
ô tạo bài trên ứng dụng, phần mềm sẽ tự động trộn các từ để học sinh sắp xếp.
Với các định dạng khác thì thú vị hơn, học sinh sẽ học mà chơi, chơi mà
học.
Nhược điểm:
Với bài tập “Unjumle”, vì phần mềm hỗ trợ đổi màu từ khi học sinh làm
đúng nên một số học sinh học khá sẽ không thấy có tính thách thức.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H2.1; H2.2; H2.3]
- Ứng dụng “Shubclassroom”:
Đây là một ứng dụng rất thích hợp để giao bài về nhà cho học sinh.
Trường THCS Tản Lĩnh đã mua 01 tài khoản để sử dụng chung cho cả trường.
Giáo viên chỉ cần đăng nhập tài khoản, tải bài tập từ file word sẵn có với các
đáp án đúng được gạch chân, cài đặt các thông tin cần thiết (tên bài tập, thời
gian làm bài, thời gian mở/ đóng bài,...) và định dạng cho bài tập (đảo đáp án,
đảo câu, cho xem điểm, cho xem đáp án,...), sau đó gửi link của lớp và nhắc
nhở học sinh vào làm bài. Điểm và các thông tin các hoạt động của học sinh
trong khi làm bài đều được ghi lại, giáo viên có thể xuất kết quả theo định dạng
file excel để lưu trữ, lấy điểm.
Ví dụ: Sau khi các học sinh khối 9 làm bài khảo sát lần 1 do Đại học
Quốc gia tổ chức, tôi đã nhận được phiên bản 2 của bài kiểm tra đó, tôi đã tạo
thành bài tập trên “Shubclassroom” cho học sinh luyện tập.
Link bài tập: https://shub.edu.vn/class/TIBGR/homework/share/2184340
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Tạo bài dễ dàng, ứng dụng sẽ lưu trữ các bài tập vào “Kho học liệu” để
thành tài khoản dùng chung cho cả trường.
Phù hợp nhất cho các bài tập trắc nghiệm.
Học sinh có thể làm bài tập vào thời điểm thích hợp (trong thời gian quy
định do giáo viên cài đặt)
Các hoạt động của học sinh trong khi làm bài đều được lưu lại rõ ràng.
Có thể đặt mức điểm khác nhau cho từng câu và điểm số có thể là số lẻ.
Nhược điểm:
Bài tập phải được định dạng thật chuẩn trước khi tải lên.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H6.1; H6.2]
- Ứng dụng “Google form”:
Đây là ứng dụng có sẵn trong Gmail hoàn toàn miễn phí, thích hợp với
nhiều dạng bài tập khác nhau: trắc nghiệm, điền từ, trả lời ngắn, trả lời dài
(đoạn văn). Giáo viên có thể chèn file hình ảnh, âm thanh vào mỗi câu hỏi, cài
15
đặt các thông tin của bài tập, lấy link và chia sẻ cho học sinh. Kết quả bài làm
của các em sẽ được lưu lại và có số liệu phân tích rõ ràng.
Ví dụ: Để tạo điều kiện cho học sinh lớp 9 ôn tập cuối kì 2 được thuận
lợi tôi đã tạo bài ôn tập trên Google form và chia sẻ link cho học sinh.
Link bài tập: https://forms.gle/zWLWM1kkDBHiK3U57
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Ứng dụng miễn phí và không giới hạn số bài tập được tạo.
Học sinh thao tác dễ dàng trên các thiết bị có kêt nối Internet.
Có thể tạo được nhiều dạng câu hỏi trên cùng 1 bài tập.
Nhược điểm
Giáo viên tốn khá nhiều thời gian tạo bài, vì phải đánh máy từng câu hỏi
hoặc phải cắt câu hỏi ở file word lưu và tải lên ở định dạng file ảnh.
Điểm số không có điểm lẻ nên tổng điểm khá lớn.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H7.1; H7.2; H7.3]
*Kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Với việc bài tập về nhà được giáo viên biến hóa thành các bài tập tương
tác, học sinh chuyển từ ngại khi phải làm bài thành thí...
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Lí do khách quan
Đại dịch Covid-19 bắt đầu ở Vũ Hán (Trung Quốc) từ cuối năm 2019, và
sau đó lan rộng ra khắp các quốc gia trên thế giới, đã tác động sâu sắc đến mọi
lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, xã hội, đến đời sống thường nhật của người dân.
Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ phải liên tiếp ra các chỉ thị số 15, 16 và 19
chỉ đạo về các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 như việc tập trung đông
người, khoảng cách an toàn tối thiểu, hoạt động của các cơ sở kinh doanh, vận
tải… trong những thời điểm khác nhau. Trước những diễn biến phức tạp của
dịch bệnh, dạy học trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu hướng được tăng
cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu, nhiệm vụ chính trong các
nhiệm vụ triển khai năm học để thích ứng với tình hình mới.
