Sáng kiến nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 2 qua bộ sách Cánh diều

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:20' 25-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 438
Nguồn:
Người gửi: Đinh Thị Quế (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:20' 25-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 438
Số lượt thích:
1 người
(Nguyễn Thị Kiều Nga)
MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài......................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
II. PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................2
1. Cơ sở lý luận.................................................................................................2
2. Thực trạng....................................................................................................3
3. Giải pháp, biện pháp....................................................................................6
a, Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.............................................................6
b, Nội dung và cách thức thực hiện...............................................................6
Biện pháp thứ nhất: Nắm bắt nội dung chương trình................................6
Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học..............................7
Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán..........8
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng
bước hội nhập với thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với
việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Quá trình đổi mới phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày càng
được chú trọng và quan tâm. Trong sự phát triển chung của nền giáo dục, bộ
môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng. Từ đó, mỗi
giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn
nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước
nhà. Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu
trong nhà trường. Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và
phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn
đạt ý đúng bằng lời. Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối
cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau
này. Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi
giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh
tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng
ngày. Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em
nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các
em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những
người có ích cho xã hội. Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò
quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học.
Năm học ……. tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian làm quen
và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy đa số các
em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác hết khả
năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh nhẹn
trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Một số giáo viên khi
giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hạn chế
việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến
1 | 33
thức. Mặt khác trường Tiểu học … là một trong những trường có tỷ lệ học sinh
đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên toàn huyện, việc tiếp thu
kiến thức của các em còn chậm. Từ đó, bản thân luôn suy nghĩ để tìm ra được
một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích cực, chủ động trong học
tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy học nhằm nâng
cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất
lượng môn toán cho học sinh lớp 2 qua bộ sách Cánh diều”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 2 năm học …….
3. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm nâng
cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.
4. Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 2A, trường Tiểu học …, huyện …, tỉnh …, năm học …….
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan.
- Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp.
- Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập.
- Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại.
- Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 10 tuổi, nhìn
chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài. Khả năng phân
tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể. Về sau
các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận
thức khác nên nó chính xác dần. Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí
2 | 33
nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic,
những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát.
Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác
động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn. Dần dần tư duy và khả năng suy
luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do sự
hướng dẫn của giáo viên. Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy
mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp
để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo
của mình.
Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải
qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học. Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất
hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với
nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát. Giáo viên
nắm được tâm lý của các em và tìm ra phương pháp phù hợp để tư duy của các
em dần phát triển thành tổng thể khi chiếm lĩnh các kiến thức được học. Việc
kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua
việc cho học sinh tính toán, các bài toán liên quan với cuộc sống một cách thích
hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành cần thiết
trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó vào
cuộc sống. Thông qua đó các em sẽ phát triển tư duy và vận dụng học tốt các
môn học khác, rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy tổng thể và những đức
tính tốt của con người lao động mới.
2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
*Thuận lợi
Được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của ban giám hiệu nhà trường tới chất
lượng dạy và học trong nhà trường.
Nhìn chung các em học sinh đã nắm được kiến thức cộng, trừ cơ bản của
môn Toán lớp 1.
3 | 33
Một số em học sinh giỏi, khá trong lớp đã vui vẻ giúp đỡ bạn cùng tiến bộ
trong hoạt động nhóm.
Lượng kiến thức môn Toán lớp 2 được phân theo mạch kiến thức từ đơn
giản đến phức tạp.
Nhiều gia đình học sinh đã quan tâm đến vấn đề học tập của con em mình.
Giáo viên, học sinh và phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực
trong quá trình thực hiện đề tài.
*Khó khăn:
Lớp chiếm trên 90% là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, đọc - hiểu
Tiếng Việt còn hạn chế, sự tiếp thu kiến thức của các em còn chậm.
Một số gia đình học sinh kinh tế còn khó khăn, chưa quan tâm đến vấn đề
học tập của con em mình nên các em còn nghỉ học nhiều dẫn đến sự gián đoạn
trong việc tiếp thu kiến thức.
Đa số các em còn thụ động, chưa mạnh dạn trong quá trình học tập.
Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, chuyển đổi phương
pháp giảng dạy còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh.
b. Thành công, hạn chế
Thành công: Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng môn Toán
cho học sinh lớp 2, làm cơ sở cho các em áp dụng kiến thức vào thực tế.
