Sao mộc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Trí Viễn
Ngày gửi: 18h:20' 01-05-2008
Dung lượng: 381.5 KB
Số lượt tải: 48
Nguồn:
Người gửi: Hồ Trí Viễn
Ngày gửi: 18h:20' 01-05-2008
Dung lượng: 381.5 KB
Số lượt tải: 48
Số lượt thích:
0 người
Sao Mộc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
So sánh về kích thước của những hành tinh của Hệ Mặt Trời
Sao Mộc
Sao Mộc, chụp bởi một trong hai Voyager
Đặc điểm của quỹ đạo (Kỷ nguyên J2000)
Bán trục lớn
778.412.027 km hay 5,20336301 đơn vị thiên văn.
Chu vi
4,888 × 109 km hay 32,675 đơn vị thiên văn hay 5,2 lần Trái Đất.
Độ lệch tâm
0,04839266 hay 2,928 lần Trái Đất.
Cận điểm
740.742.598 km hay 4,95155843 đơn vị thiên văn.
Viễn điểm
816.081.455 km hay 5,45516759 đơn vị thiên văn.
Chu kỳ theo sao
4335,3545 ngày hay 11,87 năm hay 11,857 lần Trái Đất.
Chu kỳ giao hội
398,86 ngày hay 1,1 năm.
Vận tốc quỹ đạo:
- trung bình
13,050 km/s hay 0,439 lần Trái Đất.
- tối đa
13,705 km/s hay 0,453 lần Trái Đất.
- tối thiểu
12,440 km/s hay 0,425 lần Trái Đất.
Độ nghiêng
1,304° với Hoàng Đạo hay 6,1° với xích đạo Mặt Trời.
Hoàng kinh của điểm nút lên
100,556°
Acgumen của điểm cận nhật
274,198°
Tổng số vệ tinh
63
Đặc điểm của hành tinh
Đường kính:
- tại xích đạo
142.984 km hay 11,209 lần Trái Đất.
- qua hai cực
133.709 km hay 10,517 lần Trái Đất.
Độ dẹt
0,06487
Diện tích
61,4 × 109 km² hay 120,5 lần Trái Đất.
Thể tích
1338 × 1012 km³ hay 1235,6 lần Trái Đất.
Khối lượng
1,899 × 1027 kg hay 317,8 lần Trái Đất.
Khối lượng riêng
1326 kg/m³ hay 0,240 lần Trái Đất.
Gia tốc trọng trường tại xích đạo
23,12 m/s² hay 2,358 lần Trái Đất.
Vận tốc thoát ly
59,54 km/s hay 5,32 lần Trái Đất.
Chu kỳ quay quanh trục
0,41351 ngày hay 9.933 giờ hay 0,415 lần Trái Đất.
Vận tốc quay quanh trục tại xích đạo
45.300 km/h hay 27,055 lần Trái Đất.
Độ nghiêng trục quay
3,13° hay 0,133 lần Trái Đất.
Xích kinh của cực bắc
17 h 52 m 12 s (hay 268,05°)
Xích vĩ của cực bắc
64,48°
Hệ số phản xạ
0,52 hay 1,42 lần Trái Đất.
Nhiệt độ tại bề mặt:
- tối thiểu
110K (hay -163°C)
- trung bình
152K (hay -121°C)
- tối đa
K (hay °C)
Áp suất khí quyển tại bề mặt
70 kPa hay 0,7 lần Trái Đất.
Cấu tạo của khí quyển
H2 He CH4 H2O NH3 C2H6 PH3
~86% ~14% 0,1% 0,1% 0,02% 0,0002% 0,0001%
Sao Mộc (hay Mộc Tinh) là hành tinh to lớn nhất của Thái Dương Hệ và đứng thứ năm nếu đếm từ Mặt Trời trở ra. Sao Mộc được cấu tạo bởi các chất khí ở thể lỏng vì nhiệt độ thấp; loại hành tinh này, do đó, không có đất và đá và thường thường lớn hơn loại hành tinh có đất và đá giống như Trái Đất. Đôi khi người ta còn gọi loại hành tinh này là các "sao lùn nâu" (brown dawrf) vì nếu khối lượng của hành tinh chỉ cần khoảng 100 lần nặng hơn thì sức hút của trọng lực đã đủ mạnh để tạo nên phản ứng hợp hạt nhân của các chất khí và biến hành tinh này thành một ngôi sao.
