Luật hình sự - TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN D139

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Gươm
Ngày gửi: 12h:28' 01-05-2009
Dung lượng: 72.5 KB
Số lượt tải: 98
Nguồn:
Người gửi: Hồ Gươm
Ngày gửi: 12h:28' 01-05-2009
Dung lượng: 72.5 KB
Số lượt tải: 98
Số lượt thích:
0 người
A. Lời mở đầu
Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng một nâng cao thì kéo theo đó những tệ nạn xã hội cũng có xu hướng gia tăng nhất là các tội phạm xâm phạm tới quan hệ sở hữu. Để có biện pháp đấu tranh loại tội này có hiệu quả trước tiên thì ta phải hiểu rõ dấu hiệu pháp lý của từng loại tội, phải phân biệt được tội này với tội kia. Có như vậy mới định tội và định khung hình phạt được. Nói như vậy nhưng trên thực tế có nhiều vụ án để định tội cho thật chính xác là điều không phải dễ dàng, do đó mà vẫn tồn tại nhiều vụ án oan sai, nhiều vụ bỏ lọt tội phạm. Tình huống sau đây cũng có thể là một ví dụ:
“Vì muốn có tiền tiêu xài, A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đạp của B, A đến gặp B ( là người quen ) ngỏ ý mượn xe để đèo người thân ra bến xe ô tô. B tin tưởng và giao xe đạp cho A ( chiếc xe đạp trị giá 700.000 đồng). A đạp xe ra chợ để bán nhưng không được liền đem về nhà. Đợi mãi không thấy A trả xe, 2 ngày sau, B đến nhà A để đòi xe. Đến ngõ nhà A, B thấy A dắt xe đạp của mình từ trong nhà đi ra, B chạy đến đưa tay ngăn lại và nói: “ trả tao xe đây, mượn gì mà mãi không trả”. A không trả lời mà lên xe định đạp xe đi, B liền giữ lại và tiếp tục đòi trả xe, A liền rút con dao găm giấu trong người ra, gí sát vào mặt B quát: “Tao vừa giết người trên phố về đây. Biết điều buông ngay xe ra, không tao đâm chết”. B sợ, rời tay khỏi ghi đông xe đạp. A nhảy lên xe phóng đi. Sau đó B tố cáo với cơ quan công an về hành vi của A. Một thời gian sau, A bị bắt.”
Về vụ án này có các quan điểm sau:
A phạm tội cướp tài sản.
A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát”.
A phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp.
Anh (chị ) hãy cho biết:
Các quan điểm trên có quan điểm nào đúng không? Tại sao?
Nếu các quan điểm trên đều sai thì quan điểm của nhóm anh ( chị ) cho rằng A phạm tội gì? Hãy phân tích rõ?
Với kiến thức còn hạn chế trong lĩnh vực này, bài làm của chúng em không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong thầy cô góp ý để bài làm của chúng em được hoàn thiện và chính xác hơn.
B.Giải quyết vấn đề
I. Quan điểm của nhóm:
Theo quan điểm của nhóm thì các quan điểm đề bài đưa ra như: A phạm tội cướp tài sản, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc tình tiết định khung “ hành hung để tẩu thoát” hay A phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp đều chưa thật chính xác.
Nhóm chúng em cho rằng A phạm 2 tội. Đó là: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139) và tội cướp tài sản (điều 133)
Để làm rõ quan điểm này trước tiên phải hiểu rõ dấu hiệu pháp lý của 2 tội này:
1.Tội cướp tài sản ( điều 133)
Điều 133-BLHS 1999 chỉ rõ tội cướp tài sản là hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đọat tài sản”.
Ngay trong điều luật đã quy định rõ hành vi khách quan của tội này bao gồm 3 hành vi, đó là: hành vi dùng vũ lực (dùng sức mạnh đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân như bóp cổ, xô ngã…), đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc (gí sát dao vào cổ dọa giết…đặc biệt phải chứng minh được sự đe dọa này khiến cho nạn nhân tin rằng nếu không tin vào sự đe dọa của người phạm tội thì sự đe dọa đó sẽ trở thành hiện thực) hoặc có hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (cho nạn nhân uống thuốc ngủ hay là đánh thuốc mê nạn nhân hoặc các hành vi khác.) nhằm chiếm đoạt tài sản. Những hành vi này đều có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân nên đó là những hành vi không thể thiếu trong cấu thành tội cướp tài sản. Chỉ cần người phạm tội có 1 trong 3 hành vi kể trên thì tội cướp tài sản đã hoàn thành chứ không cần quan tâm tới người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.