Hạn chế: Do lớp chiếm đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, việc tiếp
thu kiến thức của các em còn hạn chế, mặt khác các em đọc và hiểu Tiếng Việt
còn chậm nên khi dạy cho học sinh nắm được kiến thức về giải toán có lời văn,
các yếu tố hình học còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó, ảnh hưởng tới việc nâng
cao chất lượng của môn Toán lớp 2.
c. Mặt mạnh, mặt yếu
Mặt mạnh: Đây là giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động trong quá
trình học tập của người học. Phát triển khả năng nhận thức, tư duy sáng tạo cho
học sinh. Giúp các em vận dụng và thực hành làm toán một cách nhanh nhẹn,
logic và có kết quả cao nhất.
4 | 33
Mặt yếu: Trong quá trình học tập các em còn rụt rè, chưa chủ động chiếm
lĩnh kiến thức môn học. Các em còn trông chờ nhiều vào sự hướng dẫn, gợi mở
của giáo viên. Từ đó, các em sẽ bối rối khi gặp những bài toán tương tự, khả
năng vận dụng vào làm các bài tập liên quan bị hạn chế.
d. Nguyên nhân
Thành công: Sau khi thực hiện đề tài sẽ nâng cao chất lượng môn Toán
cho học sinh lớp 2, làm cơ sở cho các em học tốt môn Toán trong những năm
tiếp theo ở cấp Tiểu học. Thông qua việc học tốt môn Toán các em sẽ phát triển
tư duy, nhận thức giúp các em học tốt các môn học khác.
Hạn chế, yếu kém: Đa số học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số,
việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm. Trình độ nhận thức của phụ
huynh còn thấp, hoàn cảnh gia đình học sinh còn nhiều khó khăn,… Do vậy,
phần nào ảnh hưởng tới đề tài nghiên cứu này.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Trong dạy học ở Tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, một yêu
cầu đặt ra là tích cực hóa hoạt động của người học, tạo điều kiện để người học
phát hiện và lĩnh hội tri thức. Nội dung toán học ở lớp 2 mặc dù chưa đòi hỏi
học sinh phải suy luận nhiều nhưng do nhận thức của các em trong giai đoạn
này còn mang tính trực giác và cảm tính, các em tin tưởng tuyệt đối vào sự
hướng dẫn và dạy bảo của thầy cô giáo. Vì vậy mỗi giáo viên khi giảng giải
kiến thức phải nhẹ nhàng, đầy đủ, đúng nội dung để khơi gợi sự phát triển của
trí tuệ, nhận thức cho các em. Để đạt được những yêu cầu đặt ra, ngoài kiến
thức giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học, kết
hợp với kĩ năng sư phạm phù hợp. Do trình độ nhận thức của phụ huynh còn
thấp, việc kèm cặp thêm cho con em ở nhà chưa được chú trọng, vấn đề học tập
của các em chủ yếu được thực hiện ở trên lớp. Mỗi giáo viên, ngoài công tác
giảng dạy cần liên hệ chặt chẽ với gia đình, tuyên truyền để tất cả phụ huynh
hiểu được vấn đề học tập tốt của các em cần có sự phối hợp giữa gia đình và
nhà trường, nhắc nhở các em việc tự học thêm ở nhà. Bên cạnh đó, trong quá
trình học tập ở trường giáo viên cần tạo không khí học tập thoải mái để học
5 | 33
sinh tự tin, hứng thú, chủ động tiếp thu kiến thức. Mặt khác cần động viên,
khen ngợi và khích lệ kịp thời học sinh để tạo không khí phấn khởi, thi đua học
tập nâng cao chất lượng môn Toán của tất cả học sinh trong lớp.
3. Giải pháp, biện pháp
a, Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2. Từ đó, các em
nắm được kiến thức toán học một cách toàn diện, nâng cao năng lực tư duy
nhận thức để vận dụng vào các bài toán có liên quan. Giúp các em học tốt các
môn học khác.
b, Nội dung và cách thức thực hiện
Biện pháp thứ nhất: Nắm bắt nội dung chương trình
Đối với mỗi giáo viên, để giúp dạy tốt môn Toán lớp 2 ngoài các yêu cầu
cần thiết về kiến thức, kĩ năng và chuẩn bị đồ dùng dạy học thì phải nắm bắt
được nội dung chương trình sách giáo khoa Toán lớp 2. Từ đó, giáo viên mới
có kế hoạch thiết kế tiết dạy phù hợp. Các khái niệm và quy tắc trong sách giáo
khoa nói chung đều được giảng dạy thông qua việc thực hiện kiến thức từ đơn
giản đến phức tạp. Trong mỗi bài học, đều xây dựng dựa trên việc hình thành
kiến thức rồi vận dụng kiến thức vào thực hành tính, cuối mỗi bài học thường
có một bài toán giải có lời văn để học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực
hành giải toán, thông qua đó rèn kĩ năng cho các em.
