Sang kien kinh nghiem sinh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trương Văn Thế
Ngày gửi: 10h:47' 06-04-2008
Dung lượng: 107.0 KB
Số lượt tải: 169
Nguồn:
Người gửi: Trương Văn Thế
Ngày gửi: 10h:47' 06-04-2008
Dung lượng: 107.0 KB
Số lượt tải: 169
Số lượt thích:
0 người
PHẦN I : MỞ ĐẦU
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, đã khẳng định : “Rà soát lại và đổi mới một bước sách giáo khoa, loại bỏ những nội dung không cần thiết theo hướng bảo đảm cơ bản, cập nhật với tiến bộ khoa học, công nghệ…Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…”
Vì vậy, trong những năm qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những chủ trương và biện pháp để cải tiến nội dung chương trinh và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, như : thí điểm chương trình phân ban mới, bồi dưỡng chu kỳ thường xuyên cho giáo viên về nội dung kiến thức cũng như phương pháp giảng dạy; đặc biệt là đổi mới mạnh mẽ về phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.
Để đổi mới phương pháp dạy học, cần sử dụng rất nhiều biện pháp. Chẳng hạn, trước hết cần đổi mới phương pháp kiểm tra - đánh giá, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học…Trong đó sử dụng bài tập giúp học sinh nắm và vận dụng kiến thức là một trong những biện pháp có nhiều hiệu quả nhất.
Trong dạy học nói chung và trong dạy học sinh học nói riêng, bài tập có vai trò định hướng hoạt động tư duy của học sinh, giúp học sinh phát huy tính tích cực, năng lực chủ động sáng tạo trong học tập. Đặc biệt ở những nội dung kiến thức có nhiều mối quan hệ thì việc giải bài tập có thể giúp học sinh mở rộng được kiến thức. Vì vậy kỹ năng giải bài tập có một vai trò rất quan trong trong biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh hiện nay. Học sinh có kỹ năng giải bài tập sẽ rất thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động nhận thức và củng cố mở rộng kiến thức.
Thực tế ở một số môn học khoa học tự nhiên như : Toán, Vật lý, Hóa học,…việc hình thành kỹ năng giải bài tập là một việc làm thường xuyên và không thể thiếu được.
Tuy nhiên đối với môn sinh học, rất ít tài liệu đề cập đến vấn đề này. Qua điều tra về thực trạng kỹ năng giải bài tập các quy luật di truyền (QLDT) của học sinh nói chung và của học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh hiện nay cho thấy phần lớn học sinh còn lúng túng, chưa có các kỹ năng cơ bản để giải bài tập di truyền trong sách giáo khoa một cách hoàn chỉnh. Chính điều đó đã hạn chế rất nhiều đến việc tiếp thu kiến thức di truyền học của học sinh cấp trung học phổ thông.
Nguyên nhân của thực trạng trên, theo tôi có một số nguyên nhân sau :
- Về phía giáo viên : Việc trang bị cho học sinh những kiến thức có liên quan đến kỹ năng giải bài tập di truyền chưa được đầy đủ. Ví dụ như kiến thức về quá trình giảm phân phát sinh giao tử, các mối quan hệ trong các QLDT …
- Về phía học sinh : Nhiều em chưa có phương pháp học tập phù hợp, học theo kiểu thụ động hoặc xem môn sinh học là môn học phụ. Chính điều này đã ảnh hưởng không ít đến chất lượng học tập bộ môn.
- Theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bố trí tiết bài tập cho học sinh rất ít (chỉ có 2 tiết : tiết 38 và tiết 46 trong phân phối chương trình lớp 11-THPT). Vì vậy, giáo viên cũng rất khó sửa bài tập cho học sinh theo đúng yêu cầu.
Để có thể nâng cao chất lượng dạy và học môn sinh học nói chung và các QLDT nói riêng, đòi hỏi mỗi giáo viên cần có những biện pháp cụ thể, nhất là hình thành cho học sinh được kỹ năng giải bài tập di truyền, góp phần khắc phục những yếu kém của học sinh hiện nay.
Với những lý do trên mà tôi chọn nội dung nghiên cứu : Hình thành kỹ năng giải bài tập về quy luật di truyền.
