Tìm kiếm Giáo án
Giáo án cả năm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Kim Thoa
Ngày gửi: 09h:07' 19-06-2024
Dung lượng: 166.0 KB
Số lượt tải: 203
Nguồn:
Người gửi: Vũ Kim Thoa
Ngày gửi: 09h:07' 19-06-2024
Dung lượng: 166.0 KB
Số lượt tải: 203
Số lượt thích:
0 người
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Căn cứ Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 của Chính phủ về
việc Ban hành Điều lệ sáng kiến; Căn cứ Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN
ngày 01/08/2013 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hướng dẫn thi
hành một số quy định của Điều lệ sáng kiến được ban hành theo Nghị định số
13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 của Chính phủ; Căn cứ Quyết định số
03/2023/QĐ-UBND ngày 03/02/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ban hành
Quy định quản lý hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Thực hiện
Hướng dẫn số 01/HD-HĐSK ngày 05/6/2017 của Hội đồng xét, công nhận
sáng kiến huyện Yên Lập về việc tổ chức xét, công nhận sáng kiến cấp cơ sở.
Sau nhiều năm thực hiện chương trình sách giáo khoa theo tinh thần đổi
mới phương pháp dạy học chúng ta đã đạt được những kết quả như: giáo viên
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, học sinh tích cực chủ động tiếp nhận
kiến thức. Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy việc đổi mới phương pháp, phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giờ học các
bài địa lí đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ cả quá trình dạy học từ mục tiêu,
nội dung, phương pháp, phương tiện, đồ dùng dạy học, học tập đến việc tổ chức
đánh giá học sinh và đổi mới cách dạy học trên lớp. Như vậy, học sinh từ hiểu
đúng sẽ dẫn đến hành động đúng và từ thực tiễn sinh động để hiểu nội dung bài
học sâu sắc hơn. Chương trình sách giáo khoa địa lí 9 được biên soạn theo tinh
thần cung cấp các tình huống, các thông tin đã được lựa chọn để giáo viên có
thể tổ chức, hướng dẫn cho học sinh phân tích, tổng hợp và xử lí thông tin, tạo
điều kiện cho học sinh trong quá trình học tập vừa tiếp nhận được các kiến thức,
vừa rèn luyện được các kỹ năng và nắm được phương pháp học tập. Đặc biệt
phần “Sự phân hóa lãnh thổ” bắt buộc học sinh khai thác kiến thức tổng hợp về
các vùng kinh tế, bao gồm: Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ; Điều kiện tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên; Đặc điểm dân cư, xã hội; Tình hình phát triển kinh tế
(Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ); Các trung tâm kinh tế và vùng kinh tế
trọng điểm.
2
Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy trên lớp và cải tiến những
phương pháp giảng dạy học bộ môn địa lí theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh, qua thời gian học tập, giảng dạy và tham khảo tài liệu, tôi đã
mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khi
hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ trong chương
trình Địa lí 9 ở trường THCS Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” nhằm
tìm ra những biện pháp tốt nhất trong giảng dạy bộ môn địa lí, mong nhận được
sự góp ý, xây dựng của tất cả các anh chị, bạn bè đồng nghiệp.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TẠO RA SÁNG KIẾN
Đối với sáng kiến kinh nghiệm này tôi sử dụng các phương pháp
1- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
2- Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu việc khai thác kiến thức của học sinh
trong các giờ học về “Sự phân hóa lãnh thổ” trong chương trình Địa lí 9.
3- Phương pháp điều tra: nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh còn
yếu - kém khi khai thác kiến thức về “Sự phân hóa lãnh thổ” trong chương trình
Địa lí 9.
4- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết quả các bài
kiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả kỹ năng sử dụng, khai thác kiến
thức địa lí của học sinh.
III. CÁC MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC
Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ nhằm
phát hiện ra những cách tiếp cận mới để chú ý phát triển tư duy địa lí cho học
sinh có hiệu quả hơn, học sinh được học tập theo hướng tích cực, phát huy được
khả năng sáng tạo, tự mình tìm ra kiến thức địa lí từ việc khai thác kết hợp giữa
kênh chữ và kênh hình với sự hướng dẫn, cố vấn của giáo viên … Từ đó tạo cho
các em có lòng say mê, tìm tòi và khám phá những chân trời tri thức mới.
3
CHƯƠNG II. MÔ TẢ SÁNG KIẾN
I. VẤN ĐỀ CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng vấn đề khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ
trong chương trình Địa lí 9
1.1. Thuận lợi
Trường THCS Xuân Thủy trong những năm học gần đây đã có sự chuyển
biến rõ rệt về chất lượng giáo dục, nhà trường luôn được sự quan tâm, giúp đỡ
của chính quyền địa phương và cộng tác giúp đỡ của các ban ngành, đặc biệt
trường luôn được sự chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục và đào tạo huyện.
*Đối với giáo viên: Được đào tạo chuẩn và trên chuẩn, có năng lực, nhiệt
tình trong giảng dạy, có ý thức chấp hành kỉ luật tốt và quan trọng là nắm được
phương pháp giảng dạy, quan tâm đến việc phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh; có ý thức học hỏi, soạn bài đầy đủ, kí duyệt hàng tuần đúng quy định.
Đặc biệt giáo viên đã chú trọng đến phương pháp đặc trưng của bộ môn và sử
dụng thiết bị, đồ dùng dạy học khi lên lớp. Đồng thời trong năm học 2023- 2024
nhà trường đã trang bị đầy đủ máy chiếu, ti vi ở tất cả các lớp học tạo điều kiện
để giáo viên có cơ hội ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
*Đối với học sinh: Trong những năm gần đây việc học bộ môn Địa lý đã
được học sinh quan tâm hơn, có đủ các phương tiện để phục vụ cho học tập đặc
biệt là vở bài tập, tập bản đồ, Atlat địa lí, sách tham khảo ... Học sinh đã quen
thuộc với cách học mới, tích cực chủ động hơn trong việc phát hiện kiến thức,
có ý thức tự giác trong làm bài tập, chuẩn bị bài mới. Qua kiểm tra và chấm vở
bài tập của học sinh cho thấy phần lớn học sinh đã đầu tư thời gian cho việc làm
bài tập, làm bài đầy đủ có chất lượng, chịu khó tìm tòi những kiến thức thực tế
khi giáo viên yêu cầu.
1.2. Khó khăn
* Đối với giáo viên: Tuy nhiên, mặc dù các thiết bị đã được nhà trường
đầu tư nhưng không thể đầy đủ vì số lượng biểu đồ, lược đồ trong sách giáo
khoa có rất nhiều. Hơn nữa, đa phần các thiết bị đã được cung cấp từ nhiều năm
trước nên có nhiều thiết bị đã bị hư hỏng không thể sử dụng được.
4
* Đối với học sinh: Một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, thiếu
tính tích cực chủ động trong học tập đặc biệt là trong việc hoạt động nhóm. Một
số học sinh lười học bài cũ, không chịu khó trong việc làm bài tập ở nhà, thậm
chí còn mượn vở bài tập của bạn để chép lại một cách thụ động.
Tỉ lệ học sinh khá- giỏi còn khiêm tốn; tỉ lệ học sinh yếu kém ở khối 9 về
môn Địa lý là 1/71 em (1,4 %); số HSG văn hóa cấp huyện: 0= 0%.
2. Tồn tại, hạn chế
Khi được yêu cầu thực hiện các thao tác khai thác kiến thức dựa vào kênh chữ
và kênh hình thì học sinh đều tỏ ra lúng túng. Tôi đã yêu cầu học sinh thực hiện một
số kĩ năng từ đơn giản đến khó hơn, phần lớn học sinh chưa có kĩ năng tự khai thác
kiến thức. Một số nhỏ học sinh khá giỏi đã thực hiện được kĩ năng khai thác kiến
thức đơn giản đơn giản như đọc tên, xác định vị trí các vùng kinh tế trên bản đồ, dựa
vào kênh chữ để nêu các đặc điểm nổi bật về tự nhiên cũng như kinh tế- xã hội của
từng vùng kinh tế. Theo như quan sát thì những học sinh này rất chủ động trong các
giờ học địa lí, nhất là mỗi khi giáo viên yêu cầu làm việc với Atlat Địa lí, các em rất
hăng hái và chủ động khai thác các thông tin, tuy nhiên khi yêu cầu kĩ năng cao hơn
như khái quát hoặc phân tích các đặc điểm của đối tượng, liên hệ các thông tin để rút
ra nhận xét, hoặc phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên tới phát triển kinh tếxã hội, giải thích thế mạnh nổi bật của từng vùng kinh tế thì học sinh chưa làm được.
3. Nguyên nhân
Đối với học sinh lớp 9 đây là lớp cuối cấp, mục tiêu của các em là thi đỗ
vào THPT nên bản thân các em và gia đình chỉ chú trọng vào 3 môn: Văn,
Toán và Ngoại ngữ, dẫn đến nhiều học sinh coi Địa lí là môn học phụ, các em
chỉ dành nhiều thời gian cho môn học chính, đến giờ Địa lí các em thường đối
phó, thiếu tập trung, tiếp thu một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức
một cách máy móc mà chưa rèn luyện tư duy dẫn đến ngại học, chán học, các
em không phát huy được tư duy sáng tạo của mình, không đáp ứng được mục
tiêu bài học đề ra.
