Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

skkn

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: suu tam
Người gửi: Đang bị khóa
Ngày gửi: 21h:23' 02-06-2008
Dung lượng: 777.0 KB
Số lượt tải: 33
Số lượt thích: 0 người


Phòng giáo dục đào tạo huyện vĩnh bảo
Trường thcs tam đa
*****@*****


skkn
Môn: địa lí









Ngời thực hiện: Nguyễn Thị Lan Đơn vị công tác: Trờng T HCS Tam Đa






Năm học: 2007 – 2008



Nên quan niệm và sử dụng sách Giáo Khoa như thế nào cho hợp lý trong giảng dạy Địa lý THCS.

PhầnI : Đặt vấn đề
Mặc dù vấn đề sử dụng sách giáo khoa đã đặt ra từ lâu nhưng trong quá trình giảng dạy Địa lý nhiều giáo viên vẫn thấy khó khăn và lúng túng trong việc vận dụng sách, để giảng dạy, nhiều học sinh chưa có thói quen, kỹ năng dùng sách giáo khoa để học tập. Mà yêu cầu sử dụng sách giáo khoa để giảng dạy và học tập là thực hiện pháp lệnh Nhà nước.
Thật vậy: Sách giáo khoa một tài liệu tổng hợp và quan trọng nhất đối với tất cả môn học trong đó có môn Địa lý. Trong sách giáo khoa đã thể hiện một hệ thống và khối lượng nhất định các kiến thức Địa lí của một chương trình, của từng lớp, từng cấp học cụ thể, theo quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước. Sách giáo khoa là một phương tiện có ý nghĩa lớn, đặc biệt khi hình thành kiến thức mới, khi củng cố ôn tập cả khi rèn luyện kỹ năng kỹ xảo cho học sinh. Sách giáo khoa là nguồn thông tin để học sinh khai thác kiến thức. Cụ thể:
1.Đối với giáo viên:
Sách giáo khoa là công cụ không thể thiếu được để có thể hoàn thành nhiệm vụ giáo dục học sinh của mình qua bộ môn Địa lý. Sách giúp cho giáo viên thực hiện chương trình một cách thống nhất trong cả nước, trau dồi cho học sinh những kiến thức chính xác,đầy đủ, rõ ràng, có hệ thống tạo điều kiện cho giáo viên giảm nhẹ cường độ lao động mà vẫn đạt được hiệu quả giáo dục cao
2.Đối với học sinh:
Sách giáo khoa có giá trị nhiều mặt. Trước hết nó là công cụ truyền thông tin đến các em, những kiến thức cơ bản hoàn chỉnh theo hệ thống nhất định,sách giáo khoa còn là phương tiện giúp học sinh tự tìm hiểu: Các em có thể tìm thấy trong sách có những điểm, có những vấn đề mà giáo viên vì lí do này hay lí do khác không thể không đề cập hoặc trình bầy sơ lược ở lớp. Sách có thể bổ sung, mở rộng nâng cao trình độ hiểu biết cho các em. Như vậy sách giáo khoa còn làm cả chức năng “công cụ phát hiện” dẫn dắt các em “khám phá” ra nhiều sự vật hiện tượng

và quá trình xẩy ra ở nơi này hay nơi khác trên đất nước ta hay trên thế giới. Học sinh có thể xem kỹ các bản đồ, hình ảnh trong sách giáo khoa từ đó phát hiện ra nhiều chi tiết lý thú của các sự vật hiện tượng địa lý.
Ví dụ: - Vị trí chính xác của một thành phố, hải cảng ven biển.
-Hình thái đặc điểm của một bờ biển….
Tất cả đều có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tư duy ở học sinh. Trong sách giáo khoa, các phương tiện trực quan phong phú về thể loại góp phần giáo dục thẩm mĩ, rèn luyện cho học sinh nhiều thói quen, kỹ năng cần thiết.
Tuy nhiên có công cụ tốt( SGK ) là một việc, sử dụng công cụ tốt đó như thế nào để làm ra một sản phẩm có giá trị lại là cả một vấn đề cần quan tâm. Vì sách giáo khoa hiện nay phục vụ cho cả đối tượng:giáo viên và học sinh ,giúp họ hoàn thành hai nhiệm vụ độc lập trong một thể thống nhất là giáo dục và học tập. Làm thế nào để SGK phát huy tác dụng cao nhất đó là nội dung chính của vấn đề cần giải quyết.
Qua thực tế giảng dạy Địa lý ở nhà trường Trung học cơ sở từ năm 1993 đến nay tôi xin được phép trao đổi một số vấn đề cần thiết trong quá trình thực hiện:
Yêu cầu sử dụng SGK để giảng dạy và học tập Địa lý ở nhà trường Trung học cơ sở .