Ví dụ: Bài 3a “Đặt tính rồi tính” (Bài Luyện tập trang 64 Toán 2 Bộ sách
Cánh diều tập 1)
Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn để các em nắm bắt được kiến thức mới với
phép cộng có tổng bằng 100 thông qua cách thực hiện phép tính cộng 64 + 36.
6 | 33
Khi thực hiện phép cộng dạng này giáo viên khắc sâu cho các em cách đặt tính
thẳng hàng đơn vị với hàng đơn vị, hàng chục với hàng chục và khi thực hiện
cách tính kết quả 100 viết số 1 lùi về phía tay trái là hàng trăm. Khi các em
hiểu cách đặt tính và nắm được cách tính thì các em sẽ dễ dàng làm được
những bài tập có liên quan.
Tiếp đến là các bài tập vận dụng kiến thức đã học vào thực hành tính cộng
các số trong phạm vi 100, cuối cùng là bài toán giải có liên quan đến phép
cộng các số trong phạm vi 100.
Việc thiết kế mỗi bài học như vậy sẽ giúp các em nắm được kiến thức và
vận dụng vào làm được những bài toán có liên quan, nâng cao chất lượng môn
Toán cho học sinh, làm cơ sở cho các em tiếp thu phương pháp và vận dụng
học tốt hơn môn Toán ở những năm tiếp theo ở cấp Tiểu học.
Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học
Toán học là một môn khoa học mang tính trừu tượng cao. Để học sinh hiểu
bài một cách sâu sắc, dễ tiếp thu ngoài việc sử dụng kiến thức, kĩ năng sư phạm
thì giáo viên cũng cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học.
Đối với tâm lí học sinh lớp 2, tư duy nhận thức của các em chưa có chủ định,
thiếu tập trung. Việc sử dụng đồ dùng dạy học là một giải pháp sư phạm tạo ra
chỗ dựa ban đầu giúp học sinh nhận thức được những kiến thức trừu tượng,
giải pháp này tác động vào các hoạt động nhận thức của trẻ theo đúng quy luật:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn”. Do đó, khi sử dụng đồ dùng dạy học trong một tiết học, không những học
sinh hiểu sâu bài hơn mà còn làm cho các em thấy kiến thức toán học có mối
quan hệ chặt chẽ với thực tiễn, tạo cho học sinh ý thức vận dụng kiến thức toán
học vào thực tiễn.
Ví dụ: Đối với bài: Giờ, phút (Bài Giờ - Phút trang 34 Toán 2 Bộ sách Cánh
diều tập 2)
7 | 33
Khi dạy học bài này, ngoài việc giúp các em nhận biết được 1 giờ bằng 60
phút, cách xem đồng hồ khi kim phút chỉ vào số 3 và số 6 thì tôi còn chuẩn bị
thêm đồ dùng dạy học đó là chiếc đồng hồ. Tôi quay một số giờ cụ thể về thời
gian các em thức dậy, thời gian các em ăn sáng, thời gian các em đi học,…
Thông qua đó các em biết vận dụng thời gian vào thực tế và sử dụng thời gian
khoa học để đạt hiệu quả công việc, học tập và nghỉ ngơi phù hợp.
Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học là một việc làm cần thiết đối với mỗi
giáo viên khi đứng lớp. Nhưng trong quá trình dạy học người giáo viên phải
biết lựa chọn thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, tránh lạm
dụng dẫn đến việc sử dụng thiết bị đồ dùng dư thừa, không có mục đích. Vì
vậy, khi sử dụng đồ dùng dạy học giáo viên cần phải cân nhắc kĩ về mục đích,
biện pháp để đồ dùng, thiết bị dạy học mang lại hiệu quả cao nhất.
Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán
Trong dạy học không có phương pháp nào là tối ưu hay vạn năng, việc kết
hợp linh hoạt các phương pháp dạy học cùng với lòng nhiệt tình, tinh thần trách
nhiệm của người thầy sẽ mang lại kết quả cao trong giảng dạy, là chiếc cầu nối
giúp các em đến với tri thức của nhân loại. Khi xác định các phương pháp dạy
học giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người
học để thông qua đó giúp các em lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội
dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu của bài học. Như vậy việc vận dụng và
phát huy có hiệu quả các phương pháp dạy học sẽ góp phần vô cùng quan trọng
8 | 33
để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Bằng kinh nghiệm thực tế,
tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:
Phương pháp 1: Phương pháp trực quan
Trong môn Toán, phương tiện trực quan là chỗ dựa để giáo viên hướng
dẫn học sinh quan sát, nhận xét, so sánh, đưa ra những nhận định, những hình
ảnh đặc trưng nhằm minh họa, thể hiện các kiến thức trừu tượng của toán học.
Ví dụ : Đối với bài 3: Xem tranh rồi trả lời các câu hỏi (Bài Giờ - Phút trang
35 Toán 2 Bộ sách Cánh diều tập 2)
Sau khi học xong bài học, giáo viên đưa ra hình ảnh minh họa ở ví dụ trên
và hỏi học sinh: Nam và các bạn đến hồ Hoàn Kiếm vào lúc mấy giờ ? Học
sinh sẽ trả lời được thời gian là 8 giờ 15 phút. Tiếp đến giáo viên gọi học sinh
lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo viên chuẩn bị cho tiết
học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian đúng.
Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu
bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong
ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và
sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả.
Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp
9 | 33
Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh
làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng
hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy
luận để hiểu được nội dung của bài học.
Ví dụ : Đối với bài tập 4 (Bài Phép trừ (có nhớ) trong phạm vi 100 trang 67
Toán 2 Bộ sách Cánh diều tập 1) : Kiên và Mai giúp bà nhặt trứng gà. Kiên nhặt
được 35 quả. Mai nhặt được út hơn Kiên 16 quả. Hỏi Mai nhặt được bao nhiêu
quả trứng gà?
Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau : - Bài
toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Kiên nhặt được 35 quả. Mai nhặt được ít
hơn Kiên 16 quả.
- Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Hỏi Mai nhặt được bao nhiêu quả trứng gà?
- Để biết Mai nhặt được bao nhiêu quả trứng gà ta làm như thế nào ?
Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài
toán (lấy 148 - 75) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán.
Hình thức hỏi - đáp giữa giáo viên - học sinh giúp giáo viên nhận biết được
việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ
kịp thời để các em cùng tiến bộ.
Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập
10 | 33
Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán
là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác
và
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
11 | 33
I. PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài......................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................2
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................2
II. PHẦN NỘI DUNG.........................................................................................2
1. Cơ sở lý luận.................................................................................................2
2. Thực trạng....................................................................................................3
3. Giải pháp, biện pháp....................................................................................6
a, Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.............................................................6
b, Nội dung và cách thức thực hiện...............................................................6
Biện pháp thứ nhất: Nắm bắt nội dung chương trình................................6
Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học..............................7
Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán..........8
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, giáo dục nước ta đang ngày càng phát triển và từng
bước hội nhập với thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục gắn liền với
việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Quá trình đổi mới phương
pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh ngày càng
được chú trọng và quan tâm. Trong sự phát triển chung của nền giáo dục, bộ
môn Toán cũng đang phát triển và đóng một vai trò quan trọng. Từ đó, mỗi
giáo viên phải không ngừng nỗ lực phấn đấu để nâng cao trình độ, chuyên môn
nghiệp vụ nhằm đáp ứng cho mục tiêu giáo dục ngày càng phát triển của nước
nhà. Trong chương trình Tiểu học, môn Toán là một môn học không thể thiếu
trong nhà trường. Thông qua việc học Toán các em bước đầu hình thành và
phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, khả năng suy luận và diễn
đạt ý đúng bằng lời. Thông qua việc học tập tốt môn Toán sẽ là chiếc cầu nối
cho các em lĩnh hội và tiếp thu tốt các môn khoa học khác trong cuộc sống sau
này. Nhận thức được vai trò quan trọng của môn học Toán, mỗi giáo viên khi
giảng dạy phải tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để giúp các em học sinh
tiếp thu đầy đủ kiến thức và biết vận dụng được vào trong cuộc sống hàng
ngày. Việc dạy học tốt đối với mỗi giáo viên không chỉ là việc giúp các em
nắm được các kiến thức học trong nhà trường mà thông qua học trên lớp các
em còn biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, để các em trở thành những
người có ích cho xã hội. Chính vì vậy môn Toán là một môn học đóng vai trò
quan trọng trong cả quá trình học ở Tiểu học.
