QUAN HỆ HỢP TÁC UNESCO và VIỆT NAM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Hoàng Ngọc Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:45' 08-03-2009
Dung lượng: 681.0 KB
Số lượt tải: 10
Nguồn: st
Người gửi: Hoàng Ngọc Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:45' 08-03-2009
Dung lượng: 681.0 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích:
0 người
QUAN HỆ HỢP TÁC VIỆT NAM - UNESCO
1. MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG Năm 1951, Pháp đưa chính quyền Bảo Đại vào tham gia UNESCO. Sau đó chính quyền Sài gòn duy trì sự có mặt tại UNESCO cho đến khi sụp đổ tháng 4/1975. Tháng 3/1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền nam Việt Nam tuyên bố kế thừa tham gia UNESCO. Sau khi thống nhất đất nước, ngày 12/7/1976, Bộ Ngoại giao nước ta gửi công hàm cho UNESCO thông báo Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kế tục tham gia UNESCO. Tháng 10/1976, với tư cách là thành viên chính thức của UNESCO, lần đầu tiên chính phủ CHXHCN Việt Nam cử một đoàn đại biểu tham dự Đại hội đồng UNESCO lần thứ 19 tổ chức tại Nai-rô-bi (Kenya). Ngày 15/6/1977, Chính phủ thành lập Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Ngoại giao, để đảm nhiệm việc thực hiện các nghĩa vụ, quyền hạn thành viên UNESCO của Việt Nam và thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước ta trong UNESCO. Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu và trình lên Thủ tướng Chính phủ các vấn đề về phương hướng, chính sách, chương trình và kế hoạt hoạt động của Việt Nam đối với UNESCO cũng như phối hợp và điều hoà hoạt động của các ngành có liên quan tới UNESCO. Từ năm 1978, Việt Nam đã cử Phái đoàn đại diện thường trực bên cạnh tổ chức UNESCO tại Paris và từ năm 1982 cử cấp đại sứ làm trưởng Phái đoàn. Kể từ khi gia nhập UNESCO, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của UNESCO về ý tưởng, nhận thức và kinh nghiệm cũng như những đóng góp về tài chính và kỹ thuật ban đầu cho một số dự án của Việt Nam. Thời gian gần đây, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO có những bước phát triển mới cả về lượng và chất và ngày càng thu được nhiều kết quả.
2. NHỮNG THÀNH TỰU 2.1. Hợp tác với UNESCO trong việc triển khai các ý tưởng mới trong hoạch định chính sách Các ý tưởng, các kinh nghiệm quốc tế mà UNESCO cung cấp đã được áp dụng, chuyển tải vào các chương trình hành động, chương trình phát triển, các chính sách, chiến lược quốc gia, được phổ biến, thấm nhuần từ lãnh đạo đến các cấp, đến từng người dân, do đó có tác động sâu bền tới sự phát triển của đất nước. -Trong lĩnh vực giáo dục, những tư tưởng đề cao và cổ vũ cho giáo dục của UNESCO rất phù hợp với việc coi giáo dục là quốc sách của Việt Nam. Đã có một sự hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và UNESCO để thực hiện mục tiêu bao trùm là mang giáo dục lại cho tất cả mọi người như: phổ cập giáo dục tiểu học (trong đó ưu tiên xóa mù chữ); canh tân giáo dục phục vụ phát triển ( trong đó chú trọng đến ứng dụng các phương pháp giảng dạy mới, các thành tựu khoa học, công nghệ vào công tác giảng dạy và quản lý giáo dục); dân chủ hóa và xóa bất bình đẳng trong giáo dục (chú trọng giáo dục các đối tượng như các em gái, phụ nữ, dân nghèo, người dân nông thôn); giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề với mô hình Trung tâm học tập cộng đồng nhằm xóa đói, giảm nghèo và nâng cao năng lực tham gia phát triển cộng đồng cho người nghèo; giáo dục thường xuyên (với ý nghĩa là một quá trình giáo dục bắt đầu từ tuổi trẻ và tiếp tục suốt cả đời bằng sự kết hợp nhịp nhàng các hình thức giáo dục trong và ngoài nhà trường); xây dựng mạng lưới các trường liên kết (nội dung hoạt động của mạng lưới ở Việt Nam là tập trung tích hợp các nội dung giáo dục hiểu biết quốc tế, văn hóa hòa bình, bảo vệ di sản và thúc đẩy giáo dục cho mọi người vào các môn học vừa để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới).... Hiện nay, một trong những chương trình lớn nhất mà chúng ta đang triển khai ở Việt Nam (theo sáng kiến của Liên Hợp Quốc và do UNESCO điều hành chính) là “Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển bền vững 2005-2014”. Mục tiêu của Thập kỷ này là thúc đẩy giáo dục với vai trò là nền tảng cho một xã hội phát triển bền vững hơn và lồng ghép phát triển bền vững với nội dung giáo dục ở các cấp. Khi triển khai ở Việt Nam “Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển bền vững” sẽ thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, làm cho giáo dục đáp ứng với các đòi hỏi yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. -Trong lĩnh vực văn hóa, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO đã tác động
