Lich sử địa phương

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Vượng
Ngày gửi: 00h:50' 17-03-2010
Dung lượng: 28.5 KB
Số lượt tải: 44
Nguồn:
Người gửi: Phạm Văn Vượng
Ngày gửi: 00h:50' 17-03-2010
Dung lượng: 28.5 KB
Số lượt tải: 44
Số lượt thích:
0 người
lịch sử
Thiệu hoá
I. mục tiêu
Sau bài học HS nắm được một số thông tin về dấu tích người Việt cổ và truyền thống yêu nước thương dân của con người Thiệu Hoá.
II. Hoạt động dạy và học
1. Giới thiệu bài: GV nêu mục tiêu của bài
2. Tìm hiểu về đất nước và con người Thiệu Hoá
- GV cho HS trình bày KQ điều tra mà GV đã dặn ở tiết trước.
- GV trình bày các thông tin về đất nước và con ngưòi Thiệu Hoá để HS nắm:
a/ Dấu tích người Việt cổ
Lưu vực sông Mã, sông Chu và các dải núi sót phân bố ở đôi bờ hai con sông từ thời Cánh tân đã có con người sinh sống. Dấu vết của người vượn cũng như những công cụ của họ đã tìm thấy ở núi Dọ (Thiệu Tân), núi Nuông (Tiên Nông – Thiệu Long).
Người nguyên thuỷ ở núi Đọ, núi Nuông đã dùng đá đẽo đá. Họ sống chủ yếu bằng hái lượm và săn bắt. Cuộc sống của họ cứ thế trải qua hàng vạn năm, cứ sinh sôi nảy nở và sáng tạo.Mở đầu thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, sông Chu lớp cư dân Cồn Chân Tiên nằm sát chân phía đông nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cửu Chân trong nhà nước Văn Lang.
Từ văn hoá Cồn Chân Tiên, người dân Thiệu Hoá đã bước vào nền văn hoá Đông Sơn với các chứng tích tìm thấy ở Thiệu Dương. Tại đây, ngoài rìu đồng được con người sử dụng để khai phá đất đai, đã có thêm những công cụ bằng đồng, bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi liềm, mai, thuổng và đặc biệt là lưỡi cánh bướm. Những công cụ bằng đồng và nguồn sức kéo trên cho phép họ mở rộng diện tích trồng trọt trên quy mô lớn, làm cho nông nghiệp có bước đầu phát triển.Các nghề đánh cá, đan lát, gốm , đồng đã xuất hiện.
b/ Văn hoá- xã hội và truyền thống yêu nước thương dân.
Từ thời Trần, Nho giáo ở Thiệu Hoá đã có một vị trí khá vững chắc ở địa phương. Chính ngay mảnh đất Bối Lí nơi có chùa Hương Nghiêm đã sản sinh ra Lê Văn Hưu, người giành học vị Bảng nhãn khoa thi năm 1247. Thời Trần còn sản sinh ra Đào Tiêu,đỗ trạng nguyên khoa thái học năm ất Hợi(1275) và Lê Quát, đỗ thái học sinh đời vua Trần Minh Tông. Sang thời Lê, giáp Bối Lí vẫn giữ được truyền thống khoa bảng cử nghiệp của mình với 5 vị đại khoa. Một số làng khác như Đại Bối, Vãn Hà, Lam Sơn cũng trở thành những làng có truyền thống hiếu học, trong thời Nguyễn còn có 35 vị cử nhân. Truyền thống hiếu học đến nay vẫn được nhân dân Thiệu Hoá phát huy.
Tóm lại: Yêu nước, thương dân là là một truyền thống đẹp được tôi luyện và thử thách qua nhiều thế kỉ đã trở thành một đặc trưng của người Thiệu Hoá.
Thiệu Hoá là một trong những cái nôi của người Việt cổ, với truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống chống giặc ngoại xâ
Thiệu hoá
I. mục tiêu
Sau bài học HS nắm được một số thông tin về dấu tích người Việt cổ và truyền thống yêu nước thương dân của con người Thiệu Hoá.
II. Hoạt động dạy và học
1. Giới thiệu bài: GV nêu mục tiêu của bài
2. Tìm hiểu về đất nước và con người Thiệu Hoá
- GV cho HS trình bày KQ điều tra mà GV đã dặn ở tiết trước.
- GV trình bày các thông tin về đất nước và con ngưòi Thiệu Hoá để HS nắm:
a/ Dấu tích người Việt cổ
Lưu vực sông Mã, sông Chu và các dải núi sót phân bố ở đôi bờ hai con sông từ thời Cánh tân đã có con người sinh sống. Dấu vết của người vượn cũng như những công cụ của họ đã tìm thấy ở núi Dọ (Thiệu Tân), núi Nuông (Tiên Nông – Thiệu Long).
Người nguyên thuỷ ở núi Đọ, núi Nuông đã dùng đá đẽo đá. Họ sống chủ yếu bằng hái lượm và săn bắt. Cuộc sống của họ cứ thế trải qua hàng vạn năm, cứ sinh sôi nảy nở và sáng tạo.Mở đầu thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, sông Chu lớp cư dân Cồn Chân Tiên nằm sát chân phía đông nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cửu Chân trong nhà nước Văn Lang.
Từ văn hoá Cồn Chân Tiên, người dân Thiệu Hoá đã bước vào nền văn hoá Đông Sơn với các chứng tích tìm thấy ở Thiệu Dương. Tại đây, ngoài rìu đồng được con người sử dụng để khai phá đất đai, đã có thêm những công cụ bằng đồng, bằng sắt như lưỡi cày, lưỡi liềm, mai, thuổng và đặc biệt là lưỡi cánh bướm. Những công cụ bằng đồng và nguồn sức kéo trên cho phép họ mở rộng diện tích trồng trọt trên quy mô lớn, làm cho nông nghiệp có bước đầu phát triển.Các nghề đánh cá, đan lát, gốm , đồng đã xuất hiện.
b/ Văn hoá- xã hội và truyền thống yêu nước thương dân.
Từ thời Trần, Nho giáo ở Thiệu Hoá đã có một vị trí khá vững chắc ở địa phương. Chính ngay mảnh đất Bối Lí nơi có chùa Hương Nghiêm đã sản sinh ra Lê Văn Hưu, người giành học vị Bảng nhãn khoa thi năm 1247. Thời Trần còn sản sinh ra Đào Tiêu,đỗ trạng nguyên khoa thái học năm ất Hợi(1275) và Lê Quát, đỗ thái học sinh đời vua Trần Minh Tông. Sang thời Lê, giáp Bối Lí vẫn giữ được truyền thống khoa bảng cử nghiệp của mình với 5 vị đại khoa. Một số làng khác như Đại Bối, Vãn Hà, Lam Sơn cũng trở thành những làng có truyền thống hiếu học, trong thời Nguyễn còn có 35 vị cử nhân. Truyền thống hiếu học đến nay vẫn được nhân dân Thiệu Hoá phát huy.
Tóm lại: Yêu nước, thương dân là là một truyền thống đẹp được tôi luyện và thử thách qua nhiều thế kỉ đã trở thành một đặc trưng của người Thiệu Hoá.
Thiệu Hoá là một trong những cái nôi của người Việt cổ, với truyền thống văn hoá đặc sắc, truyền thống chống giặc ngoại xâ
 









Các ý kiến mới nhất