Năm học ……. tôi được phân công dạy lớp 2, qua một thời gian làm quen
và nắm bắt tình hình học tập đầu năm của các em, bản thân nhận thấy đa số các
em học sinh trong quá trình học còn thụ động, các em chưa khai thác hết khả
năng tiềm ẩn trong nội dung bài học, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh nhẹn
trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Một số giáo viên khi
giảng dạy chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, hạn chế
việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến
1 | 33
thức. Mặt khác trường Tiểu học … là một trong những trường có tỷ lệ học sinh
đồng bào đông nhất trong các trường Tiểu học trên toàn huyện, việc tiếp thu
kiến thức của các em còn chậm. Từ đó, bản thân luôn suy nghĩ để tìm ra được
một số phương pháp dạy học mới phát huy tính tích cực, chủ động trong học
tập cho các em và đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp dạy học nhằm nâng
cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao chất
lượng môn toán cho học sinh lớp 2 qua bộ sách Cánh diều”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Phối hợp một số biện pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 2 năm học …….
3. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng và phối hợp một số biện pháp sư phạm trong dạy học nhằm nâng
cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2.
4. Phạm vi nghiên cứu
Áp dụng các phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng môn Toán cho
học sinh lớp 2A, trường Tiểu học …, huyện …, tỉnh …, năm học …….
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp 1 : Phương pháp trực quan.
- Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp.
- Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập.
- Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại.
- Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Lứa tuổi học sinh Tiểu học chủ yếu ở vào khoảng từ 6 đến 10 tuổi, nhìn
chung các em còn rất nhạy cảm với những tác động bên ngoài. Khả năng phân
tích của các em còn rất kém nên các em thường tri giác trên tổng thể. Về sau
các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận
thức khác nên nó chính xác dần. Sự chú ý không có chủ định chiếm ưu thế, trí
2 | 33
nhớ trực quan hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ lô-gic,
những hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn là câu chữ khô khan, trừu tượng, khái quát.
Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác
động nhiều của hứng thú, các mẫu hình có sẵn. Dần dần tư duy và khả năng suy
luận của các em sẽ thay đổi và phát triển theo chiều hướng khác nhau là do sự
hướng dẫn của giáo viên. Nắm vững vấn đề này, tùy vào nội dung giảng dạy
mà giáo viên lựa chọn một cách linh hoạt các phương pháp dạy học thích hợp
để học sinh tiếp thu kiến thức tốt và phát huy khả năng tư duy độc lập, sáng tạo
của mình.
Đối với học sinh lớp 2, tư duy của các em còn rất non nớt, các em vừa trải
qua một năm học tập ở môi trường Tiểu học. Nhìn chung ở lứa tuổi này đã xuất
hiện những tiến bộ mới song còn hạn chế, các thao tác tư duy đã liên kết với
nhau thành tổng thể nhưng sự liên kết đó chưa mang tính tổng quát. Giáo viên
nắm được tâm lý của các em và tìm ra phương pháp phù hợp để tư duy của các
em dần phát triển thành tổng thể khi chiếm lĩnh các kiến thức được học. Việc
kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua
việc cho học sinh tính toán, các bài toán liên quan với cuộc sống một cách thích
hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành cần thiết
trong đời sống hàng ngày, giúp các em biết vận dụng những kỹ năng đó vào
cuộc sống. Thông qua đó các em sẽ phát triển tư duy và vận dụng học tốt các
môn học khác, rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy tổng thể và những đức
tính tốt của con người lao động mới.
2. Thực trạng
a. Thuận lợi, khó khăn
*Thuận lợi
Được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của ban giám hiệu nhà trường tới chất
lượng dạy và học trong nhà trường.
Nhìn chung các em học sinh đã nắm được kiến thức cộng, trừ cơ bản của
môn Toán lớp 1.
3 | 33
Một số em học sinh giỏi, khá trong lớp đã vui vẻ giúp đỡ bạn cùng tiến bộ
trong hoạt động nhóm.