Tên tiếng Việt của hành tinh này dựa vào nguyên tố mộc của Ngũ Hành; chữ Nho viết là 木星. Các văn hóa Tây phương dùng tên thần Jupiter, vị thần quan trọng nhất trong thần thoại La Mã, để đặt tên cho hành tinh này; trong thần thoại Hy Lạp tên của vị thần này là Zeus (Δίας). Điều này rất dễ hiểu vì Sao Mộc là một hành tinh vĩ đại, nặng hơn gấp hai lần của tất cả 8 hành tinh còn lại của Thái Dương Hệ cộng lại.
Sao Mộc cũng là nơi mà nền móng của giả thuyết cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ bị lung lay khi Galileo Galilei khám phá ra 4 thiên thể quay chung quanh hành tinh này vào năm 1610 – thay vì chung quanh Trái Đất.
Mục lục
[giấu]
1 Cấu tạo và khí quyển
2 Vết Đỏ Lớn
3 Vận tốc quay của hành tinh
4 Vệ tinh
5 Vòng đai
6 Quá trình thám hiểm
7 Xem thêm
8 Liên kết ngoài
[sửa] Cấu tạo và khí quyển
Sao Mộc có một lõi bằng đá tương đối nhỏ so với kích thước của nó. Ngoại trừ phần lõi ra, sao Mộc có thể được xem như hoàn toàn tạo bởi khinh khí (H2). Nằm ngay trên lõi là một lớp khinh khí ở thể đặc, có nhiều tính chất vật lý giống như một kim loại, và trên nữa là lớp khinh khí ở thể lỏng biến dần dần sang một lớp ở thể khí. Ranh giới giữa ba thể không cách nào được xác định rõ ràng vì sự biến dạng từ thể này sang thể khác không xẩy ra một cách đột ngột.
Khí quyển của sao Mộc bao gồm khoảng 86% khinh khí và 14% hêli (He), cũng như một phần rất nhỏ của các chất khác. Càng xuống sâu, tỉ lệ các chất khác càng tăng lên và bầu khí quyển càng trở nên dầy đặc hơn cho đến khi biến sang thể lỏng. Ranh giới giữa bầu khí quyển và "bề mặt" của Sao Mộc, do đó, cũng không rõ ràng.
Vào năm 1690, Giovanni Domenico Cassini khám phá ra các vùng khí quyển của Sao Mộc quay với vận tốc khác nhau: không khí gần cực quay chậm hơn không khí gần quỹ đạo vào khoảng 5 phút. Hơn thế nữa, mây ở các vĩ tuyến khác nhau bay với hai chiều ngược nhau và thường tạo ra những cơn bão lốc với vận tốc cao đến 600 km/h. Một cơn lốc kinh khủng nhất, với đường kính to hơn đường kính Trái Đất, được gọi là Đốm Đỏ Lớn.
[sửa] Vết Đỏ Lớn
Bài chi tiết: Vết Đỏ Lớn
Đốm Đỏ Lớn chụp bởi Voyager 1
Một của những dấu đặc biệt rõ ràng nhất của Sao Mộc là Vết Đỏ Lớn ở gần phía nam của xích đạo. Vết này là một cơn lốc khổng lồ – đường kính gấp ba lần đường kính của Trái Đất – đang thổi dữ dội từ hơn 300 năm nay. So với 100 năm trước đây thì đốm này chỉ còn độ nửa về kích thước. Người ta không biết chắc rằng có phải hiện tượng này xảy ra do sự dao động trong khí quyển của sao Mộc, cũng như đốm này có đang từ từ biến đi theo thời gian hay không.