5
4. Tính cấp thiết cần hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự
phân hóa lãnh thổ trong chương trình Địa lí 9
Với học sinh các trường ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn như trường
THCS Xuân Thuỷ đa phần là học sinh dân tộc thiểu số thì việc hướng dẫn học
sinh khai thác kiến thức địa lí trong một bài học gặp không ít khó khăn, đa phần
các em thực hiện vẫn còn chậm, mất nhiều thời gian khiến cho việc so sánh,
đánh giá kết quả giữa các tổ, nhóm hoặc cá nhân với nhau còn rất hạn chế. Từ
đó cũng ảnh hưởng nhiều tới thời gian hoàn thành bài học của học sinh, bởi
thông thường sau khi khai thác kiến thức, học sinh còn phải nhận xét, đánh giá,
giải thích các hiện tượng địa lí và rút ra kiến thức nội dung cơ bản của bài học.
Phần địa lí “Sự phân hóa lãnh thổ” là kiến thức tổng hợp, liên quan đến
tình hình thực tế của địa phương, học sinh nhận thức được vai trò và thế mạnh
của từng vùng trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước, từ đó giúp học
sinh có thể định hướng nghề nghiệp đúng đắn trong tương lai, để các em
không bỡ ngỡ trước những hoạt động phức tạp, đa dạng của cuộc sống. Qua
bức tranh toàn cảnh về tự nhiên và kinh tế, xã hội của các vùng khác nhau
trong cả nước, học sinh sẽ nắm được kiến thức và biết cách giải thích các hiện
tượng, các mối quan hệ đã tạo nên sự thay đổi và phát triển trong môi trường
tự nhiên cũng như trong nền kinh tế, xã hội đặc biệt là trong giai đoạn chuyển
hướng kinh tế của đất nước hiện nay. “Sự phân hóa lãnh thổ” có vị trí quan
trọng trong chương trình môn địa lí nói chung và địa lí lớp 9 nói riêng, theo
chương trình bài địa lí vùng kinh tế (trừ các bài thực hành) trong chương
trình địa lí lớp 9 chiếm tới 39,5% (17 bài trong tổng số 43 bài), là nội dung
chính của nửa cuối học kì I và nửa đầu học kì II ở lớp 9. Theo ma trận đề khảo
sát cuối lớp 9, thi học sinh giỏi các cấp và thi vào chuyên Hùng Vương tỉ lệ
kiến thức về “Sự phân hóa lãnh thổ” chiếm khoảng 40% tổng toàn bài. Đây là
một thách thức lớn đối với mỗi học sinh nếu các em không được trang bị đầy
đủ các kiến thức, kĩ năng cần thiết khi làm bài kiểm tra. Hơn nữa, thông qua
kiến thức học tập các bài này học sinh còn có khả năng thực hiện tốt các bài
6
tập về đọc Atlat Địa lí Việt Nam, nhận xét số liệu, biểu đồ, phân tích lược
đồ ... để lấy thêm điểm bài thi.
Từ những lí do trên, tôi đã thực hiện sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự
phân hóa lãnh thổ trong dạy học Địa lí 9 ở trường THCS Xuân Thủy” để góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Địa lí ở trường THCS.
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Các giải pháp đã tiến hành
1.1. Điều tra khảo sát chất lượng
a. Tại trường THCS Xuân Thủy
+ Kết quả học kì I năm học 2022- 2023: Tổng số HS khối 9 là 71 HS.
Trong đó:
Giỏi: 7= 9,8 %
Khá: 32= 45,2 %
Tb:
31= 43,6 %
Yếu: 1 = 1,4 %
HSG văn hóa cấp huyện: 0 HS
+ Điều tra ban đầu về việc HS có thể tự khai thác kiến thức phục vụ cho
học tập:
. Biết đọc và khai thác kiến thức để nhận biết đối tượng địa lí: 39/71 HS=
48,4%
. Biết cách nhận xét và giải thích sau khi khai thác kiến thức: 24/71= 40,8%
. Có Atlat Địa lí: 11/71= 15,5%
b. Tại trường THCS Thị Trấn I
Tôi đã sử dụng phiếu khảo sát (Có đính kèm) tại lớp 9A của trường
. Biết đọc và khai thác kiến thức để nhận biết đối tượng địa lí: 19/39 HS=
48,7%
. Biết cách nhận xét và giải thích sau khi khai thác kiến thức: 14/39= 35,9%
. Có Atlat Địa lí: 11/39= 28,2%
7
Kết quả khảo sát cho thấy nhìn chung các em tiếp nhận môn địa lí còn rất
thấp, vẫn còn hiện tượng học sinh xem nhẹ môn địa lí, các em coi môn địa lí là
môn học phụ. Do vậy mà các em chỉ học lấy lệ nên kĩ năng tự khai thác kiến
thức và sử dụng kiến thức đã khai thác phục vụ cho học tập còn rất yếu.
1.2. Xây dựng kế hoạch dạy học và kế hoạch bài dạy (Giáo án)
Kế hoạch bài dạy (KHBD) là dàn ý lên lớp của GV, bao gồm: đề tài bài
học, mục tiêu, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy
và trò … KHBD là bản thiết kế hệ thống các tình huống dạy học được đặt ra từ
nội dung khách quan của bài dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của
học sinh. Bên cạnh đó là hệ thống các hoạt động, thao tác tương ứng với các tình
huống do GV sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm hướng dẫn HS từng bước tiếp cận,
chiếm lĩnh bài học một cách tích cực và sáng tạo. Vậy nên, cho dù là một GV
lâu năm dày dạn kinh nghiệm hay một người mới bước chân vào nghề, thì việc
thiết kế bài dạy như là một giải pháp giúp GV có thể điều chỉnh tiết học theo
đúng lộ trình, trang bị một hành trang đủ và tốt nhằm vận hành tiết học một
cách trơn tru.
Trong một tiết học, sự tương tác giữa GV với HS và giữa HS với HS là
rất quan trọng. Chúng thúc đẩy được tinh thần học tập hăng say, tích cực,
chủ động và mang tính tự giác của người học. Thống kê cảm nhận của các
học sinh qua những tiết giảng dạy của thầy cô, sẽ đánh giá được phương thức
giảng dạy của giáo viên nào là phù hợp, thú vị và hấp dẫn.
Những căn cứ khi xây dựng KHBD bao gồm:
- Căn cứ về mặt lý thuyết: Tài liệu tham khảo, sách dành cho giáo viên,
chuẩn kỹ năng kiến thức, phân phối chương trình giảng dạy.
- Căn cứ trên điều kiện cơ sở vật chất: Tài sản và cơ sở vật chất trong một
lớp học. Bao gồm: Máy trình chiếu (Ti vi), máy tính, thiết bị âm thanh, điều
khiển, bảng, ... nói chung là trang thiết bị phục vụ dạy học.
- Căn cứ trên cơ sở đặc điểm về tiết học, nội dung của từng bài học.
- Căn cứ vào mặt bằng chung khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng học tập
của học sinh.
8
KHBD cần thực hiện theo các bước:
Bước 1. Xác định mục tiêu tiết học: Người học sẽ tiếp nhận được những gì
sau khi kết thúc một tiết học, hay một bài học. Cụ thể về việc tiếp nhận kiến
thức, sự hình thành năng lực và phẩm chất. Dựa trên căn cứ chuẩn kiến thức,
phải xác định được các mức độ chi tiết và cụ thể của tiết học. Các mức độ
bao gồm mức độ biết, mức độ hiểu và mức độ thực hành. Đặc biệt cần đạt
chuẩn sách giáo khoa, sách giáo viên, kỹ năng, kiến thức, năng lực, phẩm
chất theo định hướng từ Bộ Giáo dục.
VD: Mục tiêu bài 17. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
* Kiến thức
- Hiểu được ý nghĩa vị trí địa lí; một số thế mạnh và khó khăn của điều kieenjt ự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm dân cư, xã hội của vùng
- Hiểu sâu hơn sự khác biệt giữa hải tiểu vùng Tây Bắc và Đông Bắc; đánh giá
trình độ phát triển giữa hai tiểu vùng và tầm quan trọng của các giải pháp bảo vệ
môi trường, phát triển kinh tế- xã hội.
- Xác định được ranh giới của vùng, vị trí của một số tài nguyên thiên nhiên
quan trọng trên lược đồ
- Phân tích và giải thích được một số chỉ tiêu phát triển dân cư, xã hội.
* Năng lực
Năng lực chung
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết xác định và làm rõ các thông tin,
ý tưởng mới liên quan đến vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
- Năng lực tự học và tự chủ: Chủ động trong việc tìm kiếm và nghiên cứu các
thông tin về tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Học sinh có khả năng hoạt động nhóm, trình
bày kết quả thực hiện các hoạt động học tập.
Năng lực đặc thù
- Năng lực nhận thức khoa học địa lý: Xác định và phân tích được mối quan hệ
tương hỗ giữa vị trí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên với phát triển
kinh tế- xã hội của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Đồng thời giải thích
9
được mối quan hệ nhân quả giữa điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
với sự phát triển kinh tế của vùng.