Lượng kiến thức môn Toán lớp 2 được phân theo mạch kiến thức từ đơn
giản đến phức tạp.
Nhiều gia đình học sinh đã quan tâm đến vấn đề học tập của con em mình.
Giáo viên, học sinh và phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng và tham gia tích cực
trong quá trình thực hiện đề tài.
*Khó khăn:
Lớp chiếm trên 90% là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, đọc - hiểu
Tiếng Việt còn hạn chế, sự tiếp thu kiến thức của các em còn chậm.
Một số gia đình học sinh kinh tế còn khó khăn, chưa quan tâm đến vấn đề
học tập của con em mình nên các em còn nghỉ học nhiều dẫn đến sự gián đoạn
trong việc tiếp thu kiến thức.
Đa số các em còn thụ động, chưa mạnh dạn trong quá trình học tập.
Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, chuyển đổi phương
pháp giảng dạy còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh.
b. Thành công, hạn chế
Thành công: Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao chất lượng môn Toán
cho học sinh lớp 2, làm cơ sở cho các em áp dụng kiến thức vào thực tế.
Hạn chế: Do lớp chiếm đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, việc tiếp
thu kiến thức của các em còn hạn chế, mặt khác các em đọc và hiểu Tiếng Việt
còn chậm nên khi dạy cho học sinh nắm được kiến thức về giải toán có lời văn,
các yếu tố hình học còn gặp nhiều khó khăn. Từ đó, ảnh hưởng tới việc nâng
cao chất lượng của môn Toán lớp 2.
c. Mặt mạnh, mặt yếu
Mặt mạnh: Đây là giải pháp phát huy tính tích cực, chủ động trong quá
trình học tập của người học. Phát triển khả năng nhận thức, tư duy sáng tạo cho
học sinh. Giúp các em vận dụng và thực hành làm toán một cách nhanh nhẹn,
logic và có kết quả cao nhất.
4 | 33
Mặt yếu: Trong quá trình học tập các em còn rụt rè, chưa chủ động chiếm
lĩnh kiến thức môn học. Các em còn trông chờ nhiều vào sự hướng dẫn, gợi mở
của giáo viên. Từ đó, các em sẽ bối rối khi gặp những bài toán tương tự, khả
năng vận dụng vào làm các bài tập liên quan bị hạn chế.
d. Nguyên nhân
Thành công: Sau khi thực hiện đề tài sẽ nâng cao chất lượng môn Toán
cho học sinh lớp 2, làm cơ sở cho các em học tốt môn Toán trong những năm
tiếp theo ở cấp Tiểu học. Thông qua việc học tốt môn Toán các em sẽ phát triển
tư duy, nhận thức giúp các em học tốt các môn học khác.
Hạn chế, yếu kém: Đa số học sinh trong lớp là người dân tộc thiểu số,
việc tiếp thu kiến thức của các em còn chậm. Trình độ nhận thức của phụ
huynh còn thấp, hoàn cảnh gia đình học sinh còn nhiều khó khăn,… Do vậy,
phần nào ảnh hưởng tới đề tài nghiên cứu này.
e. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Trong dạy học ở Tiểu học nói chung và dạy học Toán nói riêng, một yêu
cầu đặt ra là tích cực hóa hoạt động của người học, tạo điều kiện để người học
phát hiện và lĩnh hội tri thức. Nội dung toán học ở lớp 2 mặc dù chưa đòi hỏi
học sinh phải suy luận nhiều nhưng do nhận thức của các em trong giai đoạn
này còn mang tính trực giác và cảm tính, các em tin tưởng tuyệt đối vào sự
hướng dẫn và dạy bảo của thầy cô giáo. Vì vậy mỗi giáo viên khi giảng giải
kiến thức phải nhẹ nhàng, đầy đủ, đúng nội dung để khơi gợi sự phát triển của
trí tuệ, nhận thức cho các em. Để đạt được những yêu cầu đặt ra, ngoài kiến
thức giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học, kết
hợp với kĩ năng sư phạm phù hợp. Do trình độ nhận thức của phụ huynh còn
thấp, việc kèm cặp thêm cho con em ở nhà chưa được chú trọng, vấn đề học tập
của các em chủ yếu được thực hiện ở trên lớp. Mỗi giáo viên, ngoài công tác
giảng dạy cần liên hệ chặt chẽ với gia đình, tuyên truyền để tất cả phụ huynh
hiểu được vấn đề học tập tốt của các em cần có sự phối hợp giữa gia đình và
nhà trường, nhắc nhở các em việc tự học thêm ở nhà. Bên cạnh đó, trong quá
trình học tập ở trường giáo viên cần tạo không khí học tập thoải mái để học
5 | 33
sinh tự tin, hứng thú, chủ động tiếp thu kiến thức. Mặt khác cần động viên,
khen ngợi và khích lệ kịp thời học sinh để tạo không khí phấn khởi, thi đua học
tập nâng cao chất lượng môn Toán của tất cả học sinh trong lớp.
