Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

PASTEUR VÀ KOCH

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 10h:26' 18-03-2024
Dung lượng: 2.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Dành tặng Jona, Leïla, Lucie, Mi a, Jamara, Élio , Léa, Mar n, Robin,
An ine và Ma ieu

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH
Nửa cuối thế kỷ XIX là thời đại của những khám phá khoa học kỳ diệu.
Hai nhà bác học Pháp và Đức, ông Louis Pasteur và Robert Koch, đã
sáng lập ra khoa Vi trùng học. Họ cách nhau 20 tuổi, Louis Pasteur sinh ở
Dole, Pháp, năm 1822; Robert Koch sinh ở Clausthal, Đức, năm 1843.
Cuộc chiến khốc liệt giữa nước Pháp và nước Phổ - nước Đức tương
lai - với chiến thắng của Phổ và chiến bại của Pháp năm 1870, đặt hai nhà
bác học trong hai tuyến đối lập, Pasteur suốt đời không bao giờ quên nỗi
quốc hận này. Hơn nữa, trong cuộc thi đua để tìm nguyên nhân các bệnh
truyền nhiễm, những vi sinh vật, họ không ngừng đua tranh, khi thì người
này tìm thấy trước một vi sinh vật, khi thì người kia tìm thấy trước. Môn
đệ của họ cũng thi đua tìm kiếm, nhưng với tinh thần khoan hòa hơn.
Hai ông này hệt như hai đại hiệp, luyện võ đến mức thượng thừa, chọi
nhau từng hiệp một, không bao giờ khuất phục nhau.
Ông Pasteur mất rồi, ông Robert Koch đến thăm Viện Pasteur tại Paris,
được tiếp đón long trọng, thăm mọi nơi… trừ lăng mộ của Pasteur!
Đó là cốt lõi của cuốn sách này.
Người dịch muốn chia sẻ với độc giả Việt Nam cuốn sách vô cùng hấp
dẫn.
Mong đợi hồi âm của độc giả và đóng góp ý kiến về những chỗ không
rõ của bản dịch nhằm nếu có cơ hội tái bản sẽ sửa lại.
Chân thành cám ơn!

Paris, 2 tháng Giêng năm 2015
Vũ Ngọc Quỳnh

VỀ HAI TÁC GIẢ
Annick Perrot là nguyên thủ thư danh dự của Bảo tàng Pasteur Paris.
Maxime Schwartz, cựu học sinh trường Polytechnique tại Paris, là một
nhà sinh vật học phân tử, nguyên Tổng Giám đốc Viện Pasteur Paris.
Annick Perrot và Maxime Schwartz đã đóng góp trong thiết kế và xây
dựng Bảo tàng Alexandre Yersin ở Nha Trang năm 2003, và một phần cho
Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh.

GIỚI THIỆU VÀ DẪN NHẬP
LOUIS PASTEUR & ROBERT KOCH
và
CUỘC CÁCH MẠNG Y HỌC
VĨ ĐẠI THẾ KỶ 19

‫המכח הברת םירפוס תאנק‬
Sự ghen tị giữa các học giả sẽ làm tăng trưởng tri thức
Châm ngôn Talmud
(1)
Xin được lang thang đó đây về một ít câu chuyện cũ của một thời lịch
sử rất có ý nghĩa đối với nhân loại. Lịch sử bao giờ cũng là một câu
chuyện có tính nhân văn thú vị. Thế kỷ 19 là thế kỷ của những cuộc cách
mạng lớn trong khoa học, công nghiệp và giáo dục đại học. Khoa học - các
khoa học chính xác - bao gồm y học và hóa học có một bước tiến vĩ đại,
thay đổi cuộc sống loài người triệt để chưa từng có. Cuộc cách mạng khoa
học thứ hai của thế kỷ 19 mạnh mẽ hơn nhiều cuộc cách mạng cổ điển đầu
tiên ở thế kỷ 17 với Kepler, Galilei và Newton. Thế giới được cách mạng
một cách sâu rộng bởi khoa học, và cuộc cách mạng này là trung tâm của
câu chuyện lịch sử của thế kỷ 19. Trong lĩnh vực y khoa và đời sống, ngày
nay người ta dễ quên những chứng bệnh nguy hiểm như dịch tả, dịch hạch,
lao, dại, bạch hầu, than, từng một thời hoành hành dữ dội thế nào trong lịch
sử. Con người từng hoàn toàn bất lực về nguồn gốc, cách sinh sôi, cơ chế