[sửa] Vận tốc quay của hành tinh
Vì Sao Mộc được tạo ra bởi các chất khí ở thể lỏng nên mỗi vùng có một vận tốc quay khác nhau. Một điểm nằm gần xích đạo, giữa vĩ tuyến 10° bắc và vĩ tuyến 10° nam, làm một vòng chung quanh Sao Mộc trong 9 giờ 50 phút 30 giây. Vùng này được gọi là System I của Sao Mộc. Phần còn lại, gọi là System II, quay chậm hơn vùng gần xích đạo hơn 5 phút, hay 9 giờ 55 phút 41 giây.
Sao Mộc là hành tinh có vận tốc quay cao nhất của Hệ Mặt Trời.
[sửa] Vệ tinh
Đến năm 2004, đã có 63 vệ tinh của Sao Mộc được khám phá và được chia ra làm 7 nhóm. Trong những vệ tinh này, Io, Europa, Ganymedes và Callisto được khám phá bởi Galileo Galilei từ đầu thế kỷ 17 và được lập thành một nhóm. Bốn vệ tinh này, cũng như Metis, Adrastea và Amalthea của nhóm Amalthea, tự quay một vòng chung quanh chính mình trong một thời gian bằng một vòng chung quanh Sao Mộc nên luôn luôn có một mặt hướng về Sao Mộc và một mặt quay đi – trường hợp giống như Mặt Trăng đối với Địa Cầu. Đại đa số những vệ tinh nhỏ còn lại tuy quay chung quanh Sao Mộc nhưng đi ngược với chiều quay của hành tinh này.
Bẩy nhóm vệ tinh của Sao Mộc là:
Phân bổ vệ tinh của Sao Mộc.
Nhóm Amalthea, gần Sao Mộc nhất, gồm Metis, Adrastea, Amalthea và Thebe. Quỹ đạo của các vệ tinh này rất tròn, gần như nằm trên cùng một mặt phẳng với xích đạo của Sao Mộc và ở từ 100 ngàn km đến 200 ngàn km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
Metis
Adrastea
Amalthea
Thebe
Nhóm Galilean, khám phá bởi Galileo Galilei, gồm Io, Europa, Ganymede và Callisto. Đây là các vệ tinh lớn trong Thái Dương Hệ – Europa, nhỏ nhất trong nhóm, lớn hơn Sao Diêm Vương trong khi Ganymede, lớn nhất trong nhóm, lớn hơn Sao Thuỷ. Quỹ đạo của các vệ tinh này ở từ 400 ngàn km đến 2 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
Các vệ tinh Galilean: Io, Europa, Ganymede, Callisto.
Sao Mộc và Io
Europa
Ganymede
Callisto
Themisto đứng một mình trong nhóm của nó. Quỹ đạo của vệ tinh này ở vào khoảng 7 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
Themisto
Nhóm Himalia gồm Leda, Himalia, Lysithea, Elara và S/2000 J11 (khám phá trong năm 2000 nên chưa có tên). Quỹ đạo của các vệ tinh này ở từ 11 triệu km đến 12 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra, chu kỳ 287 ngày.
Leda
Himalia
Lysithea
Elara
Nhóm Ananke gồm Euporie, Euanthe, Orthosie, Harpalyke, Praxidike, Thyone, Ananke, Iocaste, Hermippe... Quỹ đạo của các vệ tinh này nằm nghiêng vào khoảng 150° đối với xích đạo của Sao Mộc và ở vào khoảng 21 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Tất cả các vệ tinh này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
Nhóm Carme gồm Pasithee, Chaldene, Isonoe, Erinome, Kale, Aitne, Taygete, Carme, Kalyke... Quỹ đạo của các vệ tinh này nằm nghiêng vào khoảng 160° đối với xích đạo của Sao Mộc và ở vào khoảng 23 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Tất cả các vệ tinh trong nhóm này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