Trong năm học 2021 - 2022, hơn 20 triệu học sinh, sinh viên và gần 2
triệu nhà giáo các cấp học chưa thể tiếp tục dạy học và học theo phương thức
dạy học trực tiếp. Tình trạng này bị gián đoạn và kéo dài qua bốn đợt bùng phát
dịch COVID-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm chương trình,
phương pháp, kế hoạch tổ chức dạy và học, hoạt động của trường, lớp và đến sự
phát triển của trẻ em, học sinh, sinh viên cả nước. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm, hiệu quả
của cả hệ thống chính trị, ngành Giáo dục và đào tạo ở nước ta đã có nhiều đổi
mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải thiện cơ sở vật chất, thiết bị
dạy học; thay đổi, điều chỉnh các hoạt động dạy học, tổ chức dạy học trực tuyến
góp phần phát triển năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
dạy-học, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; mở rộng cơ hội tiếp
cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện để trẻ em, học sinh, sinh viên được học
ở mọi nơi, mọi lúc và bảo đảm công tác phòng, chống dịch, thích ứng với tình
hình của dịch COVID-19; đồng thời thực hiện tốt phương châm “tạm dừng đến
trường, không dừng học” đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của
năm học.
1.2 Lí do chủ quan
Trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp,
khó lường, để đảm bảo tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chương trình và mục
2
tiêu chất lượng giáo dục, việc tập trung đổi mới mạnh mẽ phương pháp tổ
chức dạy học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học để khắc phục, ứng phó
với tác động của dịch COVID-19 và các tình huống bất thường khác là yêu cầu
bắt buộc đối với ngành giáo dục nói chung và đối với mỗi thầy, cô giáo nói
riêng. Việc chuyển từ dạy học trực tiếp sang dạy học trực tuyến; hoặc phải kết
hợp cả hai hình thức dạy học song song có thể xảy ra bất cứ lúc nào nên việc
nâng cao kĩ năng công nghệ thông tin, ứng dụng các phần mềm hữu ích vào các
giờ dạy trực tuyến để tăng tính tương tác giữa giáo viên và học sinh; làm bài học
hấp dẫn, sinh động từ đó phát huy được năng lực của học sinh theo tôi nghĩ việc
làm cần thiết để tránh tình trạng “cô cứ nói mà em cứ lặng im”.
Từ những suy nghĩ trên, từ năm học 2020 – 2021 và đặc biệt trong năm
học 2021 – 2022, tôi đã chủ động tìm hiểu và áp dụng một số phần mềm tương
tác trong các giờ dạy trực tuyến và rút ra một số kinh nghiệm xin chia sẻ với các
đồng nghiệp qua đề tài:
“Ứng dụng một số phần mềm tương tác khi dạy học trực tuyến”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Như tôi đã trình bày ở trên, dạy học trực tuyến đã, đang và sẽ trở thành xu
hướng được tăng cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu. Vì vậy khi
đề tài được thực hiện sẽ đạt được các mục đích sau:
Tăng cường kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin cho cả giáo viên và học
sinh.
Tăng tính tương tác giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh cả
trước, trong và sau tiết học; giúp học sinh được củng cố kiến thức một cách tự
nhiên; không gò bó.
Giúp giờ học trực tuyến sinh động, lôi cuốn; học sinh sẽ bị hấp dẫn theo
dõi bài học qua các hoạt động tương tác được giáo viên thiết kế.
Tạo tính cạnh tranh trong học tập cho học sinh.
Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá; làm cho việc kiểm tra trở thành một
hoạt động nhẹ nhàng, vui vẻ.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Chủ thể: Một số phần mềm tương tác đơng giản, dễ áp dụng.
- Khách thể: Học sinh lớp 6C, 9A, 9B, 9E của nhà trường năm học 20202021.
3
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu : Từ cuối năm học 2020 -2021 và năm học 2021 –
2022
- Khảo sát mức độ chú ý của học sinh: Các tiết học đầu năm học.
- Thực nghiệm đề tài: Period 39 – Unit 5 : Skills 1 (Tiếng Anh 6) - (Phụ lục 1)
- Dạy thực nghiệm trên các lớp phụ trách từ tháng 9 năm học 2021 – 2022
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp cơ bản được sử dụng vào nghiên cứu đề tài bao gồm:
- Phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp: Giúp GV ghi nhận lại tình
hình học tập của học sinh, đánh giá hiệu quả của giải pháp
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra phỏng vấn tình hình học sinh,
dự giờ, rút kinh nghiệm, thực hành giảng dạy theo phương pháp mới.
- Phương pháp thực hành: Giúp học sinh trải nghiệm thực tế, hoàn thành các
nhiệm vụ giáo viên giao.
- Phương pháp thực nghiệm: Giáo viên thực hiện giảng dạy tại các lớp được
phân công, rút kinh nghiệm và áp dụng.
- Phương pháp làm dự án, thuyết trình: Giao nhiệm vụ cho học sinh/ nhóm
học sinh chuẩn bị và thực hiện.
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Các căn cứ xây dựng đề tài
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT-GDTrH ngày 26 tháng 12 năm 2018
ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
Thông tư số 09/2021/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 03 năm 2021 quy định
về quản lí và tổ chức dạy học trực tuyến trong cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở
giáo dục thường xuyên.
Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2021 quy định về
đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08 tháng 10 năm 2014 về việc
hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá; tổ chức và quản lý các hoạt động chuyên môn của trường trung
học/trung tâm giáo dục thường xuyên qua mạng.
Công văn số 4612/BGDĐT-GDTrH ngày 03 tháng 10 năm 2017 về việc
hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo định
hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017 – 2018.
Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2020 về việc
hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học cấp THCS, THPT.
4
Công văn số 2613/BGDĐT-GDTrH ngày 23 tháng 6 năm 2021 về việc
triển khai thực hiện chương trình giáo dục trung học năm học 2021 – 2022.
Công văn số 3699/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2021 về việc
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2021 – 2022.
Công văn số 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc
xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Công văn 4040/BGDĐT-GDTrH ngày 16 tháng 9 năm 2021 về việc
hướng dẫn thực hiện Chương trình GDPT cấp THCS, THPT ứng phó với dịch
Covid-19 năm học 2021-2022
1.2. Đặc điểm tâm lí học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh THCS là tuổi đang trưởng thành, vị thành niên với vô
vàn những thay đổi trong tâm sinh lí, giao thời giữa Nhi đồng và Thanh niên.
Các em luôn khao khát hiểu biết để làm người lớn, để khẳng định cái tôi bằng
mọi giá. Đây là một giao thời khó khăn của các em, vì vậy công tác dạy học cho
đối tượng này cũng sẽ có đặc thù và khó khăn nhất định....
Hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinh trung học cơ sở đòi
hỏi và thúc đẩy các em có thái độ tích cực và độc lập hơn, tạo điều kiện cho các
em thỏa mãn nhu cầu giao tiếp của mình. Sự thay đổi về nội dung dạy học: Vào
học trường trung học cơ sở, các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau,
có nội dung trừu tượng, sâu sắc và phong phú hơn, do đó đòi hỏi các em phải có
sự thay đổi về cách học. Sự phong phú về trí thức của từng môn học làm cho
khối lượng tri thức các em lĩnh hội được tăng lên nhiều, tầm hiểu biết của các
em được mở rộng.
Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập: Các được học
nhiều môn học do nhiều thầy, cô giảng dạy, cho nên phương pháp học tập thay
đổi ở các bộ môn và mỗi thầy, cô có cách trình bày, có phương pháp độc đáo
của mình. Thái độ say sưa, hứng thú học tập, lĩnh hội, phát triển trí tuệ, việc
hình thành và phát triển cách lập luận độc đáo cùng những nét tính cách quý báu
của các em điều do ảnh hưởng của cách dạy và nhân cách của người thầy. Các
em được học với nhiều thầy, nhiều bạn, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân cách,
phong cách xử thế khác nhau. Các em được tham gia vào nhiều dạng hoạt động
ở nhà trường như : lao động, học tập ngoại khóa, văn nghệ, thể thao...
Đời sống của học sinh trung học cơ sở trong xã hội : Ở lứa tuổi này các
em được thừa nhận như một thành viên tích cực và được giao một số công việc
nhất định trên liều lĩnh vực khác nhau như tuyên truyền cổ động, giữ trật tự
đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, bổ túc văn hóa... Thiếu niên
thích làm công tác xã hội: Có sức lực, đã hiểu biết nhiều, muốn làm được những
5
công việc được mọi người biết đến, nhất là những công việc cùng làm với người
lớn. Các em cho rằng công tác xã hội là việc làm của người lớn và có ý nghĩa
lớn lao. Do đó được làm các công việc xã hội là thể hiện mình đã là người lớn
và muốn được thừa nhận mình là người lớn. Hoạt động xã hội là hoạt động có
tính chất tập thể, phù hợp với sở thích của thiếu niên. Do tham gia công tác xã
hội, mà quan hệ của học sinh trung học cơ sở được mở rộng, kinh nghiệm cuộc
sống phong phú lên, nhân cách của thiếu niên được hình thành và phát triển.
Tóm lại : Sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của thiếu niên ở
trong gia đình, nhà trường, xã hội mà vị trí của các em được nâng lên. Các em ý
thức được sự thay đổi và tích cực hoạt động cho phù hợp với sự thay đổi đó. Do
đó, đặc điểm tâm lý, nhân cách của học sinh trung học cơ sở được hình thành và
phát triển phong phú hơn so các lứa tuổi trước.
Do vậy để giúp các em có thái độ đúng đắn với việc học tập thì giáo viên
phải nắm bắt được tâm lý của các em để có cách dạy phù hợp và giúp các em
phát triển được các năng lực và phẩm chất cơ bản của học sinh.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
2.1. Thuận lợi
+ Về phía Giáo viên
- Giáo viên Tiếng Anh luôn nhận được sự quan tâm của Ngành, của cấp trên;
đặc biệt là Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên động viên, khuyến khích
giáo viên áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy, luôn tạo mọi điều kiện để
giáo viên an tâm công tác và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
- Khi phải chuyển sang dạy học trực tuyến, Sở Giáo dục Đào tạo Hà Nội đã
nhanh chóng cung cấp cho giáo viên tài khoản Zoom miễn phí và không giới
hạn thời gian. Nhà trường đã mua tài khoản phần mềm Shubclassroom. Sự
quan tâm kịp thời này đã tạo điều kiện cho giáo viên rất nhiều.
- Là một trong những trường được Phòng Giáo dục đánh giá cao về chất lượng
dạy và học. Tập thể giáo viên của nhà trường đoàn kết, có nghị lực, bản lĩnh,
đầy nhiệt huyết.