vận hành, truyền bệnh và cách chữa bệnh. Đó là một cuộc chiến mà con
người không nhận diện được kẻ thù sống ở thế giới vi sinh mắt thường
không thấy. Các cách giải thích “lãng mạn” hay thần bí đều không có nền
tảng khoa học thực nghiệm. Y khoa trong thế kỷ 19 trải qua hai cuộc cách
mạng quan trọng, thứ nhất là bệnh học tế bào (cellular pathology), được
đặt nền móng bởi Matthias Schleiden, Theodor Schwann và Rudolf
Virchow; thứ hai là thuyết mầm của bệnh (germ theory), vi trùng học
(bacteriology) và huyết thanh học (serology) với Louis Pasteur và Robert
Koch. Ngành y không còn là một “nghệ thuật” nữa, mà thành một khoa học
chính xác. Cách điều trị của thời kỳ “dã man” của thế kỷ 18 nhường chỗ
cho các điều trị khoa học tinh tế mới. Và các cuộc thay đổi có tính cách
mạng của khoa học diễn ra trong các thể chế giáo dục đại học cũng được
cách mạng qua mô hình đại học nghiên cứu của Đức, hay Humboldt, khiến
cho việc phát triển và truyền bá thêm thuận lợi gấp bội.
Nhận thức dần dần rằng vi trùng chính là nguyên nhân gây ra bệnh và là
mầm mống truyền bệnh chỉ được cụ thể hóa vào thế kỷ 19 tuy rằng từ ngàn
xưa con người đã hình dung có các sinh vật nhỏ bé có thể gây ra bệnh hay
truyền bệnh. Vào thế kỷ thứ nhất TCN, học giả La Mã Marcus Varro đã
cho rằng những vùng đất sình lầy là nguy hiểm, “vì ở đó những con vật
nhỏ bé sinh sôi, được truyền đi trong không khí, bay vào miệng và đi vào
nội tạng, gây bệnh.” Thế kỷ 16, thời Phục Hưng, Girolamo Fracastorius,
bác sĩ và học giả, người đã đặt cho bệnh giang mai cái tên syphilis, có một
ý tưởng xuất thần, cho rằng môi trường xung quanh chúng ta chứa đầy các
“mầm mống” có thể phát triển trong cơ thể con người và sinh ra bệnh.
Người đương thời với ông, Gerolamo Cardano, kết luận rằng các “mầm
mống bệnh chính là các sinh vật”. Còn tu sĩ dòng Tên người Đức

Athanasius Kircher sống ở Roma thế kỷ 17 khám phá bằng một loại kính
hiển vi còn thô sơ rằng dấm và sữa chua chứa đựng những “con sâu”, và
máu những người chết vì bệnh dịch hạch chứa đầy những sinh vật nhỏ.
Không phải loài người sapiens thống lãnh thế giới như chúng ta thường
nghĩ, mà các hệ vi sinh vật mới là 'chúa tể'. Chúng ngự trị sinh quyển thế
giới đã từ hơn hai tỉ năm qua. Chúng siêu nhỏ bé, nhưng có thể “ăn thịt”
con người dễ dàng. Những trận dịch bệnh tàn phá cả thành phố, vùng và
châu lục. Nặng nề nhất là trận dịch thế kỷ 14 được phương Tây gọi là “Cái
chết Đen”, Black Death, tàn phá khu vực Âu-Á, nặng nề nhất là châu Âu,
giết hại 30-60% dân số châu Âu, làm cho dân số thế giới giảm từ 450 triệu
xuống còn 350-370 triệu. Thế giới không hồi phục lại dân số của thời gian
trước Cái chết Đen cho đến thế kỷ 17. Cái chết Đen gây ra những hệ quả
nghiêm trọng về tôn giáo, xã hội và kinh tế. Đó là loại bệnh dịch hạch
(bubonic plague) gây ra bởi vi trùng Yersinia pestis, sau này được
Alexandre Yersin tìm ra năm 1894 trong trận dịch ở Hồng Kông.

Thần Apollo và Artemis bắn những mũi tên mang bệnh, một ý tưởng
phổ biến cho rằng bệnh là sự trừng phạt của thần linh (Bảo tàng
Louvre, Paris)

Ngay tại Liên bang Xô Viết, khi hệ thống y tế công cộng yếu ớt bị sụp
đổ trong giai đoạn 1915-1922 vì những bất ổn chính trị, hàng triệu người
chết vì các bệnh dịch tả, sốt ban, thương hàn. Năm 1919, khi sốt ban
(typhus) hoành hành, Lênin tuyên bố tại Đại hội Đảng Bolshevik, rằng hoặc
chủ nghĩa xã hội tiêu diệt chấy rận, hoặc chấy rận sẽ tiêu diệt chủ nghĩa xã
hội.