Nhóm Pasiphaë gồm Eurydome, Pasiphaë, Sponde, Megaclite, Callirrhoe, Sinope, Autonone... Tất cả các vệ tinh trong nhóm này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
15 vệ tinh lớn nhất của Sao Mộc
Tên
Bán kính của vệ tinh (km)
Khối lượng của vệ tinh (kg)
Bán kính của quỹ đạo (km)
Chu kỳ của quỹ đạo (ngày)
Nhóm
Metis
20
0,1 × 1018
128,0 × 103
0,294779 S
Amalthea
Adrastea
13 × 10 × 8
20 × 1015
129,0 × 103
0,298260 S
Amalthea
Amalthea
131 × 73 × 67
7,5 × 1018
181,4 × 103
0,498179 S
Amalthea
Thebe
55 × 45 × 67
0,8 × 1018
221,9 × 103
0,6745
Amalthea
Io
1821,6
89,32 × 1021
421,6 × 103
1,769138 S
Galilean
Europa
1560,8
48 × 1021
670,9 × 103
3,551181 S
Galilean
Ganymede
2631,2
148,2 × 1021
1070,4 × 103
7,154553 S
Galilean
Callisto
2410,3
1075,9 × 1021
1882,7 × 103
16,689018 S
Galilean
Himalia
85
9,5 × 1018
11460 × 103
250,5662
Himalia
Lysithea
12
0,08 × 1018
11720 × 103
259,22
Himalia
Elara
40
0,8 × 1018
11740 × 103
259,6528
Himalia
Ananke
10
0,04 × 1018
21280 × 103
−629,8
Ananke
Carme
15
0,1 × 1018
23400 × 103
−734,2
Carme
Pasiphaë
18
0,3 × 1018
23620 × 103
−743,6
Pasiphaë
Sinope
14
0,08 × 1018
23940 × 103
−758,9
Pasiphaë
Chu kỳ của quỹ đạo mang dấu trừ (−) nếu vệ tinh đi ngược với chiều quay của sao Mộc. S có nghĩa là chu kỳ quay của vệ tinh bằng đúng chu kỳ của quỹ đạo.
[sửa] Vòng đai
Hệ thống vành đai sao Mộc
Chung quanh Sao Mộc có một số vòng đai tạo bởi bụi và đá. Sự hiện diện của những vòng đai này mới được xác nhận vào 1979. So sánh với các vòng đai của Sao Thổ, những vòng đai này nhỏ và mờ hơn rất nhiều.
Hiện nay (2004) các nhà thiên văn học xác nhận là Sao Mộc có 3 vòng đai được tạo ra bởi bụi và đá từ 4 vệ tinh thuộc nhóm Amalthea, kể từ tâm của Sao Mộc ra:
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
So sánh về kích thước của những hành tinh của Hệ Mặt Trời
Sao Mộc
Sao Mộc, chụp bởi một trong hai Voyager
Đặc điểm của quỹ đạo (Kỷ nguyên J2000)
Bán trục lớn
778.412.027 km hay 5,20336301 đơn vị thiên văn.
Chu vi
4,888 × 109 km hay 32,675 đơn vị thiên văn hay 5,2 lần Trái Đất.
Độ lệch tâm
0,04839266 hay 2,928 lần Trái Đất.
Cận điểm
740.742.598 km hay 4,95155843 đơn vị thiên văn.
Viễn điểm
816.081.455 km hay 5,45516759 đơn vị thiên văn.
Chu kỳ theo sao
4335,3545 ngày hay 11,87 năm hay 11,857 lần Trái Đất.
Chu kỳ giao hội
398,86 ngày hay 1,1 năm.
Vận tốc quỹ đạo:
- trung bình
13,050 km/s hay 0,439 lần Trái Đất.
- tối đa
13,705 km/s hay 0,453 lần Trái Đất.
- tối thiểu
12,440 km/s hay 0,425 lần Trái Đất.
Độ nghiêng
1,304° với Hoàng Đạo hay 6,1° với xích đạo Mặt Trời.
Hoàng kinh của điểm nút lên
100,556°
Acgumen của điểm cận nhật
274,198°
Tổng số vệ tinh
63
Đặc điểm của hành tinh
Đường kính:
- tại xích đạo
142.984 km hay 11,209 lần Trái Đất.
- qua hai cực
133.709 km hay 10,517 lần Trái Đất.
Độ dẹt
0,06487
Diện tích
61,4 × 109 km² hay 120,5 lần Trái Đất.
Thể tích
1338 × 1012 km³ hay 1235,6 lần Trái Đất.
Khối lượng
1,899 × 1027 kg hay 317,8 lần Trái Đất.