3. Giải pháp, biện pháp
a, Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Nhằm nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh lớp 2. Từ đó, các em
nắm được kiến thức toán học một cách toàn diện, nâng cao năng lực tư duy
nhận thức để vận dụng vào các bài toán có liên quan. Giúp các em học tốt các
môn học khác.
b, Nội dung và cách thức thực hiện
Biện pháp thứ nhất: Nắm bắt nội dung chương trình
Đối với mỗi giáo viên, để giúp dạy tốt môn Toán lớp 2 ngoài các yêu cầu
cần thiết về kiến thức, kĩ năng và chuẩn bị đồ dùng dạy học thì phải nắm bắt
được nội dung chương trình sách giáo khoa Toán lớp 2. Từ đó, giáo viên mới
có kế hoạch thiết kế tiết dạy phù hợp. Các khái niệm và quy tắc trong sách giáo
khoa nói chung đều được giảng dạy thông qua việc thực hiện kiến thức từ đơn
giản đến phức tạp. Trong mỗi bài học, đều xây dựng dựa trên việc hình thành
kiến thức rồi vận dụng kiến thức vào thực hành tính, cuối mỗi bài học thường
có một bài toán giải có lời văn để học sinh vận dụng kiến thức đã học vào thực
hành giải toán, thông qua đó rèn kĩ năng cho các em.
Ví dụ: Bài 3a “Đặt tính rồi tính” (Bài Luyện tập trang 64 Toán 2 Bộ sách
Cánh diều tập 1)
Đầu tiên, giáo viên hướng dẫn để các em nắm bắt được kiến thức mới với
phép cộng có tổng bằng 100 thông qua cách thực hiện phép tính cộng 64 + 36.
6 | 33
Khi thực hiện phép cộng dạng này giáo viên khắc sâu cho các em cách đặt tính
thẳng hàng đơn vị với hàng đơn vị, hàng chục với hàng chục và khi thực hiện
cách tính kết quả 100 viết số 1 lùi về phía tay trái là hàng trăm. Khi các em
hiểu cách đặt tính và nắm được cách tính thì các em sẽ dễ dàng làm được
những bài tập có liên quan.
Tiếp đến là các bài tập vận dụng kiến thức đã học vào thực hành tính cộng
các số trong phạm vi 100, cuối cùng là bài toán giải có liên quan đến phép
cộng các số trong phạm vi 100.
Việc thiết kế mỗi bài học như vậy sẽ giúp các em nắm được kiến thức và
vận dụng vào làm được những bài toán có liên quan, nâng cao chất lượng môn
Toán cho học sinh, làm cơ sở cho các em tiếp thu phương pháp và vận dụng
học tốt hơn môn Toán ở những năm tiếp theo ở cấp Tiểu học.
Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học
Toán học là một môn khoa học mang tính trừu tượng cao. Để học sinh hiểu
bài một cách sâu sắc, dễ tiếp thu ngoài việc sử dụng kiến thức, kĩ năng sư phạm
thì giáo viên cũng cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học.
Đối với tâm lí học sinh lớp 2, tư duy nhận thức của các em chưa có chủ định,
thiếu tập trung. Việc sử dụng đồ dùng dạy học là một giải pháp sư phạm tạo ra
chỗ dựa ban đầu giúp học sinh nhận thức được những kiến thức trừu tượng,
giải pháp này tác động vào các hoạt động nhận thức của trẻ theo đúng quy luật:
“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn”. Do đó, khi sử dụng đồ dùng dạy học trong một tiết học, không những học
sinh hiểu sâu bài hơn mà còn làm cho các em thấy kiến thức toán học có mối
quan hệ chặt chẽ với thực tiễn, tạo cho học sinh ý thức vận dụng kiến thức toán
học vào thực tiễn.