PHẦN II : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC HÌNH THÀNH KỸ NĂNG
GIẢI BÀI TẬP QUY LUẬT DI TRUYỀN
1.1. Kỹ năng
1.1.1. Quan niệm về kỹ năng
Theo Trần Bá Hoành (1996), kỹ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn. Kỹ năng đạt tới mức hết sức thành thạo, khéo léo thì sẽ trở thành kỹ xảo. Mỗi kỹ năng chỉ biểu hiện thông qua một nội dung. (Trần Bá Hoành - Kỹ thuật dạy học sinh học - 1996 - NXB Giáo dục).
Vậy kỹ năng không chỉ là kỹ thuật, cách thức hành động mà kỹ năng còn là một biểu hiện của năng lực con người, đòi hỏi con người phải luyện tập theo một quy trình xác định mới hình thành được được kỹ năng đó.
1.1.2. Vai trò của kỹ năng
Kỹ năng là thành tố cấu trúc nên mục tiêu dạy học và cũng là thành tố tạo nên năng lực của người học. Do đó trong dạy học, tùy mục đích mà sử dụng kỹ năng tương ứng. Mặc khác, kiến thức và kỹ năng tuy là hai thành tố nhưng chúng lại thống nhất và tác động lẫn nhau. Nhờ có kiến thức mới hình thành được kỹ năng, có kỹ năng tức là đã vận dụng được kiến thức. Do vậy nắm vững kiến thức là điều kiện để hình thành kỹ năng.
1.2. Bài tập
1.2.1. Khái niệm về bài tập
Theo từ điển Tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, thì bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học. (Hoàng Phê - Từ điển Tiếng Việt - 2000).
Bài tập được chia làm hai nhóm : bài tập định tính và bài tập định lượng.
Bài tập định tính là bài tập mà muốn hoàn thành chúng học sinh phải sử dụng tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, cụ thể hóa,… nhằm giải quyết vấn đề nhận thức.
Bài tập định lượng là dạng bài tập mà khi giải học sinh phải thực hiện thao tác tính toán.
1.2.2. Bài tập sinh học - Bài tập về QLDT
Bản chất của bài tập sinh học là sự mâu thuẫn giữa những mối quan hệ sinh học đã biết với những mối quan hệ sinh học cần tìm.
Bài tập QLDT là dạng bài tập trong đó chứa đựng các mối quan hệ về di truyền. Chẳng hạn bài tập về lai một cặp tính trạng, phân ly độc lập, liên kết gen, hoán vị gen,…
1.3. Cơ sở xác định kỹ năng giải bài tập về QLDT
1.3.1. Dựa vào mục tiêu cơ bản về dạy học các QLDT
*) Về kiến thức :
- Học sinh giải thích được cơ chế hình thành tính trạng ở sinh vật .
- Giải thích được cơ chế và QLDT tính trạng từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
- Chỉ ra được mối quan hệ giữa kiểu gen, kiểu hình trong điều kiện môi trường nhất định.
*) Về kỹ năng :
Vận dụng kiến thức về nội dung các QLDT, nắm vững mối quan hệ thuận - nghịch giữa thế hệ trước và thế hệ sau để xác định được :
+ Kiểu di truyền.
+ Kiểu gen của bố, mẹ.
+ Giao tử của bố, mẹ : số loại, tỷ lệ của mỗi loại.
+ Tỷ lệ các tổ hợp kiểu gen của đời con.
+ Tỷ lệ các loại kiểu hình ở đời con.
+ Thiết lập được sơ đồ lai, xác định kiểu gen, kiểu hình từ P đến F2.
1.3.2. Dựa vào đặc điểm các bài tập về QLDT
Việc hình thành kỹ năng giải bài tập nói chung, bài tập QLDT nói riêng còn phải căn cứ vào đặc điểm của bài tập. Nghĩa là căn cứ vào đặc điểm của mối quan hệ chứa đựng trong bài tập.
Bài tập về các QLDT chứa đựng mối quan hệ giữa kiểu gen , kiểu hình , kiểu di truyền , kiểu phân ly một cách khắng khít và lôgic cả về mặt định tính và định lượng.