Khối lượng riêng
1326 kg/m³ hay 0,240 lần Trái Đất.
Gia tốc trọng trường tại xích đạo
23,12 m/s² hay 2,358 lần Trái Đất.
Vận tốc thoát ly
59,54 km/s hay 5,32 lần Trái Đất.
Chu kỳ quay quanh trục
0,41351 ngày hay 9.933 giờ hay 0,415 lần Trái Đất.
Vận tốc quay quanh trục tại xích đạo
45.300 km/h hay 27,055 lần Trái Đất.
Độ nghiêng trục quay
3,13° hay 0,133 lần Trái Đất.
Xích kinh của cực bắc
17 h 52 m 12 s (hay 268,05°)
Xích vĩ của cực bắc
64,48°
Hệ số phản xạ
0,52 hay 1,42 lần Trái Đất.
Nhiệt độ tại bề mặt:
- tối thiểu
110K (hay -163°C)
- trung bình
152K (hay -121°C)
- tối đa
K (hay °C)
Áp suất khí quyển tại bề mặt
70 kPa hay 0,7 lần Trái Đất.
Cấu tạo của khí quyển
H2 He CH4 H2O NH3 C2H6 PH3
~86% ~14% 0,1% 0,1% 0,02% 0,0002% 0,0001%
Sao Mộc (hay Mộc Tinh) là hành tinh to lớn nhất của Thái Dương Hệ và đứng thứ năm nếu đếm từ Mặt Trời trở ra. Sao Mộc được cấu tạo bởi các chất khí ở thể lỏng vì nhiệt độ thấp; loại hành tinh này, do đó, không có đất và đá và thường thường lớn hơn loại hành tinh có đất và đá giống như Trái Đất. Đôi khi người ta còn gọi loại hành tinh này là các "sao lùn nâu" (brown dawrf) vì nếu khối lượng của hành tinh chỉ cần khoảng 100 lần nặng hơn thì sức hút của trọng lực đã đủ mạnh để tạo nên phản ứng hợp hạt nhân của các chất khí và biến hành tinh này thành một ngôi sao.
Tên tiếng Việt của hành tinh này dựa vào nguyên tố mộc của Ngũ Hành; chữ Nho viết là 木星. Các văn hóa Tây phương dùng tên thần Jupiter, vị thần quan trọng nhất trong thần thoại La Mã, để đặt tên cho hành tinh này; trong thần thoại Hy Lạp tên của vị thần này là Zeus (Δίας). Điều này rất dễ hiểu vì Sao Mộc là một hành tinh vĩ đại, nặng hơn gấp hai lần của tất cả 8 hành tinh còn lại của Thái Dương Hệ cộng lại.
Sao Mộc cũng là nơi mà nền móng của giả thuyết cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ bị lung lay khi Galileo Galilei khám phá ra 4 thiên thể quay chung quanh hành tinh này vào năm 1610 – thay vì chung quanh Trái Đất.
Mục lục
[giấu]
1 Cấu tạo và khí quyển
2 Vết Đỏ Lớn
3 Vận tốc quay của hành tinh
4 Vệ tinh
5 Vòng đai
6 Quá trình thám hiểm
7 Xem thêm
8 Liên kết ngoài
[sửa] Cấu tạo và khí quyển
Sao Mộc có một lõi bằng đá tương đối nhỏ so với kích thước của nó. Ngoại trừ phần lõi ra, sao Mộc có thể được xem như hoàn toàn tạo bởi khinh khí (H2). Nằm ngay trên lõi là một lớp khinh khí ở thể đặc, có nhiều tính chất vật lý giống như một kim loại, và trên nữa là lớp khinh khí ở thể lỏng biến dần dần sang một lớp ở thể khí. Ranh giới giữa ba thể không cách nào được xác định rõ ràng vì sự biến dạng từ thể này sang thể khác không xẩy ra một cách đột ngột.
Khí quyển của sao Mộc bao gồm khoảng 86% khinh khí và 14% hêli (He), cũng như một phần rất nhỏ của các chất khác. Càng xuống sâu, tỉ lệ các chất khác càng tăng lên và bầu khí quyển càng trở nên dầy đặc hơn cho đến khi biến sang thể lỏng. Ranh giới giữa bầu khí quyển và "bề mặt" của Sao Mộc, do đó, cũng không rõ ràng.