Ví dụ: Đối với bài: Giờ, phút (Bài Giờ - Phút trang 34 Toán 2 Bộ sách Cánh
diều tập 2)
7 | 33
Khi dạy học bài này, ngoài việc giúp các em nhận biết được 1 giờ bằng 60
phút, cách xem đồng hồ khi kim phút chỉ vào số 3 và số 6 thì tôi còn chuẩn bị
thêm đồ dùng dạy học đó là chiếc đồng hồ. Tôi quay một số giờ cụ thể về thời
gian các em thức dậy, thời gian các em ăn sáng, thời gian các em đi học,…
Thông qua đó các em biết vận dụng thời gian vào thực tế và sử dụng thời gian
khoa học để đạt hiệu quả công việc, học tập và nghỉ ngơi phù hợp.
Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học là một việc làm cần thiết đối với mỗi
giáo viên khi đứng lớp. Nhưng trong quá trình dạy học người giáo viên phải
biết lựa chọn thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, tránh lạm
dụng dẫn đến việc sử dụng thiết bị đồ dùng dư thừa, không có mục đích. Vì
vậy, khi sử dụng đồ dùng dạy học giáo viên cần phải cân nhắc kĩ về mục đích,
biện pháp để đồ dùng, thiết bị dạy học mang lại hiệu quả cao nhất.
Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán
Trong dạy học không có phương pháp nào là tối ưu hay vạn năng, việc kết
hợp linh hoạt các phương pháp dạy học cùng với lòng nhiệt tình, tinh thần trách
nhiệm của người thầy sẽ mang lại kết quả cao trong giảng dạy, là chiếc cầu nối
giúp các em đến với tri thức của nhân loại. Khi xác định các phương pháp dạy
học giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người
học để thông qua đó giúp các em lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội
dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu của bài học. Như vậy việc vận dụng và
phát huy có hiệu quả các phương pháp dạy học sẽ góp phần vô cùng quan trọng
8 | 33
để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Bằng kinh nghiệm thực tế,
tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:
Phương pháp 1: Phương pháp trực quan
Trong môn Toán, phương tiện trực quan là chỗ dựa để giáo viên hướng
dẫn học sinh quan sát, nhận xét, so sánh, đưa ra những nhận định, những hình
ảnh đặc trưng nhằm minh họa, thể hiện các kiến thức trừu tượng của toán học.
Ví dụ : Đối với bài 3: Xem tranh rồi trả lời các câu hỏi (Bài Giờ - Phút trang
35 Toán 2 Bộ sách Cánh diều tập 2)
Sau khi học xong bài học, giáo viên đưa ra hình ảnh minh họa ở ví dụ trên
và hỏi học sinh: Nam và các bạn đến hồ Hoàn Kiếm vào lúc mấy giờ ? Học
sinh sẽ trả lời được thời gian là 8 giờ 15 phút. Tiếp đến giáo viên gọi học sinh
lên quay thời gian đúng 7 giờ trên chiếc đồng hồ mà giáo viên chuẩn bị cho tiết
học, tiếp theo cho các em quan sát và đọc thời gian đúng.
Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu
bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong
ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và
sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả.
Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp
9 | 33
Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh
làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng
hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy
luận để hiểu được nội dung của bài học.
Ví dụ : Đối với bài tập 4 (Bài Phép trừ (có nhớ) trong phạm vi 100 trang 67
Toán 2 Bộ sách Cánh diều tập 1) : Kiên và Mai giúp bà nhặt trứng gà. Kiên nhặt
được 35 quả. Mai nhặt được út hơn Kiên 16 quả. Hỏi Mai nhặt được bao nhiêu
quả trứng gà?
Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau : - Bài
toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Kiên nhặt được 35 quả. Mai nhặt được ít
hơn Kiên 16 quả.
- Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Hỏi Mai nhặt được bao nhiêu quả trứng gà?
- Để biết Mai nhặt được bao nhiêu quả trứng gà ta làm như thế nào ?
Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài
toán (lấy 148 - 75) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán.
Hình thức hỏi - đáp giữa giáo viên - học sinh giúp giáo viên nhận biết được
việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ
kịp thời để các em cùng tiến bộ.
Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập
10 | 33
Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán
là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác
và
Người viết
Đỗ Văn Hiếu
Liên hệ Zalo: 0985598499
11 | 33
 









Các ý kiến mới nhất