Qua nghiên cứu trong phạm vi giữa P và F chúng tôi nhận thấy có các mối quan hệ sau : (Sơ đồ 1)
P
F
Sơ đồ 1 : Các mối quan hệ thường gặp trong các quy luật di truyền
Từ sơ đồ trên cho thấy trong mỗi bài tập về QLDT chứa nhiều mối quan hệ, muốn giải được bài tập QLDT thì học sinh phải có các kỹ năng cơ bản, như : kỹ năng xác định kiểu gen , kỹ năng xác định giao tử, kỹ năng xác định các tổ hợp gen, kỹ năng xác định kiểu hình ,…
1.3.3. Dựa vào mối quan hệ giữa kỹ năng và kiến thức tương ứng
Kiến thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng. Để có kỹ năng giải bài tập sinh học thì cần phải có những kiến thức tương ứng. Ngược lại khi có kỹ năng giải được bài tập thì giúp cho việc nắm vững kiến thức và mở rộng kiến thức được tốt hơn.
Phân tích nội dung các QLDT , chúng tôi thấy có sự liên quan giữa kỹ năng và kiến thức tương ứng như sau (Bảng 1):
Bảng 1 : Một số kỹ năng cơ bản và kiến thức tương ứng
Kỹ năng
Kiến thức
Xác định kiểu di truyền
+ Gen quy định tính trạng theo những quy luật nhất định :
- Một cặp gen alen quy định hai trạng thái khác nhau của một loại tính trạng ( trội hoàn toàn.
- Một cặp gen alen quy định ba trạng thái khác nhau của một loại tính trạng ( trội không hoàn toàn.
- Một cặp gen alen quy định hai hay nhiều trạng thái khác nhau của hai hay nhiều loại tính trạng ( gen đa hiệu.
- Hai hay nhiều cặp gen quy định một số trạng thái khác nhau của một loại tính trạng ( tác động qua lại giữa các gen.
+ Vị trí của gen trên nhiễm sắc thể (NST):
- Các cặp gen nghiên cứu nằm trên các cặp NST khác nhau ( di truyền độc lập.
- Các cặp gen nghiên cứu nằm trên cùng một cặp NST ( di truyền liên kết, hoán vị.
Xác định kiểu hình của P
+ Kiểu gen tương tác với môi trường quy định kiểu hình.
+ Kiểu gen và kiểu tương tác cho kiểu hình cụ thể.
Xác định kiểu gen của P
+ Dựa vào kiểu hình của P và kiểu tương tác.
+ Dựa vào sự phân ly kiểu gen , kiểu hình ở F1.
Xác định giao tử của P
+ Cơ sở tế bào học : Do sự phân ly độc lập và tổ hợp ngẫu nhiên của các NST trong quá trình giảm phân.
+ Số loại giao tử phụ thuộc vào số cặp gen dị hợp tử.
+ Tỷ lệ mỗi loại giao tử phụ thuộc vào vị trí các cặp gen trên NST, tần số hoán vị gen.
Xác định tổ hợp kiểu gen ở F
+ Cơ sở tế bào học : Do sự tổ hợp ngẫu nhiên của các NST trong cặp tương đồng trong thụ tinh dẫn đến sự tổ hợp của các cặp gen tương ứng.
+ Tỷ lệ mỗi loại bằng tích tỷ lệ 2 loại giao tử tạo nên tổ hợp đó.
Xác định tổ hợp kiểu hình ở F
+ Kiểu gen tương tác với môi trường quy định kiểu hình
+ Kiểu gen và kiểu tương tác cho kiểu hình cụ thể.
+ Kiểu hình của thế hệ trước và thế hệ sau có quan hệ lôgic với nhau.
+ Tỷ lệ mỗi loại kiểu hình của F phụ thuộc vào số cặp tính trạng nghiên cứu và kiểu di truyền.
CHƯƠNG 2 : BIỆN PHÁP HÌNH THÀNH KỸ NĂNG
GIẢI BÀI TẬP QUY LUẬT DI TRUYỀN
2.1. Quy trình chung
Các kỹ năng giải bài tập QLDT phải được hình thành dần dần trong quá trình học về các QLDT. Theo quy luật nhận thức , để rèn luện kỹ năng giải bài tập cần phải đi từ đơn giản đến phức tạp, từ những bài tập sử dụng ít kỹ năng đơn lẻ đến những bài tập cần sử dụng nhiều kỹ năng phối hợp với nhau.
Do vậy quy trình chung để hình thành kỹ năng giải bài tập QLDTcó thể tiến hành theo các bước sau (Sơ đồ 2):
Bước 1 :
 









Các ý kiến mới nhất