- Năng lực tìm hiểu địa lý: Xác định được vị trí, giới hạn vùng Trung du và miền
núi Bắc Bộ trên bản đồ tự nhiên Việt Nam, vị trí 2 tiểu vùng Đông Bắc và Tây
Bắc. Mô tả được đặc điểm tự nhiên từng tiểu vùng, qua đó so sánh được sự
giống và khác nhau giữa 2 tiểu vùng Đông bắc và Tây Bắc. Giải thích và chứng
minh được mối quan hệ giữa phân bố các loại khoáng sản, các nhà máy thủy
điện, nhiệt điện với phát triển kinh tế- xã hội.
- Năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học: Xác định được trên bản đồ vị trí
địa lí và phạm vi lãnh thổ của vùng; trình bày được đặc điểm phân hóa thiên
nhiên giữa Đông Bắc và Tây Bắc; các thế mạnh phát triển công nghiệp, lâm –
nông- thủy sản, du lịch. Vẽ được sơ đồ tư duy thể hiện các thế mạnh về tự nhiên
để phát triển kinh tế- xã hội của vùng. Trình bày được sự phát triển và phân bố 1
trong các ngành kinh tế của vùng (sử dụng bản đồ và bảng số liệu).
* Phẩm chất
- Nhân ái: Tôn trọng, sẻ chia những khó khăn về tự nhiên, kinh tế mà người dân
của vùng núi đang gặp phải.
- Chăm chỉ: Luôn cố gắng vươn lên trong học tập góp phần xây dựng quê hương
đất nước ngày càng giàu đẹp.
Bước 2. Xác định phương pháp chính yếu: Định hướng và xác định được
đâu là cách thức giảng dạy chính yếu được sử dụng trong tiết học. Bên cạnh
đó, cần thiết lập thêm các phương pháp bổ trợ, bên cạnh phương pháp chính,
nhằm đảm bảo tiết học diễn ra thuận lợi. Cần căn cứ trên cơ sở các điều sau
thì mới xác định phương pháp trọng tâm dạy học đúng được: nội dung của
bài học, mặt bằng chung kỹ năng tiếp thu kiến thức của lớp học, hay hạ tầng
dạy học của từng địa điểm cụ thể.
Bước 3. Chuẩn bị thiết bị giảng dạy
- Thiết bị giảng dạy cho giáo viên: Bảng, phấn, máy chiếu, máy tính, sơ
đồ, tranh ảnh, mô hình, điều khiển, tivi, phiếu học tập,...
10
- Thiết bị học cho học sinh: Tài liệu tham khảo, nghiên cứu và sưu tầm
chuẩn bị trước tài liệu,...
Bước 4. Diễn biến tiết học: Trong từng hoạt động, cần phân biệt một cách
cụ thể và chi tiết các hoạt động của học sinh, hoạt động của giáo viên trong
tiết học. Cần định hướng và gắn liền mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động.
Không nên xây dựng quá nhiều, dẫn đến tình trạng không hoàn thành được
kịp tiết học theo thời gian và dư nhân lực. Mỗi hoạt động dạy và học cần
được định hướng cụ thể về thời gian, phân bổ các hoạt động một cách hợp lý,
bám sát vào thời gian giảng dạy cho từng tiết học.
Bước 5. Tổng kết tiết học: Tổng kết lại nội dung bài học bằng cách tóm
lược các thông tin, nhấn mạnh một lần nữa vào các nội dung chính yếu của
bài học. Để thay cho việc tổng kết miệng, giáo viên cũng có thể sử dụng
phiếu đánh giá. Giao bài tập về nhà và những nhiệm vụ cần thực hiện trong
tiết học tiếp theo để học sinh thực hiện. Giới thiệu các hình thức hoặc tư vấn
các tài liệu tham khảo cho học sinh. Nhận xét tổng quan và nhìn nhận bằng
cách đánh giá lại chất lượng tiết học. Điều này có thể giúp giáo viên tiếp
nhận được những phản hồi và nhận xét, nhằm thay đổi hoặc cải thiện phương
pháp dạy học cho những lần tiếp theo.
1.3. Tổ chức dạy học trên lớp
1.3.a. Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phổ biến theo hướng
phát huy tích cực, chủ động học tập của học sinh.
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) hướng tới việc hoạt động
hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy
tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực
của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên
phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Để khắc phục những
nhược điểm thụ động trong học tập của học sinh, giáo viên phải biết cách khai
thác vốn tri thức, kỹ năng và khả năng học tập của học sinh mà ra bài tập hay
nhiệm vụ học tập phù hợp, nâng cao hơn so với khả năng hiện có của học sinh,
11
kích thích các em có sự cố gắng trong học tập, nỗ lực về trí tuệ để hoàn thành.
Nhờ vậy tư duy dần dần phát triển, tính tích cực được phát huy.
Chương trình “Sự phân hóa lãnh thổ” trong Địa lí 9 sử dụng rất nhiều bản
đồ nên phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ là rất quan
trọng. Vì vậy giáo viên nên sử dụng bản đồ để hướng dẫn học sinh khai thác
kiến thức, minh hoạ trong dạy học, giáo viên sử dụng bản đồ như một cơ sở để
học sinh tìm tòi, khám phá kiến thức dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên
hoặc sử dụng câu hỏi phát vấn dựa trên bản đồ như: Ở đâu ? Tại sao?.... Đối với
phương pháp này, giáo viên cần xác định kiến thức trong bài mà HS cần phải
nắm qua bản đồ sao cho phù hợp để HS có thẻ sử dụng kiến thức, kỹ năng đã
học để phát hiện kiến thức mới. GV hướng dẫn HS thực hiện các bước sau: Nắm
được mục đích làm việc với bản đồ, xem bảng chú giải, tìm vị trí của đối tượng
địa lí trên bản đồ, quan sát đối tượng trên bản đồ, xác lập mối quan hệ địa lí đơn
giản giữa các yếu tố và các thành phần như: Vị trí, địa hình, khí hậu...
VD: Quan sát hình 20.1 hãy:
- Xác định ranh giới của đồng bằng sông Hồng? Gồm các tỉnh thành phố nào?
- Vị trí của đảo Cát Bà, Bạch Long vĩ?
- Cho biết giá trị của vị trí địa lí vùng đồng bằng sông Hồng đối với nền kinh tế
xã hội?
Bên cạnh đó, GV có thể sử dụng tranh, ảnh trong SGK, tư liệu tham khảo
để mở rộng kiến thức, giới thiệu cho HS biết các phong cảnh đẹp của đất nước,
từ đó giáo dục HS lòng tự hào, thêm yêu quê hương, đất nước.
VD: Khi tìm hiểu về Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ giáo viên có thể
cho học sinh xem video hoặc tranh, ảnh giới thiệu về một số danh lam thắng
cảnh nổi tiếng của vùng qua màn ảnh như Vịnh Hạ Long, Sa Pa .... các di sản
văn hóa như Hát Xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tết Nhảy, lễ cấp sắc
của người dao quần chẹt .... để các em thấy được vẻ đẹp tiềm ẩn của đất nước,
bản sắc văn hóa của dân tộc, sau đó GV mở rộng: Vịnh Hạ Long đã hai lần được
UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1994 và năm 2000,
hiện nay Vịnh Hạ Long đang được bầu chọn vào một trong bảy kỳ quan thiên
12
nhiên của thế giới. Qua đó, GV giáo dục cho HS lòng yêu quê hương, đất nước,
lòng tự hào dân tộc. Từ đó xây dựng ý thức bảo vệ, giữ gìn các danh lam thắng
cảnh, các di sản văn hóa của đất nước và địa phương.
Hoặc trong các tranh hình trong SGK, ví dụ GV cho HS quan sát H.18.2
SGK trang 67: Đập thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. GV đặt câu hỏi: Hãy nêu
ý nghĩa của thủy điện Hòa Bình? HS nêu: Cung cấp điện năng, điều tiết nước,
nuôi trồng thủy sản, du lịch, điều hòa khí hậu địa phương.
Ngoài phương pháp trên, trong tiết dạy GV có thể sử dụng phương pháp
tạo ra tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề: Đây là PPDH trong đó GV tạo
ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự
giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm
lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Đặc
trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là “tình huống gợi vấn
đề” vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein).
1.3.b. Kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, đánh giá
- Nội dung kiểm tra cơ bản, trọng tâm có ý nghĩa thiết thực.
- Nội dung kiểm tra: Ghi nhớ và suy luận.
- Dành cho từng đối tượng học sinh.
- Kiểm tra trắc nghiệm, trình bày tự luận.
- Hỏi đáp.
- Câu đố.
Giáo viên cần chuẩn bị một số phương pháp dạy học cần thiết như
phương pháp thực hành kết hợp với nêu - giải quyết vấn đề, phương pháp kiểm
tra đánh giá trực tiếp trên lớp nhằm giúp học sinh nhận ra ưu - nhược điểm trong
quá trình tiếp thu kiến thức của mình để sửa chữa.
Giáo viên có thể kết hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như:
các nhân, theo cặp, theo nhóm, khuyến khích các em tự kiểm tra đánh giá từ đó
giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập. Ngày nay,
giáo viên có thể áp dụng công nghệ thông tin để rèn kỹ năng khai thác kiến thức
cho học sinh.
13
1.3.c. Khuyến khích học sinh trang bị sổ tay địa lí để ghi lại những nội
dung nỗi bật trong bài học hoặc thông qua các thông tin thu thập được
Giáo viên thường xuyên xem và cho điểm những sổ tay có nhiều thông tin
hay để khuyến khích HS dành thời gian cho môn học này.