- Bản thân tôi được tham gia đầy đủ các lớp tập huấn về nâng cao kĩ năng sử
khai thác, sử dụng công nghệ thông tin dành cho giáo viên Tiếng Anh do Sở
GD-ĐT Hà Nội, Phòng GD-ĐT Ba Vì và nhà trường tổ chức.
+ Về phía học sinh:
- Khi được giáo viên giao nhiệm vụ các em tích cực tham gia. Các em rất chủ
động, sáng tạo, nhanh nhạy trong sử dụng các phần mềm, hoàn thành xuất sắc
các nhiệm vụ.
- Mỗi bài học là một chủ đề rất gần gũi với học sinh nên các em luôn cảm thấy
hào hứng khi được khám phá, tìm hiểu các nội dung liên quan đến chủ đề. Mặt
6
khác, các em được thỏa thích với những ý tưởng mới, được trao đổi, học hỏi
rất nhiều từ bạn bè xung quanh. Thông qua các giờ học Tiếng Anh, học sinh tự
mình phát triển năng lực ngôn ngữ, khả năng phân tích, đánh giá, tự lựa chọn
và nhận thức để hình thành, phát triển những năng lực cá nhân. Giúp các em
mạnh dạn hơn khi trình bày những ý kiến cá nhân trước tập thể.
- Học sinh rất yêu thích môn học vì là một giờ học không gò bó, không có
nhiều áp lực, lại tiếp thu được một số kiến thức trong xã hội, kĩ năng sống...
Đó chính là một lợi thế, không phải môn học nào cũng có được.
2.2. Khó khăn :
+ Về phía Giáo viên:
- Tuy tôi đã cố gắng và tích cực tìm hiểu ứng dụng công nghệ thông tin vào
giảng dạy nhưng tôi cũng tự nhận thấy mình còn rất nhiều hạn chế.
- Cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn; phòng học chức năng dành riêng cho bộ
môn chưa có nên giáo viên còn gặp khó khăn khi muốn sử dụng công nghệ
thông tin vào bài giảng khi dạy học trực tiếp.
- Do thời lượng một tiết học rất ngắn nên các hoạt động ứng dụng các phần
mềm tương tác nếu giáo viên và học sinh không thao tác nhanh hoặc gặp trục
trặc về tín hiệu đường truyền rất dễ bị thiếu thời gian.
+ Về phía Học sinh:
- Tính tích cực, tự lực và sáng tạo của một số học sinh chưa cao, ít quan tâm
vận dụng kiến thức, chưa biết cách khai thác các tài nguyên sẵn có. Một số gia
đình chưa có đường truyền Internet ổn định nên học sinh gặp khó khăn khi
truy cập vào các link bài tập giáo viên gửi.
- Phòng chức năng không có nên trong những tiết có hoạt động nhóm còn mất
trật tự gây ảnh hưởng đến các giờ học khác.
3. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI NGHIÊN CỨU:
Khi bắt đầu dạy học trực tuyến tôi khá lúng túng. Bản thân chưa thạo các
thao tác trên phần mềm Zoom, chưa biết cách khai thác các tính năng sẵn có
trên ứng dụng; mất cả buổi để soạn giáo án world và giáo án power point. Khi
lên lớp có lớp học sinh vào học đầy đủ, có lớp không. Sau một số tiết giáo
viên điểm danh gắt gao thì học sinh đăng nhập vào học đầy đủ nhưng tắt
camera, giáo viên gọi thì học sinh không tương tác. Hiện tượng này xảy ra với
tỉ lệ cao hơn ở các tiết 1, tiết 5 buổi sáng và tiết 1 buổi chiều là khi các em vẫn
còn buồn ngủ hoặc đói bụng nên sẽ ngủ gật hoặc bỏ đi tìm đồ ăn, làm việc
riêng.
Có một thực tế không thể phủ nhận là trong thời gian đầu các bài giảng
của tôi chỉ mang tính một chiều, tôi cố gắng để truyền đạt cho học sinh đầy đủ
các nội dung trong sách giáo khoa, có thiết kế một số trò chơi trong giáo án
7
power point nhưng cũng chỉ thu hút được một số học sinh chú ý vào bài giảng
tương tác cùng giáo viên, đó thường là các học sinh có ý thức học tập tốt, tự
giác; còn các học sinh khác khi có thiết bị kết nối Internet trong tay các em rất
dễ phân tâm vào các mạng xã hội và các trò chơi trực tuyến, hoặc các em sẽ
tắt camera, tắt micro để làm việc riêng.
3.1 Nội dung khảo sát:
3.1.1 Đối tượng học sinh: Học sinh lớp 6C, 9A, 9B, 9E
3.1.2 Phương pháp khảo sát:
- Phương pháp tư duy để quan sát, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
- Phương pháp nghiên cứu: Tự học, tự nghiên cứu, tổng hợp.
3.1.3 Nội dung khảo sát:
Theo dõi, thống kê các biểu hiện của học sinh trong giờ học.
3.1.4 Thời gian khảo sát:
Từ ngày 06 tháng 9 năm 2021 đến ngày 18 tháng 9 năm 2021.