Vào năm 1690, Giovanni Domenico Cassini khám phá ra các vùng khí quyển của Sao Mộc quay với vận tốc khác nhau: không khí gần cực quay chậm hơn không khí gần quỹ đạo vào khoảng 5 phút. Hơn thế nữa, mây ở các vĩ tuyến khác nhau bay với hai chiều ngược nhau và thường tạo ra những cơn bão lốc với vận tốc cao đến 600 km/h. Một cơn lốc kinh khủng nhất, với đường kính to hơn đường kính Trái Đất, được gọi là Đốm Đỏ Lớn.
[sửa] Vết Đỏ Lớn
Bài chi tiết: Vết Đỏ Lớn
Đốm Đỏ Lớn chụp bởi Voyager 1
Một của những dấu đặc biệt rõ ràng nhất của Sao Mộc là Vết Đỏ Lớn ở gần phía nam của xích đạo. Vết này là một cơn lốc khổng lồ – đường kính gấp ba lần đường kính của Trái Đất – đang thổi dữ dội từ hơn 300 năm nay. So với 100 năm trước đây thì đốm này chỉ còn độ nửa về kích thước. Người ta không biết chắc rằng có phải hiện tượng này xảy ra do sự dao động trong khí quyển của sao Mộc, cũng như đốm này có đang từ từ biến đi theo thời gian hay không.
[sửa] Vận tốc quay của hành tinh
Vì Sao Mộc được tạo ra bởi các chất khí ở thể lỏng nên mỗi vùng có một vận tốc quay khác nhau. Một điểm nằm gần xích đạo, giữa vĩ tuyến 10° bắc và vĩ tuyến 10° nam, làm một vòng chung quanh Sao Mộc trong 9 giờ 50 phút 30 giây. Vùng này được gọi là System I của Sao Mộc. Phần còn lại, gọi là System II, quay chậm hơn vùng gần xích đạo hơn 5 phút, hay 9 giờ 55 phút 41 giây.
Sao Mộc là hành tinh có vận tốc quay cao nhất của Hệ Mặt Trời.
[sửa] Vệ tinh
Đến năm 2004, đã có 63 vệ tinh của Sao Mộc được khám phá và được chia ra làm 7 nhóm. Trong những vệ tinh này, Io, Europa, Ganymedes và Callisto được khám phá bởi Galileo Galilei từ đầu thế kỷ 17 và được lập thành một nhóm. Bốn vệ tinh này, cũng như Metis, Adrastea và Amalthea của nhóm Amalthea, tự quay một vòng chung quanh chính mình trong một thời gian bằng một vòng chung quanh Sao Mộc nên luôn luôn có một mặt hướng về Sao Mộc và một mặt quay đi – trường hợp giống như Mặt Trăng đối với Địa Cầu. Đại đa số những vệ tinh nhỏ còn lại tuy quay chung quanh Sao Mộc nhưng đi ngược với chiều quay của hành tinh này.
Bẩy nhóm vệ tinh của Sao Mộc là:
Phân bổ vệ tinh của Sao Mộc.
Nhóm Amalthea, gần Sao Mộc nhất, gồm Metis, Adrastea, Amalthea và Thebe. Quỹ đạo của các vệ tinh này rất tròn, gần như nằm trên cùng một mặt phẳng với xích đạo của Sao Mộc và ở từ 100 ngàn km đến 200 ngàn km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
Metis
Adrastea
Amalthea
Thebe
Nhóm Galilean, khám phá bởi Galileo Galilei, gồm Io, Europa, Ganymede và Callisto. Đây là các vệ tinh lớn trong Thái Dương Hệ – Europa, nhỏ nhất trong nhóm, lớn hơn Sao Diêm Vương trong khi Ganymede, lớn nhất trong nhóm, lớn hơn Sao Thuỷ. Quỹ đạo của các vệ tinh này ở từ 400 ngàn km đến 2 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
Các vệ tinh Galilean: Io, Europa, Ganymede, Callisto.