Tội cướp tài
Khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng một nâng cao thì kéo theo đó những tệ nạn xã hội cũng có xu hướng gia tăng nhất là các tội phạm xâm phạm tới quan hệ sở hữu. Để có biện pháp đấu tranh loại tội này có hiệu quả trước tiên thì ta phải hiểu rõ dấu hiệu pháp lý của từng loại tội, phải phân biệt được tội này với tội kia. Có như vậy mới định tội và định khung hình phạt được. Nói như vậy nhưng trên thực tế có nhiều vụ án để định tội cho thật chính xác là điều không phải dễ dàng, do đó mà vẫn tồn tại nhiều vụ án oan sai, nhiều vụ bỏ lọt tội phạm. Tình huống sau đây cũng có thể là một ví dụ:
“Vì muốn có tiền tiêu xài, A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đạp của B, A đến gặp B ( là người quen ) ngỏ ý mượn xe để đèo người thân ra bến xe ô tô. B tin tưởng và giao xe đạp cho A ( chiếc xe đạp trị giá 700.000 đồng). A đạp xe ra chợ để bán nhưng không được liền đem về nhà. Đợi mãi không thấy A trả xe, 2 ngày sau, B đến nhà A để đòi xe. Đến ngõ nhà A, B thấy A dắt xe đạp của mình từ trong nhà đi ra, B chạy đến đưa tay ngăn lại và nói: “ trả tao xe đây, mượn gì mà mãi không trả”. A không trả lời mà lên xe định đạp xe đi, B liền giữ lại và tiếp tục đòi trả xe, A liền rút con dao găm giấu trong người ra, gí sát vào mặt B quát: “Tao vừa giết người trên phố về đây. Biết điều buông ngay xe ra, không tao đâm chết”. B sợ, rời tay khỏi ghi đông xe đạp. A nhảy lên xe phóng đi. Sau đó B tố cáo với cơ quan công an về hành vi của A. Một thời gian sau, A bị bắt.”
Về vụ án này có các quan điểm sau:
A phạm tội cướp tài sản.
A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát”.
A phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp.
Anh (chị ) hãy cho biết:
Các quan điểm trên có quan điểm nào đúng không? Tại sao?
Nếu các quan điểm trên đều sai thì quan điểm của nhóm anh ( chị ) cho rằng A phạm tội gì? Hãy phân tích rõ?
Với kiến thức còn hạn chế trong lĩnh vực này, bài làm của chúng em không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong thầy cô góp ý để bài làm của chúng em được hoàn thiện và chính xác hơn.
B.Giải quyết vấn đề
I. Quan điểm của nhóm:
Theo quan điểm của nhóm thì các quan điểm đề bài đưa ra như: A phạm tội cướp tài sản, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc tình tiết định khung “ hành hung để tẩu thoát” hay A phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp đều chưa thật chính xác.
Nhóm chúng em cho rằng A phạm 2 tội. Đó là: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139) và tội cướp tài sản (điều 133)
Để làm rõ quan điểm này trước tiên phải hiểu rõ dấu hiệu pháp lý của 2 tội này:
1.Tội cướp tài sản ( điều 133)
Điều 133-BLHS 1999 chỉ rõ tội cướp tài sản là hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đọat tài sản”.
Ngay trong điều luật đã quy định rõ hành vi khách quan của tội này bao gồm 3 hành vi, đó là: hành vi dùng vũ lực (dùng sức mạnh đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân như bóp cổ, xô ngã…), đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc (gí sát dao vào cổ dọa giết…đặc biệt phải chứng minh được sự đe dọa này khiến cho nạn nhân tin rằng nếu không tin vào sự đe dọa của người phạm tội thì sự đe dọa đó sẽ trở thành hiện thực) hoặc có hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (cho nạn nhân uống thuốc ngủ hay là đánh thuốc mê nạn nhân hoặc các hành vi khác.) nhằm chiếm đoạt tài sản. Những hành vi này đều có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân nên đó là những hành vi không thể thiếu trong cấu thành tội cướp tài sản. Chỉ cần người phạm tội có 1 trong 3 hành vi kể trên thì tội cướp tài sản đã hoàn thành chứ không cần quan tâm tới người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.
Tội cướp tài
 









Các ý kiến mới nhất