1.3.d. Giao nhiệm vụ cho học sinh
Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của tiết học, nên giáo viên
cần hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và luôn yêu cầu được kiểm tra vở chuẩn bị bài,
nhắc nhở, uốn nắn những học sinh không chuẩn bị bài. Học tập ở nhà rất quan
trọng và không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội, hoàn thiện tri thức và kĩ
năng, kĩ xảo. Nó có tác dụng củng cố, đào sâu khái quát hóa, hệ thống hóa tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo và có tác dụng chuẩn bị lĩnh hội tri thức mới . Muốn đảm
bảo kết quả việc tổ chức học tập ở nhà cho HS phải chú ý đến những điều kiện
sau:
- Tạo hứng thú cho HS. Nội dung học tập phải đa dạng, không chỉ giới hạn ở
nội dung ôn tập trong SGK mà phải đề ra những bài làm có tính chất vấn đề, có
tính sáng tạo, những bài tập gắn liền với cuộc sống, với thực tiễn lao động.
- Phải cho HS thấy rõ mục đích và nhiệm vụ của công việc ở nhà. Muốn thế
phải kết hợp giũa bài làm ở nhà với công việc trên lớp. Nếu không hoàn thành
bài ở nhà thì việc học tập trên lớp gặp nhiều khó khăn và ngược lại
Trước hết HS cần học bài cũ trước, làm đủ các bài tập trong SGK cuối
mỗi bài, sau đó HS chuẩn bị bài mới: Đọc trước bài mới một lần, gạch dưới
những từ khó hiểu, quan sát kênh hình, lược đồ, biểu dồ nếu có trong bài và dự
kiến trả lời các câu hỏi dựa theo sự hiểu biết của bản thân và dựa vào kênh chữ
có trong SGK
VD: Sau khi học xong bài 20: Vùng Đồng Bằng Sông Hồng. HS sẽ có hai
bước cần chuẩn bị ở nhà trước khi đến lớp:
Bước 1: Học bài theo câu hỏi SGK
? Điều kiện tự nhiên ở đồng bằng sông Hồng có những thuận lợi và khó khăn
gì đối với sự phát triển kinh tế - xã hội?
? Dân cư ở đồng bằng sông Hồng có đặc điểm gì?
14
Bước 2: Chuẩn bị bài mới phần kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng. HS đọc
bài một lần, quan sát lược đồ, biểu đồ, dự kiến trả lời các câu hỏi trong SGK
Khi đã chuẩn bị cả bài cũ lẫn bài mới như vậy HS đã định hướng được
câu trả lời của mình. Lên lớp các em chỉ cần chú ý vào bài, hăng hái xây dựng
phát biểu từ đó phát hiện ra những phần sai, phần đúng trong câu trả lời của
mình qua phần bổ sung, nhận xét của GV và các bạn khác. Như vậy vừa góp
phần làm cho lớp học sôi nổi vừa giúp các em hiểu bài ngay tại lớp.
1.4. Tự học ở nhà
Đây là phần các em tự rèn luyện và học tập không có sự bảo ban của
người thầy nên giáo viên cần hướng dẫn kỹ càng các bài tập và công việc để các
em có thể tự củng cố kiến thức mới vừa học và chuẩn bị kiến thức mới cho bài
học tiếp theo. GV cần khuyến khích HS các hình thức tự học ở nhà: Tự học cá
nhân; Đôi bạn tự học; Tự học theo nhóm; Tự học thông qua các phương tiện
hiện đại như Internet …; Tự học ở nhà với sự giúp đỡ kèm cặp của gia đình.
Với đặc trưng của bộ môn Địa lí, việc sử dụng các phương tiện tự học ở
nhà cần được dùng như sử dụng phương tiện tự học trên lớp, tuy nhiên vấn đề
khó ở đây là thiếu các phương tiện học tập. Vì vậy, HS có thể sử dụng các
phương tiện đơn giản, dễ sử dung như: SGK, sách bài tập Địa lí, Atlat Địa lí, sơ
đồ, bảng kiến thức, máy tính có nối mạng Internet …
Khi giao nhiệm vụ về nhà, GV cần đặt câu hỏi với ngôn ngữ rõ ràng để
diễn đạt yêu cầu, một câu hỏi, một mệnh lệnh cần giải quyết phù hợp với nội
dung bài học trên lớp: Câu hỏi đi sâu vào kiến thức bài học; câu hỏi có liên hệ
kiến thức bài học với thực tiễn, yêu cầu HS tìm thông tin từ các tài liệu khác …
đảm bảo phù hợp với bốn mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng
cao.
1.5. Hiệu quả
Sau khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về “Sự phân hóa lãnh
thổ” trong chương trình Địa lí 9, học sinh biết làm sáng tỏ các đối tượng và hiện
tượng riêng biệt được miêu tả và biểu hiện qua kênh chữ, kênh hình, bảng số
liệu thống kê và Atlat Địa lí. Học sinh có được những biểu tượng khách quan,
15
biết so sánh, phân tích đối tượng biểu hiện từ đó có được một biểu tượng tổng
quát về các đặc điểm hoặc hiện tượng có trong các lãnh thổ nói chung để tìm ra
mối quan hệ giữa chúng, tìm ra những đặc điểm và tính chất địa lí. Muốn rút ra
được những kết luận này học sinh không những chỉ kết hợp những kiến thức địa
lí mà còn phải nắm được những mối liên hệ giữa các đối tượng địa lí của từng
vùng, rồi vận dụng tư duy so sánh, đối chiếu để rút ra kết luận từ đó có được
kiến thức mới về các vùng kinh tế.
Sau một thời gian nghiên cứu và tiến hành áp dụng một số giải pháp nâng
cao hiệu quả khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ
trong chương trình Địa lí 9 cho học sinh trường THCS Xuân Thủy (năm học
2023- 2024), bản thân tôi nhận thấy đã thu được kết quả như sau:
Đối với học sinh: Đối tượng học sinh trường THCS Xuân Thủy rất đa
dạng, thuộc nhiều dân tộc khác nhau với nhiều hoàn cảnh gia đình, tâm sinh lý,
tâm tư nguyện vọng khác nhau. Khi chưa áp dụng phương pháp hướng dẫn học
sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ, tôi thấy đa phần học sinh
không muốn học tập các bạn, không muốn tiếp thu, ngại làm việc với bản đồ,
tranh ảnh, thậm chí cả lược đồ có sẵn trong SGK, các em chỉ học máy móc theo
phần ghi nhớ cuối mỗi bài học.
Từ khi áp dụng phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về
sự phân hóa lãnh thổ tới nay, tôi thấy dạy học đã phát huy tính tích cực, chủ
động theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh và phù hợp với tâm lí,
bởi nó đã phát huy tính tự giác, từ đó khơi dậy tiềm năng to lớn của học sinh,
cũng phù hợp với đặc điểm của học sinh khối 9 bởi lứa tuổi đó ưa hoạt động,
thích khám phá. Học sinh biết làm sáng tỏ các đối tượng và hiện tượng riêng biệt
được miêu tả và biểu hiện trong kênh chữ và kênh hình của SGK, trên bản đồ,
biểu đồ, bảng số liệu thống kê … có được những biểu tượng khách quan, biết so
sánh, phân tích, đối tượng nhằm có được một biểu tượng tổng quát về các đặc
điểm hoặc hiện tượng có trong các lãnh thổ nói chung để tìm ra mối quan hệ
giữa chúng, tìm ra những đặc điểm và tính chất địa lí (những kiến thức tiềm ẩn
trong nội dung mỗi bài học). Đặc biệt hình thành cho HS năng lực tự nhận thức,
16
năng lực giao tiếp, tư duy, tự giải quyết vấn đề và làm chủ bản thân, tự chịu
trách nhiệm (đảm nhận trách nhiệm) với công việc được giao. Biết cân nhắc
công việc và tính toán thời gian để hoàn tất nhiệm vụ, qua đó HS có được kĩ
năng lập kế hoạch và quản lí thời gian. Làm việc hợp tác trong nhóm, HS sẽ trao
đổi, tranh luận, ... với nhau, trong bối cảnh đó HS phải biết kiểm soát cảm xúc,
giữ bình tĩnh, biết cách ứng phó với căng thẳng, tránh gây mâu thuẫn.
Cụ thể
- 100% HS hiểu và nắm được những kiến thức, phương pháp cơ bản về khai thác
kiến thức trong một giờ học của chương trình môn địa lí khối 9.
- 100% HS có Atlat Địa lí và sử dụng tốt Atlat
- 60% HS có khả năng quan sát, suy luận hợp lý và lôgic, khả năng dự đoán, sử
dụng ngôn ngữ hợp lý, chính xác trong trình bày có thể chưa thật chặt chẽ.
- 40% HS có khả năng suy luận tốt, tìm ra cách khai thác, sử dụng có hiệu ...