3.2. Kết quả khảo sát:
Qua 02 tuần học đầu năm qua theo dõi, thống kê tôi thu được bảng kết
quả sau:
+ Tuần 1: Từ ngày 06/9/2021 đến 11/9/2021
Lớp
Sĩ số
Số tiết Số lượt học
Số lượt học
Số lượt học
sinh tích
sinh thường
sinh không
cực tương
xuyên tắt
tương tác
tác
camera
(giáo viên gọi
nhiều lần)
6C
39
3
78
20
10
9A
38
4
72
30
12
9B
36
4
20
60
32
9E
38
4
15
76
38
+ Tuần 2: Từ ngày 12/9/2021 đến 18/9/2021
Lớp
Sĩ số
Số tiết Số lượt học
sinh tích
cực tương
tác
Số lượt học
sinh thường
xuyên tắt
camera
Số lượt học
sinh không
tương tác
(giáo viên gọi
nhiều lần)
6C
39
3
70
40
25
9A
38
4
65
46
28
9B
36
4
18
72
40
9E
38
4
12
88
52
(* Lớp 9 học 4 tiết / tuần trong đó 03 tiết chính khóa + 01 tiết tự chọn)
8
Từ các con số trong 02 bảng thống kê cho thấy, ở tuần học thứ 2 số lượt
học sinh tích cực tương tác ở các lớp đều giảm; còn số lượt học sinh thường
xuyên tắt camera và không tương tác với giáo viên đều tăng. Từ thực tế này đã
thúc đẩy tôi phải đổi mới trong cách dạy của mình để giờ học trở nên hấp dẫn
hơn, thu hút được sự chú ý của học sinh trong suốt tiết học, “buộc” học sinh
phải tương tác với giáo viên bằng các hình thức khác nhau.
4. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
4.1 Nhóm các phần mềm tạo bài tập tương tác trong tiết học
Trong tiết học, tôi thường sử dụng từ 1 đến 2 phần mềm tạo bài tập
tương tác trong số các phần mềm sau:
Tên ứng dụng
Logo nhận diện
- Quizizz
- Wordwall
- Liveworksheets
- Padlet
- Jamboard
* Mục đích: Tạo các bài tập tương tác sử dụng trong tiết học, khiến cho học
sinh làm bài tập mà cảm giác như đang được “chơi” . Các bài tập này giáo
viên có thể linh hoạt thiết kế và sử dụng vào các hoạt động khác nhau trong
suốt giờ dạy của mình. Có thể thiết kế cho hoạt động kiểm tra bài cũ vào đầu
giờ học, có thể là một hoạt động trong sách giáo khoa ở giữa tiết học, cũng có
thể là một bài tập củng cố ở cuối tiết học. Giáo viên nên thay đổi các dạng bài
tập và thời điểm sử dụng các bài tập để tạo bất ngờ cho học sinh và buộc học
sinh phải theo dõi tiết học mới có thể tham gia vào “game”.
* Biện pháp thực hiện:
- Ứng dụng “Quizizz”:
Đây có thể nói là ứng dụng tôi sử dụng sớm nhất và nhiều nhất vì phần
mềm rất thân thiện, dễ sử dụng. Chỉ cần có 1 tài khoản là giáo viên có thể dễ
9
dàng tạo các bài tập trắc nghiệm. Học sinh rất thích các bài tập tương tác trên
“Quizizz” vì vừa vui vừa có tính cạnh tranh thứ hạng.
+ Cách sử dụng các dạng bài tập trên Quizizz:
Bài tập trên “Quizizz” có nhiều dạng: Multiple choice/ Poll (câu hỏi có
nhiều lựa chọn), Fill in the blank (điền vào chỗ trống), Open-ended (trả lời câu
hỏi), Draw (vẽ theo yêu cầu),... nhưng tôi thường dùng hai dạng bài Multiple
choice và Fill in the blank vì nó phù hợp với yêu cầu nhanh, gọn, tiết kiệm
thời gian trong mỗi tiết học và cũng đảm bảo tính chính xác khi đánh giá học
sinh. Với hoạt động tương tác trên lớp giáo viên sẽ chọn hình thức “Start a live
quiz” sau đó học sinh sẽ tham gia vào “game” bằng link do giáo viên chia sẻ
hoặc đăng nhập vào “Join my quiz.com” và nhập mã “join code”
Ví dụ 1: Ở tiết “A closer look 1” - Unit 1 lớp 6, tôi đã kiểm tra bài cũ
bằng bài tập Multiple choice: chọn từ phù hợp với hình ảnh hoặc chọn hình
ảnh phù hợp với từ.
Link bài tập: https://quizizz.com/admin/quiz/613aae664ba6e5001e34febc
Ví dụ 2 : Sau khi học sinh học về cụm động từ (Phrasal verbs) ở bài 1 và
bài 2 (Unit 1 and Unit 2) ở lớp 9, tôi đã tạo 1 bài tập gồm 2 dạng bài Multiple
choice và Fill in the blank để củng cố lại kiến thức cho học sinh.
Link bài tập: https://quizizz.com/admin/quiz/6032f8ac74aa86001f0260f7
Sau khi học sinh hoàn thành bài tập theo yêu cầu, giáo viên chỉ cần vào
phần “Report” trong tài khoản của mình sẽ kiểm tra được ngay học sinh làm
đúng bao nhiêu câu, hoặc còn sai câu nào, tỉ lệ đúng của mỗi câu, tỉ lệ đúng
toàn bài.