Nạn nhân của Cái chết Đen

Cho đến nửa sau thế kỷ 19, khoảng hai trăm năm sau lời tiên đoán về
thuyết truyền bệnh của Fracastorius, một cuộc cách mạng vĩ đại trong y
khoa và khoa học đã bóc trần những kẻ thù li ti nguy hiểm này, và phát
minh ra được cách điều trị, ngừa bệnh, một cách vững chắc. Homo sapiens
thiết kế một cuộc lật đổ sinh học từ những năm 1880 nhằm triệt hạ một số
chúa tể sừng sỏ nhất. Loài người trên đường chiến thắng và loại bỏ những
căn bệnh nguy hiểm nhất của quá khứ. Thomas Kuhn gọi đây là “Công việc
dọn dẹp”. Với sự tiến bộ vượt bậc của y khoa và khoa học, tương quan lực
lượng giữa con người và vi sinh vật thay đổi tận nền tảng. Các cuộc “tiến
quân” của mầm bệnh cơ bản bị chặn đứng, dân số con người phát triển
nhanh chóng.

Trong cuộc chiến sống còn, nhiều nhà khoa học tên tuổi của nhiều quốc
gia tham gia ở nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng hai người có công lớn
nhất là Louis Pasteur của Pháp, và Robert Koch của Đức. Họ được xem
như hai người khổng lồ, và những vị cứu tinh của nhân loại. Họ cùng nhau
không những khai sinh ra một ngành khoa học mới, vi sinh vật học
(microbiology), mà còn cách mạng ngành y học.
Những năm 1880 có thể được xem là giai đoạn bản lề, giai đoạn Pasteur
và Koch và các nhà vi sinh học khác nhận thức được các hệ miễn nhiễm
hoạt động thế nào, giải mã vai trò của vi sinh vật, và côn trùng trong cơ chế
truyền bệnh, chế tạo các vắc-xin ngừa bệnh, và thuốc trị bệnh. Y tế công
cộng phát triển mạnh mẽ nhằm phòng bệnh. Hàng loạt căn bệnh nguy hiểm
được giải mã.
Các vắc-xin bắt đầu phát triển, vắc-xin ngừa bệnh than năm 1880, bệnh
dại năm 1885, ngừa thương hàn năm 1897, ngừa lao năm 1921*, ngừa bạch
hầu năm 1923, ngừa phong đòn gánh từ những năm 1890 nhưng đến những
năm 1930 mới hoàn thành, ngừa sốt vàng da năm 1937, ngừa cúm năm
1945, ngừa bại liệt (polio) năm 1954, và ngừa sởi năm 1962.
Đó là chủng ngừa có tên BCG (Bacille Calmette-Guérin) của hai nhà nghiên cứu Pháp Albert
Calmette và Camille Guérin. Thuốc điều trị lao hiệu quả đầu tiên là thuốc kháng sinh Streptomycin
được người Mỹ Selman Waksman phát triển năm 1944. Ông được trao giải Nobel cho sáng chế này.
Bệnh lao ngày nay tuy không phải bất trị, nhưng vẫn còn phát triển. Tròn một phần ba dân số thế
giới bị nhiễm mầm bệnh, và cho đến 10 phần trăm trong đó sẽ phát bệnh lúc nào đó trong đời. Bệnh
thường phát sinh mới tại các vùng của châu Phi, Nam Á, và trong khu vực Tây Thái Bình Dương.

Công nghiệp hóa và đô thị hóa của thế kỷ 19 nhanh chóng tạo ra một
khối lượng lớn người suy dinh dưỡng và sống trong những điều kiện vệ
sinh tệ hại ở các thành phố châu Âu và Mỹ, dễ làm mồi cho dịch bệnh.