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Căn cứ Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 của Chính phủ về
việc Ban hành Điều lệ sáng kiến; Căn cứ Thông tư số 18/2013/TT-BKHCN
ngày 01/08/2013 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hướng dẫn thi
hành một số quy định của Điều lệ sáng kiến được ban hành theo Nghị định số
13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012 của Chính phủ; Căn cứ Quyết định số
03/2023/QĐ-UBND ngày 03/02/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ban hành
Quy định quản lý hoạt động sáng kiến trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Thực hiện
Hướng dẫn số 01/HD-HĐSK ngày 05/6/2017 của Hội đồng xét, công nhận
sáng kiến huyện Yên Lập về việc tổ chức xét, công nhận sáng kiến cấp cơ sở.
Sau nhiều năm thực hiện chương trình sách giáo khoa theo tinh thần đổi
mới phương pháp dạy học chúng ta đã đạt được những kết quả như: giáo viên
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, học sinh tích cực chủ động tiếp nhận
kiến thức. Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy việc đổi mới phương pháp, phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giờ học các
bài địa lí đòi hỏi phải có sự đổi mới đồng bộ cả quá trình dạy học từ mục tiêu,
nội dung, phương pháp, phương tiện, đồ dùng dạy học, học tập đến việc tổ chức
đánh giá học sinh và đổi mới cách dạy học trên lớp. Như vậy, học sinh từ hiểu
đúng sẽ dẫn đến hành động đúng và từ thực tiễn sinh động để hiểu nội dung bài
học sâu sắc hơn. Chương trình sách giáo khoa địa lí 9 được biên soạn theo tinh
thần cung cấp các tình huống, các thông tin đã được lựa chọn để giáo viên có
thể tổ chức, hướng dẫn cho học sinh phân tích, tổng hợp và xử lí thông tin, tạo
điều kiện cho học sinh trong quá trình học tập vừa tiếp nhận được các kiến thức,
vừa rèn luyện được các kỹ năng và nắm được phương pháp học tập. Đặc biệt
phần “Sự phân hóa lãnh thổ” bắt buộc học sinh khai thác kiến thức tổng hợp về
các vùng kinh tế, bao gồm: Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ; Điều kiện tự nhiên
và tài nguyên thiên nhiên; Đặc điểm dân cư, xã hội; Tình hình phát triển kinh tế
(Nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ); Các trung tâm kinh tế và vùng kinh tế
trọng điểm.
2
Để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy trên lớp và cải tiến những
phương pháp giảng dạy học bộ môn địa lí theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh, qua thời gian học tập, giảng dạy và tham khảo tài liệu, tôi đã
mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khi
hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ trong chương
trình Địa lí 9 ở trường THCS Xuân Thủy, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” nhằm
tìm ra những biện pháp tốt nhất trong giảng dạy bộ môn địa lí, mong nhận được
sự góp ý, xây dựng của tất cả các anh chị, bạn bè đồng nghiệp.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TẠO RA SÁNG KIẾN
Đối với sáng kiến kinh nghiệm này tôi sử dụng các phương pháp
1- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nhằm xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
2- Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu việc khai thác kiến thức của học sinh
trong các giờ học về “Sự phân hóa lãnh thổ” trong chương trình Địa lí 9.
3- Phương pháp điều tra: nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh còn
yếu - kém khi khai thác kiến thức về “Sự phân hóa lãnh thổ” trong chương trình
Địa lí 9.
4- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Thông qua kết quả các bài
kiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả kỹ năng sử dụng, khai thác kiến
thức địa lí của học sinh.
III. CÁC MỤC TIÊU CẦN ĐẠT ĐƯỢC
Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ nhằm
phát hiện ra những cách tiếp cận mới để chú ý phát triển tư duy địa lí cho học
sinh có hiệu quả hơn, học sinh được học tập theo hướng tích cực, phát huy được
khả năng sáng tạo, tự mình tìm ra kiến thức địa lí từ việc khai thác kết hợp giữa
kênh chữ và kênh hình với sự hướng dẫn, cố vấn của giáo viên … Từ đó tạo cho
các em có lòng say mê, tìm tòi và khám phá những chân trời tri thức mới.
3
CHƯƠNG II. MÔ TẢ SÁNG KIẾN
I. VẤN ĐỀ CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng vấn đề khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ
trong chương trình Địa lí 9
1.1. Thuận lợi
Trường THCS Xuân Thủy trong những năm học gần đây đã có sự chuyển
biến rõ rệt về chất lượng giáo dục, nhà trường luôn được sự quan tâm, giúp đỡ
của chính quyền địa phương và cộng tác giúp đỡ của các ban ngành, đặc biệt
trường luôn được sự chỉ đạo sát sao của Phòng giáo dục và đào tạo huyện.
*Đối với giáo viên: Được đào tạo chuẩn và trên chuẩn, có năng lực, nhiệt
tình trong giảng dạy, có ý thức chấp hành kỉ luật tốt và quan trọng là nắm được
phương pháp giảng dạy, quan tâm đến việc phát huy tính tích cực, chủ động của
học sinh; có ý thức học hỏi, soạn bài đầy đủ, kí duyệt hàng tuần đúng quy định.
Đặc biệt giáo viên đã chú trọng đến phương pháp đặc trưng của bộ môn và sử
dụng thiết bị, đồ dùng dạy học khi lên lớp. Đồng thời trong năm học 2023- 2024
nhà trường đã trang bị đầy đủ máy chiếu, ti vi ở tất cả các lớp học tạo điều kiện
để giáo viên có cơ hội ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.
*Đối với học sinh: Trong những năm gần đây việc học bộ môn Địa lý đã
được học sinh quan tâm hơn, có đủ các phương tiện để phục vụ cho học tập đặc
biệt là vở bài tập, tập bản đồ, Atlat địa lí, sách tham khảo ... Học sinh đã quen
thuộc với cách học mới, tích cực chủ động hơn trong việc phát hiện kiến thức,
có ý thức tự giác trong làm bài tập, chuẩn bị bài mới. Qua kiểm tra và chấm vở
bài tập của học sinh cho thấy phần lớn học sinh đã đầu tư thời gian cho việc làm
bài tập, làm bài đầy đủ có chất lượng, chịu khó tìm tòi những kiến thức thực tế
khi giáo viên yêu cầu.
1.2. Khó khăn
* Đối với giáo viên: Tuy nhiên, mặc dù các thiết bị đã được nhà trường
đầu tư nhưng không thể đầy đủ vì số lượng biểu đồ, lược đồ trong sách giáo
khoa có rất nhiều. Hơn nữa, đa phần các thiết bị đã được cung cấp từ nhiều năm
trước nên có nhiều thiết bị đã bị hư hỏng không thể sử dụng được.
4
* Đối với học sinh: Một bộ phận không nhỏ học sinh còn lười học, thiếu
tính tích cực chủ động trong học tập đặc biệt là trong việc hoạt động nhóm. Một
số học sinh lười học bài cũ, không chịu khó trong việc làm bài tập ở nhà, thậm
chí còn mượn vở bài tập của bạn để chép lại một cách thụ động.
Tỉ lệ học sinh khá- giỏi còn khiêm tốn; tỉ lệ học sinh yếu kém ở khối 9 về
môn Địa lý là 1/71 em (1,4 %); số HSG văn hóa cấp huyện: 0= 0%.
2. Tồn tại, hạn chế
Khi được yêu cầu thực hiện các thao tác khai thác kiến thức dựa vào kênh chữ
và kênh hình thì học sinh đều tỏ ra lúng túng. Tôi đã yêu cầu học sinh thực hiện một
số kĩ năng từ đơn giản đến khó hơn, phần lớn học sinh chưa có kĩ năng tự khai thác
kiến thức. Một số nhỏ học sinh khá giỏi đã thực hiện được kĩ năng khai thác kiến
thức đơn giản đơn giản như đọc tên, xác định vị trí các vùng kinh tế trên bản đồ, dựa
vào kênh chữ để nêu các đặc điểm nổi bật về tự nhiên cũng như kinh tế- xã hội của
từng vùng kinh tế. Theo như quan sát thì những học sinh này rất chủ động trong các
giờ học địa lí, nhất là mỗi khi giáo viên yêu cầu làm việc với Atlat Địa lí, các em rất
hăng hái và chủ động khai thác các thông tin, tuy nhiên khi yêu cầu kĩ năng cao hơn
như khái quát hoặc phân tích các đặc điểm của đối tượng, liên hệ các thông tin để rút
ra nhận xét, hoặc phân tích ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên tới phát triển kinh tếxã hội, giải thích thế mạnh nổi bật của từng vùng kinh tế thì học sinh chưa làm được.
3. Nguyên nhân
Đối với học sinh lớp 9 đây là lớp cuối cấp, mục tiêu của các em là thi đỗ
vào THPT nên bản thân các em và gia đình chỉ chú trọng vào 3 môn: Văn,
Toán và Ngoại ngữ, dẫn đến nhiều học sinh coi Địa lí là môn học phụ, các em
chỉ dành nhiều thời gian cho môn học chính, đến giờ Địa lí các em thường đối
phó, thiếu tập trung, tiếp thu một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức
một cách máy móc mà chưa rèn luyện tư duy dẫn đến ngại học, chán học, các
em không phát huy được tư duy sáng tạo của mình, không đáp ứng được mục
tiêu bài học đề ra.