Phần hai:Nội dung:
A.Để sử dung SGK có hiệu quả trứơc hết chúng ta cần hiểu những đặc điểm chung nhất về SGK địa lý trong nhà trường THCS .
1.Hiện nay sách giáo khoa được viết bằng gam màu hấp dẫn, đẹp thu hút học sinh,sách viết mở để trống nhiều bài chohọc sinh tham gia trực tiếp vào quá trình học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Ví dụ: Bài 19-Khí áp và gió.(Lớp6). Mục 1- phần b:Các đai khí áp.
Học sinh tự phát hiện sự phân bố khí áp qua kênh hình(phân bố xen kẽ)
2.Cấu trúc chung sách gồm 3 phần:
a.Phần đầu: Bài mở đầu.
b.Phần giữa ( phần chính ) viết các chương, bài.
+ Cấu trúc chương: Tên chương,hình ảnh,lời dẫn
+ Cấu trúc bài: Trong từng bài có lời dẫn ( định hướng nội dung), cuối bài là các kiến thức cơ bản cần ghi nhớ, câu hỏi cuối bài là các câu hỏi củng cố kiến thức rèn kỹ năng là phần kiểm tra học sinh. Cuối mỗi bài có một số bài đọc thêm ,mục đích bổ sung cho bài học chính (HS đọc thêm ở nhà).
Nội dung các bài đảm bảo hợp lý giữa bài lý thuyết và thực hành, bố trí hỗ trợ nhau. Bài lý thuyết nhiệm vụ trọng tâm trang bị kiến thức mới đồng thời góp phần rèn kỹ năng địa lý. Bài thực hành nhiệm vụ chủ yếu rèn kỹ năng đồng thời bổ sung kiến thưc ,số bài thực hành ngày càng nhiều.
Cấu trúc bài cho phép giáo viên tiến hành giảng dạy dựa trên hoạt động tích cực của thầy và trò.
c.Phần cuối: bảng tra cứu thuật ngữ.
3.Sách giáo khoa gồm kênh chữ kênh hình.
Kênh hình nhiều hơn không hoàn toàn là minh hoạ mà là khai thác kiến thức, là cơ sở hình thành kỹ năng. Hỗ trợ việc cung cấp kiến thức, giảm tính trìu tượng góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá từ đó giúp giáo viên hướng dẫn học sinh, học kiến thức mới, rèn kỹ năng, hỗ trợ giáo viên trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng.

*Trong cấu trúc bài viết với mục đích;
+ Cung cấp thông tin : qua kênh chữ, kênh hình.
+ Sử lý thông tin: Qua hệ thống câu hỏi, bài tập.
+ Bài tập về nhà,học sinh tự tiếp cận, tự tiếp thu kiến thức đơn giản, câu hỏi ngắn gọn thay lời viết giúp học sinh phát huy tính tích cực chủ động trong quá trình học tập, học sinh nắm vững kiến thức hơn, thiết lập mối quan hệ và phụ thuộc, vân dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
Sơ đồ cấu trúcSGK.

B.Sau khi đã nắm được sơ đồ cấu trúc SGK – Trong quá trình giảng dạy tôi đã tiến hành các bước sau:
I.Sách giáo khoa là tài liệu chính đểgiáo viên xây dựng nội dung và nắm chắc yêu cầu giảng dạy .
1.Nắm chắc nội dung sách giáo khoa để xác định kiến thức cơ bản của bài .
Nội dung sách giáo khoa có tính chất pháp lệnh nên trong quá trình giảng dạygiáo viên phải dựa vào sách giáo khoa là chủ yếu. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ sách giáo khoa để nắm chắc nội dung cần truyền đạt, tìm ra những kiến thức , khái

niệm cơ bản, mối liên hệ giữa các kiến thức bài giảng với bài khác trong chương, mối liên hệ giữa các kiến thức trong các chương.
-Căn cứ sách giáo khoa , giáo viên xác định mức độ yêu cầu của mối liên hệ giữa các kiến thức thấy kiến thức nào học sinh đã có, kiến thức nào khó, kiến thức nào mới với bài giảng. Từ đó chỗ nào cần tập chung giảng kỹ, chỗ nào khai thác dựa vào vốn hiểu biết, chỗ nào cần giải thích qua và xác định các kỹ năng cần rèn luyện, cần giáo dục vấn đề gì?
2.Dựa vào sách giáo khoa , giáo viên định mức khai thác tài liệu đúng chương trình-sát trình độ học sinh.
Ví dụ: - Khi dạy bài 24 - Địa lý 6. Dạy về “các dòng biển” nội dung sách không có phần giải thích nguyên nhân hình thành. Vì vậy giáo viên có cần phải giải thích không? ở trong trường hợp này giáo viên không cần giải thích nguyên nhân mà chỉ cần miêu tả các dòng biển, cho học sinh nhận rõ hai loại dòng biển: Dòng nóng, dòng lạnh, ký hiệu dòng biển và học sinh nhận biết một số dòng biển trên đại dương thế giới ,những ảnh hưởng của từng loại(dòng biển) đối với các yếu tố tự nhiên đặc biệt là khí hậu.
3.Làm sáng tỏ ý trong sách giáo khoa và bổ sung cho sách giáo khoa.
a. Nghiên cứu sách giáo khoa để thấy được những nội dung cần phân tích, giải thích như:
*Giải thích và phân tích khái niệm sông suối, hồ đầm(Lứp6)
Ví dụ: -Nếu chỉ trình bày khái niệm sông suối như sách giáo khoa “dòng chảy thường xuyên và tương đối ổn định trên bề mặt lục địa” bài 23-Địa lý 6 thì chưa được ở đây giáo viên cần giải thích rõ hơn “dòng chảy thường xuyên” phân biệt với dòng chảy tạm thời không cố định,‘ chảy trên mặt đất(lục địa)” phân biệt với dòng hải lưu “chảy trên biển”
*Dựa kiến thức có liên quan để giải thích sự vật hiện tượng trong bài nêu ra.
Ví dụ:-Dạy bài 27- Thiên nhiên châu Phi- địa lý 7.
-Để giải thích khí hậu châu Phi khô nóng, học sinh cần phải dựa vào vị trí hình dạng bờ biển châu Phi.
-Hoặc dựa vào khí hậu,địa hình để giải thích đặc điểm sông của một khu vực.

*Phân tích (đánh giá) ảnh hưởng của sự vật hiện tượng địa lý đối với đời sống sản xuất.
Ví dụ: -Phân tích ảnh hưởng của yếu tố khí hậu đối với đời sống ,sản xuất của con người.
-Giá trị kinh tê
 
Gửi ý kiến