1. MỘT SỐ THÔNG TIN CHUNG Năm 1951, Pháp đưa chính quyền Bảo Đại vào tham gia UNESCO. Sau đó chính quyền Sài gòn duy trì sự có mặt tại UNESCO cho đến khi sụp đổ tháng 4/1975. Tháng 3/1976, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền nam Việt Nam tuyên bố kế thừa tham gia UNESCO. Sau khi thống nhất đất nước, ngày 12/7/1976, Bộ Ngoại giao nước ta gửi công hàm cho UNESCO thông báo Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam kế tục tham gia UNESCO. Tháng 10/1976, với tư cách là thành viên chính thức của UNESCO, lần đầu tiên chính phủ CHXHCN Việt Nam cử một đoàn đại biểu tham dự Đại hội đồng UNESCO lần thứ 19 tổ chức tại Nai-rô-bi (Kenya). Ngày 15/6/1977, Chính phủ thành lập Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam, đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Ngoại giao, để đảm nhiệm việc thực hiện các nghĩa vụ, quyền hạn thành viên UNESCO của Việt Nam và thực hiện chính sách đối ngoại của Nhà nước ta trong UNESCO. Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu và trình lên Thủ tướng Chính phủ các vấn đề về phương hướng, chính sách, chương trình và kế hoạt hoạt động của Việt Nam đối với UNESCO cũng như phối hợp và điều hoà hoạt động của các ngành có liên quan tới UNESCO. Từ năm 1978, Việt Nam đã cử Phái đoàn đại diện thường trực bên cạnh tổ chức UNESCO tại Paris và từ năm 1982 cử cấp đại sứ làm trưởng Phái đoàn. Kể từ khi gia nhập UNESCO, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu của UNESCO về ý tưởng, nhận thức và kinh nghiệm cũng như những đóng góp về tài chính và kỹ thuật ban đầu cho một số dự án của Việt Nam. Thời gian gần đây, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO có những bước phát triển mới cả về lượng và chất và ngày càng thu được nhiều kết quả.
2. NHỮNG THÀNH TỰU 2.1. Hợp tác với UNESCO trong việc triển khai các ý tưởng mới trong hoạch định chính sách Các ý tưởng, các kinh nghiệm quốc tế mà UNESCO cung cấp đã được áp dụng, chuyển tải vào các chương trình hành động, chương trình phát triển, các chính sách, chiến lược quốc gia, được phổ biến, thấm nhuần từ lãnh đạo đến các cấp, đến từng người dân, do đó có tác động sâu bền tới sự phát triển của đất nước. -Trong lĩnh vực giáo dục, những tư tưởng đề cao và cổ vũ cho giáo dục của UNESCO rất phù hợp với việc coi giáo dục là quốc sách của Việt Nam. Đã có một sự hợp tác chặt chẽ giữa Việt Nam và UNESCO để thực hiện mục tiêu bao trùm là mang giáo dục lại cho tất cả mọi người như: phổ cập giáo dục tiểu học (trong đó ưu tiên xóa mù chữ); canh tân giáo dục phục vụ phát triển ( trong đó chú trọng đến ứng dụng các phương pháp giảng dạy mới, các thành tựu khoa học, công nghệ vào công tác giảng dạy và quản lý giáo dục); dân chủ hóa và xóa bất bình đẳng trong giáo dục (chú trọng giáo dục các đối tượng như các em gái, phụ nữ, dân nghèo, người dân nông thôn); giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề với mô hình Trung tâm học tập cộng đồng nhằm xóa đói, giảm nghèo và nâng cao năng lực tham gia phát triển cộng đồng cho người nghèo; giáo dục thường xuyên (với ý nghĩa là một quá trình giáo dục bắt đầu từ tuổi trẻ và tiếp tục suốt cả đời bằng sự kết hợp nhịp nhàng các hình thức giáo dục trong và ngoài nhà trường); xây dựng mạng lưới các trường liên kết (nội dung hoạt động của mạng lưới ở Việt Nam là tập trung tích hợp các nội dung giáo dục hiểu biết quốc tế, văn hóa hòa bình, bảo vệ di sản và thúc đẩy giáo dục cho mọi người vào các môn học vừa để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới).... Hiện nay, một trong những chương trình lớn nhất mà chúng ta đang triển khai ở Việt Nam (theo sáng kiến của Liên Hợp Quốc và do UNESCO điều hành chính) là “Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển bền vững 2005-2014”. Mục tiêu của Thập kỷ này là thúc đẩy giáo dục với vai trò là nền tảng cho một xã hội phát triển bền vững hơn và lồng ghép phát triển bền vững với nội dung giáo dục ở các cấp. Khi triển khai ở Việt Nam “Thập kỷ Giáo dục vì Phát triển bền vững” sẽ thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, làm cho giáo dục đáp ứng với các đòi hỏi yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. -Trong lĩnh vực văn hóa, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO đã tác động
 








Các ý kiến mới nhất