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Là ứng dụng dễ dùng, dễ thiết kế. Đặc biệt giáo viên có thể khai thác các
câu hỏi sẵn có trong thư viện “quiz library” sau đó chỉnh sửa cho phù hợp nên
rất tiết kiệm thời gian.
Có thể chèn thêm hình ảnh, âm thanh, công thức toán học,... nên câu hỏi
rất sinh động.
Được tích hợp sẵn hiệu ứng âm thanh, hình ảnh đẹp mắt, vui nhộn.
Có điểm thưởng và nhiều phần thưởng khác khi học sinh trả lời tốt, trả
lời nhanh.
Có xếp hạng khi kết thúc bài tập, tạo tính thi đua cho học sinh. Có thể
làm bài theo nhóm học sinh.
Không giới hạn số lượng bài và số lượt truy cập.
Nhược điểm:
Khi thiết kế giáo viên chọn dạng câu hỏi nào thì sẽ cố định định dạng đó,
muốn thay đổi sẽ phải chỉnh sửa từng câu.
10
Điểm tổng cuối cùng rất cao vì có nhiều điểm thưởng. Tôi thường lấy
điểm theo tỉ lệ % làm đúng của học sinh để khích lệ các học sinh thao tác
chậm hơn các bạn.
Nếu tín hiệu đường truyền Internet yếu rất khó đăng nhập vào “game”.
Bài tập không có giới hạn thời gian khi tương tác trực tiếp nên giáo viên
phải quan sát bảng tổng trên màn hình máy chủ, khi có nhiều học sinh đã hoàn
thành bài tập, hoặc hết thời gian do giáo viên đặt ra thì click “end” để kết thúc
và xem kết quả.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H1.1; H1.2; H1.3]
- Ứng dụng “Wordwall”:
Ứng dụng được tôi biết đến, khai thác và sử dụng sau “quizizz” nhưng
tôi rất thích vì có nhiều tiện ích thú vị. Tài khoản “Wordwall” được đăng kí
bằng Gmail, học sinh rất hứng thú làm bài tập tương tác trên ứng dụng này vì
bài tập đa dạng, không nhàm chán.
+ Cách sử dụng các dạng bài tập trên Wordwall:
Một đặc điểm ưu việt của phần mềm này là cùng một bài tập nhưng giáo
viên có thể linh hoạt chuyển đổi thành nhiều dạng bài khác nhau mà không cần
chỉnh sửa. Với tài khoản đăng kí miễn phí 1 bài tập có thể chuyển đổi thành 13
định dạng khác nhau: Match up (kéo thả), Find the match (nối), Cross word (ô
chữ), Quiz (câu hỏi chọn lựa), Game show (chọn đáp án có thời gian đếm
ngược), Maze Chase (mê cung), Spin Wheel (vòng xoay),.....và mỗi định dạng
bài lại được tích hợp cùng hiệu ứng âm thành, hình ảnh đẹp, lôi cuốn nên cùng
một bài tập học sinh làm đi làm lại nhiều lần mà không chán.
Ví dụ: Hoạt động 2 tiết “A closer look 2” – Unit 7 lớp 6, thay vì yêu cầu
học sinh nối như bình thường, tôi đã thiết kế hoạt động này thành bài tập tương
tác trên Wordwall, và thay đổi các định dạng bài khác nhau, học sinh tham rất
nhiệt tình, hào hứng.
Link bài tập: https://wordwall.net/resource/30946793/wn-question-matching
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Các định dạng bài tập phong phú, hình thức đẹp. Dễ dàng chuyển đổi
sang các dạng bài khác nhau mà không cần chỉnh sửa.
Dễ tạo bài tập. Có thể copy từ văn bản word có sẵn.
Dễ dàng gửi bài cho học sinh bằng các đường link.
Có bảng xếp hạng sau khi học sinh chọn “Submit” để nộp bài.
Nhược điểm:
Với tài khoản miễn phí chỉ tạo được tối đa 5 bài tập. Muốn tạo thêm phải
xóa bớt bài tập cũ. Muốn nâng cấp tài khoản sẽ mất phí từ 70.000đ đến
105.000đ/ tháng.
11
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H2.1; H2.2; H2.3]
- Ứng dụng “Liveworksheet”:
Đây là một ứng dụng làm bài trực tuyến đơn giản, thích hợp cho các học
sinh lớp lớn như lớp 8, lớp 9 làm các bài tập ngữ pháp. Ưu điểm của ứng dụng
này là phần mềm sẽ chấm điểm ngay cho học sinh sau khi học sinh nhấn
“Finish” để nộp bài.
Ví dụ: Trong tiết tự chọn ở lớp 9 học sinh ôn tập về thì quá khứ đơn và
quá khứ hoàn thành, tôi đã thiết kế bài tập và chia sẻ link cho học sinh luyện
tập.
Link bài tập: https://www.liveworksheets.com/4-fp1101435hd
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Dễ tạo bài, chỉ cần post file PDF một bài tập có sẵn lên và thêm đáp án là
được.
Không giới hạn số lượng bài được tạo.
Có thể tìm kiếm bài thích hợp trong kho lưu trữ của mềm do các tài
khoản khác chia sẻ.
Học sinh có thể đăng nhập vào link bài tập luyện tập nhiều lần.
Học sinh biết điểm của mình ngay sau khi nộp bài.