5
4. Tính cấp thiết cần hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự
phân hóa lãnh thổ trong chương trình Địa lí 9
Với học sinh các trường ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn như trường
THCS Xuân Thuỷ đa phần là học sinh dân tộc thiểu số thì việc hướng dẫn học
sinh khai thác kiến thức địa lí trong một bài học gặp không ít khó khăn, đa phần
các em thực hiện vẫn còn chậm, mất nhiều thời gian khiến cho việc so sánh,
đánh giá kết quả giữa các tổ, nhóm hoặc cá nhân với nhau còn rất hạn chế. Từ
đó cũng ảnh hưởng nhiều tới thời gian hoàn thành bài học của học sinh, bởi
thông thường sau khi khai thác kiến thức, học sinh còn phải nhận xét, đánh giá,
giải thích các hiện tượng địa lí và rút ra kiến thức nội dung cơ bản của bài học.
Phần địa lí “Sự phân hóa lãnh thổ” là kiến thức tổng hợp, liên quan đến
tình hình thực tế của địa phương, học sinh nhận thức được vai trò và thế mạnh
của từng vùng trong quá trình phát triển nền kinh tế đất nước, từ đó giúp học
sinh có thể định hướng nghề nghiệp đúng đắn trong tương lai, để các em
không bỡ ngỡ trước những hoạt động phức tạp, đa dạng của cuộc sống. Qua
bức tranh toàn cảnh về tự nhiên và kinh tế, xã hội của các vùng khác nhau
trong cả nước, học sinh sẽ nắm được kiến thức và biết cách giải thích các hiện
tượng, các mối quan hệ đã tạo nên sự thay đổi và phát triển trong môi trường
tự nhiên cũng như trong nền kinh tế, xã hội đặc biệt là trong giai đoạn chuyển
hướng kinh tế của đất nước hiện nay. “Sự phân hóa lãnh thổ” có vị trí quan
trọng trong chương trình môn địa lí nói chung và địa lí lớp 9 nói riêng, theo
chương trình bài địa lí vùng kinh tế (trừ các bài thực hành) trong chương
trình địa lí lớp 9 chiếm tới 39,5% (17 bài trong tổng số 43 bài), là nội dung
chính của nửa cuối học kì I và nửa đầu học kì II ở lớp 9. Theo ma trận đề khảo
sát cuối lớp 9, thi học sinh giỏi các cấp và thi vào chuyên Hùng Vương tỉ lệ
kiến thức về “Sự phân hóa lãnh thổ” chiếm khoảng 40% tổng toàn bài. Đây là
một thách thức lớn đối với mỗi học sinh nếu các em không được trang bị đầy
đủ các kiến thức, kĩ năng cần thiết khi làm bài kiểm tra. Hơn nữa, thông qua
kiến thức học tập các bài này học sinh còn có khả năng thực hiện tốt các bài
6
tập về đọc Atlat Địa lí Việt Nam, nhận xét số liệu, biểu đồ, phân tích lược
đồ ... để lấy thêm điểm bài thi.
Từ những lí do trên, tôi đã thực hiện sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự
phân hóa lãnh thổ trong dạy học Địa lí 9 ở trường THCS Xuân Thủy” để góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Địa lí ở trường THCS.
II. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Các giải pháp đã tiến hành
1.1. Điều tra khảo sát chất lượng
a. Tại trường THCS Xuân Thủy
+ Kết quả học kì I năm học 2022- 2023: Tổng số HS khối 9 là 71 HS.
Trong đó:
Giỏi: 7= 9,8 %
Khá: 32= 45,2 %
Tb:
31= 43,6 %
Yếu: 1 = 1,4 %
HSG văn hóa cấp huyện: 0 HS
+ Điều tra ban đầu về việc HS có thể tự khai thác kiến thức phục vụ cho
học tập:
. Biết đọc và khai thác kiến thức để nhận biết đối tượng địa lí: 39/71 HS=
48,4%
. Biết cách nhận xét và giải thích sau khi khai thác kiến thức: 24/71= 40,8%
. Có Atlat Địa lí: 11/71= 15,5%
b. Tại trường THCS Thị Trấn I
Tôi đã sử dụng phiếu khảo sát (Có đính kèm) tại lớp 9A của trường
. Biết đọc và khai thác kiến thức để nhận biết đối tượng địa lí: 19/39 HS=
48,7%
. Biết cách nhận xét và giải thích sau khi khai thác kiến thức: 14/39= 35,9%
. Có Atlat Địa lí: 11/39= 28,2%
7
Kết quả khảo sát cho thấy nhìn chung các em tiếp nhận môn địa lí còn rất
thấp, vẫn còn hiện tượng học sinh xem nhẹ môn địa lí, các em coi môn địa lí là
môn học phụ. Do vậy mà các em chỉ học lấy lệ nên kĩ năng tự khai thác kiến
thức và sử dụng kiến thức đã khai thác phục vụ cho học tập còn rất yếu.
1.2. Xây dựng kế hoạch dạy học và kế hoạch bài dạy (Giáo án)
Kế hoạch bài dạy (KHBD) là dàn ý lên lớp của GV, bao gồm: đề tài bài
học, mục tiêu, nội dung, phương pháp, thiết bị, những hoạt động cụ thể của thầy
và trò … KHBD là bản thiết kế hệ thống các tình huống dạy học được đặt ra từ
nội dung khách quan của bài dạy, phù hợp với tính chất và trình độ tiếp nhận của
học sinh. Bên cạnh đó là hệ thống các hoạt động, thao tác tương ứng với các tình
huống do GV sắp xếp, tổ chức hợp lí nhằm hướng dẫn HS từng bước tiếp cận,
chiếm lĩnh bài học một cách tích cực và sáng tạo. Vậy nên, cho dù là một GV
lâu năm dày dạn kinh nghiệm hay một người mới bước chân vào nghề, thì việc
thiết kế bài dạy như là một giải pháp giúp GV có thể điều chỉnh tiết học theo
đúng lộ trình, trang bị một hành trang đủ và tốt nhằm vận hành tiết học một
cách trơn tru.
Trong một tiết học, sự tương tác giữa GV với HS và giữa HS với HS là
rất quan trọng. Chúng thúc đẩy được tinh thần học tập hăng say, tích cực,
chủ động và mang tính tự giác của người học. Thống kê cảm nhận của các
học sinh qua những tiết giảng dạy của thầy cô, sẽ đánh giá được phương thức
giảng dạy của giáo viên nào là phù hợp, thú vị và hấp dẫn.
Những căn cứ khi xây dựng KHBD bao gồm:
- Căn cứ về mặt lý thuyết: Tài liệu tham khảo, sách dành cho giáo viên,
chuẩn kỹ năng kiến thức, phân phối chương trình giảng dạy.
- Căn cứ trên điều kiện cơ sở vật chất: Tài sản và cơ sở vật chất trong một
lớp học. Bao gồm: Máy trình chiếu (Ti vi), máy tính, thiết bị âm thanh, điều
khiển, bảng, ... nói chung là trang thiết bị phục vụ dạy học.
- Căn cứ trên cơ sở đặc điểm về tiết học, nội dung của từng bài học.
- Căn cứ vào mặt bằng chung khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng học tập
của học sinh.
8
KHBD cần thực hiện theo các bước:
Bước 1. Xác định mục tiêu tiết học: Người học sẽ tiếp nhận được những gì
sau khi kết thúc một tiết học, hay một bài học. Cụ thể về việc tiếp nhận kiến
thức, sự hình thành năng lực và phẩm chất. Dựa trên căn cứ chuẩn kiến thức,
phải xác định được các mức độ chi tiết và cụ thể của tiết học. Các mức độ
bao gồm mức độ biết, mức độ hiểu và mức độ thực hành. Đặc biệt cần đạt
chuẩn sách giáo khoa, sách giáo viên, kỹ năng, kiến thức, năng lực, phẩm
chất theo định hướng từ Bộ Giáo dục.
VD: Mục tiêu bài 17. Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
* Kiến thức
- Hiểu được ý nghĩa vị trí địa lí; một số thế mạnh và khó khăn của điều kieenjt ự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đặc điểm dân cư, xã hội của vùng
- Hiểu sâu hơn sự khác biệt giữa hải tiểu vùng Tây Bắc và Đông Bắc; đánh giá
trình độ phát triển giữa hai tiểu vùng và tầm quan trọng của các giải pháp bảo vệ
môi trường, phát triển kinh tế- xã hội.
- Xác định được ranh giới của vùng, vị trí của một số tài nguyên thiên nhiên
quan trọng trên lược đồ
- Phân tích và giải thích được một số chỉ tiêu phát triển dân cư, xã hội.
* Năng lực
Năng lực chung
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết xác định và làm rõ các thông tin,
ý tưởng mới liên quan đến vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
- Năng lực tự học và tự chủ: Chủ động trong việc tìm kiếm và nghiên cứu các
thông tin về tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Học sinh có khả năng hoạt động nhóm, trình
bày kết quả thực hiện các hoạt động học tập.
Năng lực đặc thù
- Năng lực nhận thức khoa học địa lý: Xác định và phân tích được mối quan hệ
tương hỗ giữa vị trí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên với phát triển
kinh tế- xã hội của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ. Đồng thời giải thích
9
được mối quan hệ nhân quả giữa điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
với sự phát triển kinh tế của vùng.
