Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM - PHƯƠNG PHÁP DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1 - Nguyen Thi Ly

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Lý
Ngày gửi: 15h:00' 11-03-2017
Dung lượng: 127.5 KB
Số lượt tải: 100
Số lượt thích: 0 người

PHÒNG GD&ĐT TÂN HỒNG
TRƯỜNG TH NGUYỄN HUỆ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc





SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHƯƠNG PHÁP DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1

Phần I
Khái quát về bản thân

1- Họ tên : Nguyễn Thị Lý , năm sinh : 1970 ,Giới tính : Nữ
2- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Nguyễn Huệ, huyện Tân Hồng.
3. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: ĐHGDTH
4- Chức vụ: giáo viên
5. Nhiệm vụ được giao: dạy lớp

Phần II
Nội dung sáng kiến, giải pháp
1. Thực trạng tình hình tập thể, cá nhân trước khi đăng ký sáng kiến, giải pháp.
1.1. Thực trạng tình hình đơn vị

Trong quá trình giảng dạy ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp 1, tôi nhận thấy hầu như giáo viên nào cũng phàn nàn khi dạy đến phần giải toán có lời văn ở lớp 1. HS rất lúng túng khi nêu câu lời giải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số. Những tiết đầu của giải toán có lời văn mỗi lớp chỉ có khoảng 25% số HS biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi Cô hỏi lại lại không biết để trả lời . Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn. GV phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến phần này.
1.2. Thực trạng của bản thân
Đầu năm học 2015 – 2016 Tôi được BGH phân công tôi dạy lớp 1A2 có tổng số 30 học sinh. Trong đó có 18 học sinh nữ và 14 hs nam . Gia đình các em đều làm nghề nông nghiệp , sự quan tâm kèm cặp còn hạn chế. Nhiều em hoàn cảnh gia đình khó khăn, một số em bố mẹ đi làm ăn xa phải ở với ông bà nên việc học tập của các em thực sự chưa được quan tâm. Tuy điều kiện như vậy song bản thân Cô giáo chủ nhiệm cùng tập thể lớp 1A2 luôn nỗ lực rèn luyện và phấn đấu đạt nhiều thành tích trong các phong trào thi đua của nhà trường.
Qua nghiên cứu nội dung sách giáo khoa đối chiếu với việc giảng dạy ở trên lớp, kết hợp trao đổi với đồng nghiệp lâu năm chúng tôi rút ra nhận định chung như sau:
Với dạng toán: “Giải toán có lời văn lớp1” khi dạy giáo viên và học sinh còn có một số tồn tại :
Giáo viên chưa yêu cầu học sinh đọc kĩ bài toán, xem bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì?
Học sinh còn hổng kiến thức, giải toán có lời văn còn lơ mơ . Học sinh chưa biết điền phần bài toán cho biết vào tóm tắt của bài toán. Đặc biệt nhiều em chưa biết viết câu lời giải khi giải bài toán.
Trước thực trạng đó, tôi tiến hành khảo sát môn toán dạng bài : “Giải toán có lời văn lớp1”
LỚP 1A2
 SĨ SỐ HS
HOÀN THÀNH
 CHƯA HOÀN THÀNH


 32
 14
 18


2. Nội dung sáng kiến và giải pháp thực hiện
- Đối với học sinh lớp 1 việc giải toán gồm;
- Giới thiệu bài toán đơn
- Giải bài toán đơn về phép cộng, phép trừ.Chủ yếu là bài toán thêm, bớt một số đơn vị.
- Mới làm quen với môn toán, với các phép tính cộng, trừ lại tiếp xúc với việc giải toán có lời văn, không khỏi có những bỡ ngỡ với học sinh.
- Để giúp học sinh dần dần phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới giúp học sinh yêu thích say mê giải toán. Chúng tôi đã lựa chọn được một số biện pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh.
Điều chủ yếu của việc dạy học giải toán là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm trong điều kiện bài toán mà thiết lập các phép tính số học tương ứng, phù hợp. Để tiến hành được điều đó việc dạy toán diễn ra theo 3 mức độ:
-Mức độ thứ nhất : Hoạt động chuẩn bị của giáo viên.
-Mức độ thứ hai : Hoạt động làm quen với việc giải toán.
-Mức độ ba : Hoạt động hình thành kĩ năng giải toán.
Để học sinh nắm vững được các bước của quá trình giải toán. chúng tôi đã tiến
 
Gửi ý kiến