Nhược điểm:
Nếu giáo viên không tạo nhóm lớp trong ứng dụng sẽ không lưu được
điểm.
Các dạng bài tập không có hình thức đẹp, hấp dẫn như các ứng dụng
khác.
Định dạng câu trả lời của học sinh phải chuẩn như đáp án của giáo viên.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H3.1; H3.2]
- Ứng dụng “Padlet”
Đây là ứng dụng thích hợp khi thảo luận vì nhiều học sinh có thể cùng
tương tác một lúc (gõ văn bản), các em cũng có thể chia sẻ file âm thanh,
video, hình ảnh đính kèm. Khi sử dụng ứng dụng này học sinh sẽ được thỏa sức
sáng tạo.
Link Padlet của tôi: https://padlet.com/chunggvtanlinh/k3a6fmaldlaxt2xx
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Dễ sử dụng, giáo viên chia sẻ link trang Padlet vào chat box hoặc qua
Zalo là học sinh có thể tham gia được.
12
Học sinh có thể gửi sản phẩm của mình bằng nhiều hình thức.
Bài làm của học sinh được công khai nên các em rất dễ nhận xét, đánh
giá cho bạn.
Trên cùng một trang có thể tạo cột riêng cho từng đối tượng cụ thể.
Nhược điểm:
Mỗi tài khoản Padlet miễn phí chỉ tạo được 03 trang.
Mọi sản phẩm được công khai nên tính bảo mật không cao. Nhiều học
sinh ngại chia sẻ sản phẩm của mình lên nhóm.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H4]
- Ứng dụng “Jamboard”:
Ứng dụng này có sẵn trong drive của các gmail, hoàn toàn miễn phí và
không giới hạn số lượng trang được tạo. “Jamboard” thích hợp cho hoạt động
nhóm và làm các bài viết online, các sản phẩm sẽ được lưu lại, giáo viên và học
sinh có thể chỉnh sửa sau. Giáo viên có thể tải bài làm của học sinh xuống với
định dạng PDF.
Link trang Jamboard của tôi: https://jamboard.google.com/u/0/
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Miễn phí, dễ sử dụng.
Thông tin được tự động lưu trữ.
Có thể chỉnh sửa dễ dàng.
Nhược điểm:
Học sinh bắt buộc phải có gmail mới có thể đăng nhập được vào link.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H 5]
*Kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Sau khi tôi đưa các dạng bài tập tương tác vào trong các giờ học đã thu
hút được sự chú ý của học sinh vào các tiết học. Các em phải chú ý theo dõi giờ
học thì mới biết lúc nào được tham gia vào các bài tập thú vị và cách thực hiện
các bài tập đó như thế nào. Qua các bài tập tương tác này tôi cũng có thể lấy
được điểm kiểm tra thường xuyên của học sinh.
4.2 Nhóm các phần mềm tạo bài tập về nhà cho học sinh
Ngoài việc tạo các bài tập tương tác ngay trên lớp, tôi còn vận dụng ưu
điểm của các phần mềm để tạo bài và giao bài về nhà cho học sinh. Tôi thường
sử dụng các phần mềm “Quizizz”, “Wordwall”, và các ứng dụng
“Shubclassroom” và “Google form”.
13
* Mục đích: Tạo các bài tập về nhà cho học sinh có giới hạn thời gian để học
sinh luyện tập mà không cảm thấy căng thẳng, nhàm chán. Học sinh các thể tự
học vào thời điểm thuận lợi với mình, kết quả sẽ được lưu trên hệ thống, giáo
viên và học sinh có thể kiểm tra sau.
- Ứng dụng “Quizizz”:
Để tạo bài tập về nhà cho học sinh trên “Quizizz”, giáo viên chọn “Asign
homework” sau đó đặt giới hạn thời gian nộp bài, lấy link gửi cho học sinh
qua Zalo là học sinh có thể đăng nhập vào và làm bài.
Ví dụ: Sau khi học về mệnh đề quan hệ (Relative clause – Unit 9) tôi đã
thiết kế và gửi link bài tập cho các con luyện tập ở nhà.
Link bài tập: https://quizizz.com/admin/quiz/5ea78c2ad4b00b001bd4bb28
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Hiệu ứng đẹp, học sinh sẽ có cảm giác như được tham gia vào một trò
chơi chứ không nặng nề như khi làm bài tập trên giấy.
Với Link bài tập được giáo viên chia sẻ học sinh có thể làm đi làm lại
nhiều lần để ghi nhớ.
Kết quả học tập được lưu trữ tự động và sau đó có thể chia sẻ được.
Nhược điểm:
Chính vì có thể làm nhiều lần nên một số học sinh có lực học khá sẽ cảm
thấy không công bằng, nên kết quả này chỉ mang tính tham khảo hoặc là một
hình thức động viên cho học sinh có lực học yếu hơn.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H1.1; H1.2; H1.3]
- Ứng dụng “Wordwall”:
Với phần mềm “Worldwall”, giáo viên tạo bài tập, chọn định dạng bài,
chọn “Set assingment”, đặt giới hạn thời gian, lấy link và chuyển cho học sinh.
Với các định dạng bài tập khác nhau học sinh sẽ có những trải nghiệm rất khác
nhau. Với 1 bài tập giáo viên vừa có thể sử dụng để tương tác trên lớp vừa có
thể chọn định dạng thích hợp để chuyển thành bài tập về nhag cho học sinh.