- Năng lực tìm hiểu địa lý: Xác định được vị trí, giới hạn vùng Trung du và miền
núi Bắc Bộ trên bản đồ tự nhiên Việt Nam, vị trí 2 tiểu vùng Đông Bắc và Tây
Bắc. Mô tả được đặc điểm tự nhiên từng tiểu vùng, qua đó so sánh được sự
giống và khác nhau giữa 2 tiểu vùng Đông bắc và Tây Bắc. Giải thích và chứng
minh được mối quan hệ giữa phân bố các loại khoáng sản, các nhà máy thủy
điện, nhiệt điện với phát triển kinh tế- xã hội.
- Năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học: Xác định được trên bản đồ vị trí
địa lí và phạm vi lãnh thổ của vùng; trình bày được đặc điểm phân hóa thiên
nhiên giữa Đông Bắc và Tây Bắc; các thế mạnh phát triển công nghiệp, lâm –
nông- thủy sản, du lịch. Vẽ được sơ đồ tư duy thể hiện các thế mạnh về tự nhiên
để phát triển kinh tế- xã hội của vùng. Trình bày được sự phát triển và phân bố 1
trong các ngành kinh tế của vùng (sử dụng bản đồ và bảng số liệu).
* Phẩm chất
- Nhân ái: Tôn trọng, sẻ chia những khó khăn về tự nhiên, kinh tế mà người dân
của vùng núi đang gặp phải.
- Chăm chỉ: Luôn cố gắng vươn lên trong học tập góp phần xây dựng quê hương
đất nước ngày càng giàu đẹp.
Bước 2. Xác định phương pháp chính yếu: Định hướng và xác định được
đâu là cách thức giảng dạy chính yếu được sử dụng trong tiết học. Bên cạnh
đó, cần thiết lập thêm các phương pháp bổ trợ, bên cạnh phương pháp chính,
nhằm đảm bảo tiết học diễn ra thuận lợi. Cần căn cứ trên cơ sở các điều sau
thì mới xác định phương pháp trọng tâm dạy học đúng được: nội dung của
bài học, mặt bằng chung kỹ năng tiếp thu kiến thức của lớp học, hay hạ tầng
dạy học của từng địa điểm cụ thể.
Bước 3. Chuẩn bị thiết bị giảng dạy
- Thiết bị giảng dạy cho giáo viên: Bảng, phấn, máy chiếu, máy tính, sơ
đồ, tranh ảnh, mô hình, điều khiển, tivi, phiếu học tập,...
10
- Thiết bị học cho học sinh: Tài liệu tham khảo, nghiên cứu và sưu tầm
chuẩn bị trước tài liệu,...
Bước 4. Diễn biến tiết học: Trong từng hoạt động, cần phân biệt một cách
cụ thể và chi tiết các hoạt động của học sinh, hoạt động của giáo viên trong
tiết học. Cần định hướng và gắn liền mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động.
Không nên xây dựng quá nhiều, dẫn đến tình trạng không hoàn thành được
kịp tiết học theo thời gian và dư nhân lực. Mỗi hoạt động dạy và học cần
được định hướng cụ thể về thời gian, phân bổ các hoạt động một cách hợp lý,
bám sát vào thời gian giảng dạy cho từng tiết học.
Bước 5. Tổng kết tiết học: Tổng kết lại nội dung bài học bằng cách tóm
lược các thông tin, nhấn mạnh một lần nữa vào các nội dung chính yếu của
bài học. Để thay cho việc tổng kết miệng, giáo viên cũng có thể sử dụng
phiếu đánh giá. Giao bài tập về nhà và những nhiệm vụ cần thực hiện trong
tiết học tiếp theo để học sinh thực hiện. Giới thiệu các hình thức hoặc tư vấn
các tài liệu tham khảo cho học sinh. Nhận xét tổng quan và nhìn nhận bằng
cách đánh giá lại chất lượng tiết học. Điều này có thể giúp giáo viên tiếp
nhận được những phản hồi và nhận xét, nhằm thay đổi hoặc cải thiện phương
pháp dạy học cho những lần tiếp theo.
1.3. Tổ chức dạy học trên lớp
1.3.a. Sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phổ biến theo hướng
phát huy tích cực, chủ động học tập của học sinh.
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) hướng tới việc hoạt động
hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy
tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cực
của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên
phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Để khắc phục những
nhược điểm thụ động trong học tập của học sinh, giáo viên phải biết cách khai
thác vốn tri thức, kỹ năng và khả năng học tập của học sinh mà ra bài tập hay
nhiệm vụ học tập phù hợp, nâng cao hơn so với khả năng hiện có của học sinh,
11
kích thích các em có sự cố gắng trong học tập, nỗ lực về trí tuệ để hoàn thành.
Nhờ vậy tư duy dần dần phát triển, tính tích cực được phát huy.
Chương trình “Sự phân hóa lãnh thổ” trong Địa lí 9 sử dụng rất nhiều bản
đồ nên phương pháp hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ là rất quan
trọng. Vì vậy giáo viên nên sử dụng bản đồ để hướng dẫn học sinh khai thác
kiến thức, minh hoạ trong dạy học, giáo viên sử dụng bản đồ như một cơ sở để
học sinh tìm tòi, khám phá kiến thức dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của giáo viên
hoặc sử dụng câu hỏi phát vấn dựa trên bản đồ như: Ở đâu ? Tại sao?.... Đối với
phương pháp này, giáo viên cần xác định kiến thức trong bài mà HS cần phải
nắm qua bản đồ sao cho phù hợp để HS có thẻ sử dụng kiến thức, kỹ năng đã
học để phát hiện kiến thức mới. GV hướng dẫn HS thực hiện các bước sau: Nắm
được mục đích làm việc với bản đồ, xem bảng chú giải, tìm vị trí của đối tượng
địa lí trên bản đồ, quan sát đối tượng trên bản đồ, xác lập mối quan hệ địa lí đơn
giản giữa các yếu tố và các thành phần như: Vị trí, địa hình, khí hậu...
VD: Quan sát hình 20.1 hãy:
- Xác định ranh giới của đồng bằng sông Hồng? Gồm các tỉnh thành phố nào?
- Vị trí của đảo Cát Bà, Bạch Long vĩ?
- Cho biết giá trị của vị trí địa lí vùng đồng bằng sông Hồng đối với nền kinh tế
xã hội?
Bên cạnh đó, GV có thể sử dụng tranh, ảnh trong SGK, tư liệu tham khảo
để mở rộng kiến thức, giới thiệu cho HS biết các phong cảnh đẹp của đất nước,
từ đó giáo dục HS lòng tự hào, thêm yêu quê hương, đất nước.
VD: Khi tìm hiểu về Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ giáo viên có thể
cho học sinh xem video hoặc tranh, ảnh giới thiệu về một số danh lam thắng
cảnh nổi tiếng của vùng qua màn ảnh như Vịnh Hạ Long, Sa Pa .... các di sản
văn hóa như Hát Xoan, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Tết Nhảy, lễ cấp sắc
của người dao quần chẹt .... để các em thấy được vẻ đẹp tiềm ẩn của đất nước,
bản sắc văn hóa của dân tộc, sau đó GV mở rộng: Vịnh Hạ Long đã hai lần được
UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 1994 và năm 2000,
hiện nay Vịnh Hạ Long đang được bầu chọn vào một trong bảy kỳ quan thiên
12
nhiên của thế giới. Qua đó, GV giáo dục cho HS lòng yêu quê hương, đất nước,
lòng tự hào dân tộc. Từ đó xây dựng ý thức bảo vệ, giữ gìn các danh lam thắng
cảnh, các di sản văn hóa của đất nước và địa phương.
Hoặc trong các tranh hình trong SGK, ví dụ GV cho HS quan sát H.18.2
SGK trang 67: Đập thủy điện Hòa Bình trên sông Đà. GV đặt câu hỏi: Hãy nêu
ý nghĩa của thủy điện Hòa Bình? HS nêu: Cung cấp điện năng, điều tiết nước,
nuôi trồng thủy sản, du lịch, điều hòa khí hậu địa phương.
Ngoài phương pháp trên, trong tiết dạy GV có thể sử dụng phương pháp
tạo ra tình huống có vấn đề và giải quyết vấn đề: Đây là PPDH trong đó GV tạo
ra những tình huống có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự
giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm
lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Đặc
trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là “tình huống gợi vấn
đề” vì “Tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề” (Rubinstein).
1.3.b. Kết hợp nhiều loại hình kiểm tra, đánh giá
- Nội dung kiểm tra cơ bản, trọng tâm có ý nghĩa thiết thực.
- Nội dung kiểm tra: Ghi nhớ và suy luận.
- Dành cho từng đối tượng học sinh.
- Kiểm tra trắc nghiệm, trình bày tự luận.
- Hỏi đáp.
- Câu đố.
Giáo viên cần chuẩn bị một số phương pháp dạy học cần thiết như
phương pháp thực hành kết hợp với nêu - giải quyết vấn đề, phương pháp kiểm
tra đánh giá trực tiếp trên lớp nhằm giúp học sinh nhận ra ưu - nhược điểm trong
quá trình tiếp thu kiến thức của mình để sửa chữa.
Giáo viên có thể kết hợp nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như:
các nhân, theo cặp, theo nhóm, khuyến khích các em tự kiểm tra đánh giá từ đó
giúp học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập. Ngày nay,
giáo viên có thể áp dụng công nghệ thông tin để rèn kỹ năng khai thác kiến thức
cho học sinh.