Sao Mộc và Io
Europa
Ganymede
Callisto
Themisto đứng một mình trong nhóm của nó. Quỹ đạo của vệ tinh này ở vào khoảng 7 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra.
Themisto
Nhóm Himalia gồm Leda, Himalia, Lysithea, Elara và S/2000 J11 (khám phá trong năm 2000 nên chưa có tên). Quỹ đạo của các vệ tinh này ở từ 11 triệu km đến 12 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra, chu kỳ 287 ngày.
Leda
Himalia
Lysithea
Elara
Nhóm Ananke gồm Euporie, Euanthe, Orthosie, Harpalyke, Praxidike, Thyone, Ananke, Iocaste, Hermippe... Quỹ đạo của các vệ tinh này nằm nghiêng vào khoảng 150° đối với xích đạo của Sao Mộc và ở vào khoảng 21 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Tất cả các vệ tinh này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
Nhóm Carme gồm Pasithee, Chaldene, Isonoe, Erinome, Kale, Aitne, Taygete, Carme, Kalyke... Quỹ đạo của các vệ tinh này nằm nghiêng vào khoảng 160° đối với xích đạo của Sao Mộc và ở vào khoảng 23 triệu km nếu kể từ tâm của Sao Mộc ra. Tất cả các vệ tinh trong nhóm này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
Nhóm Pasiphaë gồm Eurydome, Pasiphaë, Sponde, Megaclite, Callirrhoe, Sinope, Autonone... Tất cả các vệ tinh trong nhóm này đi ngược với chiều quay của Sao Mộc.
15 vệ tinh lớn nhất của Sao Mộc
Tên
Bán kính của vệ tinh (km)
Khối lượng của vệ tinh (kg)
Bán kính của quỹ đạo (km)
Chu kỳ của quỹ đạo (ngày)
Nhóm
Metis
20
0,1 × 1018
128,0 × 103
0,294779 S
Amalthea
Adrastea
13 × 10 × 8
20 × 1015
129,0 × 103
0,298260 S
Amalthea
Amalthea
131 × 73 × 67
7,5 × 1018
181,4 × 103
0,498179 S
Amalthea
Thebe
55 × 45 × 67
0,8 × 1018
221,9 × 103
0,6745
Amalthea
Io
1821,6
89,32 × 1021
421,6 × 103
1,769138 S
Galilean
Europa
1560,8
48 × 1021
670,9 × 103
3,551181 S
Galilean
Ganymede
2631,2
148,2 × 1021
1070,4 × 103
7,154553 S
Galilean
Callisto
2410,3
1075,9 × 1021
1882,7 × 103
16,689018 S
Galilean
Himalia
85
9,5 × 1018
11460 × 103
250,5662
Himalia
Lysithea
12
0,08 × 1018
11720 × 103
259,22
Himalia
Elara
40
0,8 × 1018
11740 × 103
259,6528
Himalia
Ananke
10
0,04 × 1018
21280 × 103
−629,8
Ananke
Carme
15
0,1 × 1018
23400 × 103
−734,2
Carme
Pasiphaë
18
0,3 × 1018
23620 × 103
−743,6
Pasiphaë
Sinope
14
0,08 × 1018
23940 × 103
−758,9
Pasiphaë
Chu kỳ của quỹ đạo mang dấu trừ (−) nếu vệ tinh đi ngược với chiều quay của sao Mộc. S có nghĩa là chu kỳ quay của vệ tinh bằng đúng chu kỳ của quỹ đạo.
[sửa] Vòng đai
Hệ thống vành đai sao Mộc
Chung quanh Sao Mộc có một số vòng đai tạo bởi bụi và đá. Sự hiện diện của những vòng đai này mới được xác nhận vào 1979. So sánh với các vòng đai của Sao Thổ, những vòng đai này nhỏ và mờ hơn rất nhiều.
Hiện nay (2004) các nhà thiên văn học xác nhận là Sao Mộc có 3 vòng đai được tạo ra bởi bụi và đá từ 4 vệ tinh thuộc nhóm Amalthea, kể từ tâm của Sao Mộc ra:
 









Các ý kiến mới nhất