Ví dụ: Ở tiết “A closer look 2” – Unit 10 lớp 6. Trước khi yêu cầu học
sinh tự viết về ngôi nhà mơ ước của mình, tôi đã tạo 1 bài tập sắp xếp từ thành
câu hoàn chỉnh “Unjumble” trên “Wordwall”, sau khi học sinh hoàn thành bài
tập các con sẽ có 1 bài mẫu hoàn chỉnh để tham khảo.
Link bài tập: https://wordwall.net/play/31262/378/157
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Với bài tập “Unjumble” do tôi tạo, học sinh sẽ sắp xếp thành công với
gợi ý từ phần mềm: khi nào học sinh xếp đúng từ sẽ tự động đổi màu.
Hiệu ứng đẹp, âm thanh vui tai giúp học sinh không bị nhàm chán.
14
Giáo viên tạo bài rất dễ: copy các câu hoàn chỉnh từ file word sẵn có vào
ô tạo bài trên ứng dụng, phần mềm sẽ tự động trộn các từ để học sinh sắp xếp.
Với các định dạng khác thì thú vị hơn, học sinh sẽ học mà chơi, chơi mà
học.
Nhược điểm:
Với bài tập “Unjumle”, vì phần mềm hỗ trợ đổi màu từ khi học sinh làm
đúng nên một số học sinh học khá sẽ không thấy có tính thách thức.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H2.1; H2.2; H2.3]
- Ứng dụng “Shubclassroom”:
Đây là một ứng dụng rất thích hợp để giao bài về nhà cho học sinh.
Trường THCS Tản Lĩnh đã mua 01 tài khoản để sử dụng chung cho cả trường.
Giáo viên chỉ cần đăng nhập tài khoản, tải bài tập từ file word sẵn có với các
đáp án đúng được gạch chân, cài đặt các thông tin cần thiết (tên bài tập, thời
gian làm bài, thời gian mở/ đóng bài,...) và định dạng cho bài tập (đảo đáp án,
đảo câu, cho xem điểm, cho xem đáp án,...), sau đó gửi link của lớp và nhắc
nhở học sinh vào làm bài. Điểm và các thông tin các hoạt động của học sinh
trong khi làm bài đều được ghi lại, giáo viên có thể xuất kết quả theo định dạng
file excel để lưu trữ, lấy điểm.
Ví dụ: Sau khi các học sinh khối 9 làm bài khảo sát lần 1 do Đại học
Quốc gia tổ chức, tôi đã nhận được phiên bản 2 của bài kiểm tra đó, tôi đã tạo
thành bài tập trên “Shubclassroom” cho học sinh luyện tập.
Link bài tập: https://shub.edu.vn/class/TIBGR/homework/share/2184340
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Tạo bài dễ dàng, ứng dụng sẽ lưu trữ các bài tập vào “Kho học liệu” để
thành tài khoản dùng chung cho cả trường.
Phù hợp nhất cho các bài tập trắc nghiệm.
Học sinh có thể làm bài tập vào thời điểm thích hợp (trong thời gian quy
định do giáo viên cài đặt)
Các hoạt động của học sinh trong khi làm bài đều được lưu lại rõ ràng.
Có thể đặt mức điểm khác nhau cho từng câu và điểm số có thể là số lẻ.
Nhược điểm:
Bài tập phải được định dạng thật chuẩn trước khi tải lên.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H6.1; H6.2]
- Ứng dụng “Google form”:
Đây là ứng dụng có sẵn trong Gmail hoàn toàn miễn phí, thích hợp với
nhiều dạng bài tập khác nhau: trắc nghiệm, điền từ, trả lời ngắn, trả lời dài
(đoạn văn). Giáo viên có thể chèn file hình ảnh, âm thanh vào mỗi câu hỏi, cài
15
đặt các thông tin của bài tập, lấy link và chia sẻ cho học sinh. Kết quả bài làm
của các em sẽ được lưu lại và có số liệu phân tích rõ ràng.
Ví dụ: Để tạo điều kiện cho học sinh lớp 9 ôn tập cuối kì 2 được thuận
lợi tôi đã tạo bài ôn tập trên Google form và chia sẻ link cho học sinh.
Link bài tập: https://forms.gle/zWLWM1kkDBHiK3U57
+ Đánh giá của cá nhân:
Ưu điểm:
Ứng dụng miễn phí và không giới hạn số bài tập được tạo.
Học sinh thao tác dễ dàng trên các thiết bị có kêt nối Internet.
Có thể tạo được nhiều dạng câu hỏi trên cùng 1 bài tập.
Nhược điểm
Giáo viên tốn khá nhiều thời gian tạo bài, vì phải đánh máy từng câu hỏi
hoặc phải cắt câu hỏi ở file word lưu và tải lên ở định dạng file ảnh.
Điểm số không có điểm lẻ nên tổng điểm khá lớn.
Hình minh họa: Phụ lục 2 [H7.1; H7.2; H7.3]
*Kết quả sau khi áp dụng giải pháp:
Với việc bài tập về nhà được giáo viên biến hóa thành các bài tập tương
tác, học sinh chuyển từ ngại khi phải làm bài thành thí...
 









Các ý kiến mới nhất