13
1.3.c. Khuyến khích học sinh trang bị sổ tay địa lí để ghi lại những nội
dung nỗi bật trong bài học hoặc thông qua các thông tin thu thập được
Giáo viên thường xuyên xem và cho điểm những sổ tay có nhiều thông tin
hay để khuyến khích HS dành thời gian cho môn học này.
1.3.d. Giao nhiệm vụ cho học sinh
Đây là khâu quan trọng quyết định hiệu quả của tiết học, nên giáo viên
cần hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và luôn yêu cầu được kiểm tra vở chuẩn bị bài,
nhắc nhở, uốn nắn những học sinh không chuẩn bị bài. Học tập ở nhà rất quan
trọng và không thể thiếu được trong quá trình lĩnh hội, hoàn thiện tri thức và kĩ
năng, kĩ xảo. Nó có tác dụng củng cố, đào sâu khái quát hóa, hệ thống hóa tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo và có tác dụng chuẩn bị lĩnh hội tri thức mới . Muốn đảm
bảo kết quả việc tổ chức học tập ở nhà cho HS phải chú ý đến những điều kiện
sau:
- Tạo hứng thú cho HS. Nội dung học tập phải đa dạng, không chỉ giới hạn ở
nội dung ôn tập trong SGK mà phải đề ra những bài làm có tính chất vấn đề, có
tính sáng tạo, những bài tập gắn liền với cuộc sống, với thực tiễn lao động.
- Phải cho HS thấy rõ mục đích và nhiệm vụ của công việc ở nhà. Muốn thế
phải kết hợp giũa bài làm ở nhà với công việc trên lớp. Nếu không hoàn thành
bài ở nhà thì việc học tập trên lớp gặp nhiều khó khăn và ngược lại
Trước hết HS cần học bài cũ trước, làm đủ các bài tập trong SGK cuối
mỗi bài, sau đó HS chuẩn bị bài mới: Đọc trước bài mới một lần, gạch dưới
những từ khó hiểu, quan sát kênh hình, lược đồ, biểu dồ nếu có trong bài và dự
kiến trả lời các câu hỏi dựa theo sự hiểu biết của bản thân và dựa vào kênh chữ
có trong SGK
VD: Sau khi học xong bài 20: Vùng Đồng Bằng Sông Hồng. HS sẽ có hai
bước cần chuẩn bị ở nhà trước khi đến lớp:
Bước 1: Học bài theo câu hỏi SGK
? Điều kiện tự nhiên ở đồng bằng sông Hồng có những thuận lợi và khó khăn
gì đối với sự phát triển kinh tế - xã hội?
? Dân cư ở đồng bằng sông Hồng có đặc điểm gì?
14
Bước 2: Chuẩn bị bài mới phần kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng. HS đọc
bài một lần, quan sát lược đồ, biểu đồ, dự kiến trả lời các câu hỏi trong SGK
Khi đã chuẩn bị cả bài cũ lẫn bài mới như vậy HS đã định hướng được
câu trả lời của mình. Lên lớp các em chỉ cần chú ý vào bài, hăng hái xây dựng
phát biểu từ đó phát hiện ra những phần sai, phần đúng trong câu trả lời của
mình qua phần bổ sung, nhận xét của GV và các bạn khác. Như vậy vừa góp
phần làm cho lớp học sôi nổi vừa giúp các em hiểu bài ngay tại lớp.
1.4. Tự học ở nhà
Đây là phần các em tự rèn luyện và học tập không có sự bảo ban của
người thầy nên giáo viên cần hướng dẫn kỹ càng các bài tập và công việc để các
em có thể tự củng cố kiến thức mới vừa học và chuẩn bị kiến thức mới cho bài
học tiếp theo. GV cần khuyến khích HS các hình thức tự học ở nhà: Tự học cá
nhân; Đôi bạn tự học; Tự học theo nhóm; Tự học thông qua các phương tiện
hiện đại như Internet …; Tự học ở nhà với sự giúp đỡ kèm cặp của gia đình.
Với đặc trưng của bộ môn Địa lí, việc sử dụng các phương tiện tự học ở
nhà cần được dùng như sử dụng phương tiện tự học trên lớp, tuy nhiên vấn đề
khó ở đây là thiếu các phương tiện học tập. Vì vậy, HS có thể sử dụng các
phương tiện đơn giản, dễ sử dung như: SGK, sách bài tập Địa lí, Atlat Địa lí, sơ
đồ, bảng kiến thức, máy tính có nối mạng Internet …
Khi giao nhiệm vụ về nhà, GV cần đặt câu hỏi với ngôn ngữ rõ ràng để
diễn đạt yêu cầu, một câu hỏi, một mệnh lệnh cần giải quyết phù hợp với nội
dung bài học trên lớp: Câu hỏi đi sâu vào kiến thức bài học; câu hỏi có liên hệ
kiến thức bài học với thực tiễn, yêu cầu HS tìm thông tin từ các tài liệu khác …
đảm bảo phù hợp với bốn mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng
cao.
1.5. Hiệu quả
Sau khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về “Sự phân hóa lãnh
thổ” trong chương trình Địa lí 9, học sinh biết làm sáng tỏ các đối tượng và hiện
tượng riêng biệt được miêu tả và biểu hiện qua kênh chữ, kênh hình, bảng số
liệu thống kê và Atlat Địa lí. Học sinh có được những biểu tượng khách quan,
15
biết so sánh, phân tích đối tượng biểu hiện từ đó có được một biểu tượng tổng
quát về các đặc điểm hoặc hiện tượng có trong các lãnh thổ nói chung để tìm ra
mối quan hệ giữa chúng, tìm ra những đặc điểm và tính chất địa lí. Muốn rút ra
được những kết luận này học sinh không những chỉ kết hợp những kiến thức địa
lí mà còn phải nắm được những mối liên hệ giữa các đối tượng địa lí của từng
vùng, rồi vận dụng tư duy so sánh, đối chiếu để rút ra kết luận từ đó có được
kiến thức mới về các vùng kinh tế.
Sau một thời gian nghiên cứu và tiến hành áp dụng một số giải pháp nâng
cao hiệu quả khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ
trong chương trình Địa lí 9 cho học sinh trường THCS Xuân Thủy (năm học
2023- 2024), bản thân tôi nhận thấy đã thu được kết quả như sau:
Đối với học sinh: Đối tượng học sinh trường THCS Xuân Thủy rất đa
dạng, thuộc nhiều dân tộc khác nhau với nhiều hoàn cảnh gia đình, tâm sinh lý,
tâm tư nguyện vọng khác nhau. Khi chưa áp dụng phương pháp hướng dẫn học
sinh khai thác kiến thức về sự phân hóa lãnh thổ, tôi thấy đa phần học sinh
không muốn học tập các bạn, không muốn tiếp thu, ngại làm việc với bản đồ,
tranh ảnh, thậm chí cả lược đồ có sẵn trong SGK, các em chỉ học máy móc theo
phần ghi nhớ cuối mỗi bài học.
Từ khi áp dụng phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức về
sự phân hóa lãnh thổ tới nay, tôi thấy dạy học đã phát huy tính tích cực, chủ
động theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh và phù hợp với tâm lí,
bởi nó đã phát huy tính tự giác, từ đó khơi dậy tiềm năng to lớn của học sinh,
cũng phù hợp với đặc điểm của học sinh khối 9 bởi lứa tuổi đó ưa hoạt động,
thích khám phá. Học sinh biết làm sáng tỏ các đối tượng và hiện tượng riêng biệt
được miêu tả và biểu hiện trong kênh chữ và kênh hình của SGK, trên bản đồ,
biểu đồ, bảng số liệu thống kê … có được những biểu tượng khách quan, biết so
sánh, phân tích, đối tượng nhằm có được một biểu tượng tổng quát về các đặc
điểm hoặc hiện tượng có trong các lãnh thổ nói chung để tìm ra mối quan hệ
giữa chúng, tìm ra những đặc điểm và tính chất địa lí (những kiến thức tiềm ẩn
trong nội dung mỗi bài học). Đặc biệt hình thành cho HS năng lực tự nhận thức,
16
năng lực giao tiếp, tư duy, tự giải quyết vấn đề và làm chủ bản thân, tự chịu
trách nhiệm (đảm nhận trách nhiệm) với công việc được giao. Biết cân nhắc
công việc và tính toán thời gian để hoàn tất nhiệm vụ, qua đó HS có được kĩ
năng lập kế hoạch và quản lí thời gian. Làm việc hợp tác trong nhóm, HS sẽ trao
đổi, tranh luận, ... với nhau, trong bối cảnh đó HS phải biết kiểm soát cảm xúc,
giữ bình tĩnh, biết cách ứng phó với căng thẳng, tránh gây mâu thuẫn.
Cụ thể
- 100% HS hiểu và nắm được những kiến thức, phương pháp cơ bản về khai thác
kiến thức trong một giờ học của chương trình môn địa lí khối 9.
- 100% HS có Atlat Địa lí và sử dụng tốt Atlat
- 60% HS có khả năng quan sát, suy luận hợp lý và lôgic, khả năng dự đoán, sử
dụng ngôn ngữ hợp lý, chính xác trong trình bày có thể chưa thật chặt chẽ.
- 40% HS có khả năng suy luận tốt, tìm ra cách khai thác, sử dụng có hiệu ...
 









Các ý kiến mới nhất