Thêm vào đó, các cuộc chinh phục của chủ nghĩa đế quốc đặt những người
lính phương Tây vào nguy cơ mắc các bệnh như sốt rét, sốt vàng da, và các
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. Đứng trước những thách thức đó, các
quốc gia phương Tây càng phải động viên nhiều nguồn lực để làm sạch
môi trường, khám phá và chế tạo các thuốc kháng sinh, và vắc-xin. Từ
những năm 1880 trở đi, tương quan lực lượng giữa con người và bệnh dịch
phát triển theo hướng có lợi cho con người đã thay đổi một cách cơ bản và
không đảo ngược được.
(2)
Chúng ta nghe tương đối khá nhiều về những đóng góp của Pasteur.
Ông thuộc giới tinh hoa của một nước Pháp phát triển hàng đầu ở châu Âu,
được đào tạo thành nhà hóa học tại trường tinh hoa École Normale
Superieure, cử nhân, rồi thạc sĩ, rồi tiến sĩ với hai luận văn về hóa và vật
lý. Ông có một năng lực tư duy lý thuyết rất sắc bén. Năm 1865, mới 43
tuổi, ông phát hiện rằng, lên men là hiện tượng thực chất do các vi sinh vật
(microbe) gây ra, một phát hiện cực kỳ quan trọng. Mỗi sự lên men là tác
phẩm của một loại vi sinh vật nhất định. Không có nhiễm bẩn, các vi sinh
vật không thể phát triển. Nó đánh tan quan điểm từ thời Trung cổ, vẫn còn
được nhiều người trong thế kỷ 19 nghe theo, cho rằng bệnh có thể phát
sinh tự phát (spontaneous generation) do vật chất vô cơ gây ra, chẳng hạn
như giòi tìm thấy trong các vật thể thối rửa là xuất hiện và phát triển từ quá
trình lên men hay thối rữa. Pasteur tuyên bố một cách vững tin: “Học
thuyết tự sinh tự phát sẽ không bao giờ hồi phục lại được từ cái đòn chết
người của thí nghiệm đơn giản này. Không có tình huống nào được biết mà
ở đó người ta có thể xác nhận rằng các vi sinh vật xuất hiện trên thế giới

mà không có phôi mầm, không có bố mẹ tương tự như chúng.” Và “Tôi
lấy đi… những mẫm (germ) lơ lửng trong không khí. Do đó tôi lấy đi sự
sống. Sự sống là mầm, mầm là sự sống.”
Khám phá của Pasteur làm cho quan điểm về sự hình thành vi trùng của
bệnh thắng lợi, và đặt nền tảng cho các biện pháp ngừa bệnh về mặt sinh
học trong tương lai, mở ra triển vọng cho nghiên cứu các mầm bệnh truyền
nhiễm, và tìm ra phương pháp chữa trị. Có thể nói, Pasteur là hiện thân cho
sự thay đổi căn bản của trực quan khoa học trong một lãnh vực nhất định
của khoa học tự nhiên: Sự quá độ từ quan điểm thuần hóa học sang quan
điểm sinh vật học khi cắt nghĩa các hiện tượng như lên men, sự thối rữa, và
mưng mủ. Sự phát triển mạnh mẽ của hóa học trong thế kỷ 19, và ảnh
hưởng của các nhà hóa học quan trọng, như Justus von Liebig của Đức, đã
làm cho người ta tin rằng những quá trình nói trên là thuần tính chất hóa
học, và sự xuất hiện các sinh vật nhỏ mà người ta có thể nhìn thấy qua kính
hiển vi chỉ là một sản phẩm phụ, hay hệ quả của những thay đổi hóa học.
Pasteur đã đảo ngược tình thế. Các quá trình hóa học của vật chất vô cơ
không thể tạo ra sinh vật. Ngược lại, phải cần sinh vật - vi trùng hay nấm
chẳng hạn - để cho vật chất vô cơ lên men hay thối rữa, và do đó, các bệnh
nhất định xuất hiện ở người, động vật và cây cỏ. Phải có thủ phạm, mới có
hậu quả.
Dựa trên khám phá đó của Pasteur, phương pháp tiệt trùng theo Pasteur,
hay pasteurization để vinh danh ông, được ứng dụng cho sữa, vang, bia và
thực phẩm. Quá trình “Pasteur-hóa”, đun bia hay vang lên 50 hay 60°C một
thời gian ngắn, được áp dụng sau đó rộng rãi vào thực phẩm, kể cả cho các
sản phẩm sữa. Từ 1863 trở đi, Pasteur có một ảnh hưởng rất lớn lên ngành
công nghiệp Pháp, và tên tuổi ông trở thành quốc tế.

Dựa trên các nhận thức của Pasteur, nhà giải phẫu Anh, Joseph Lister, đã
phát triển nguyên lý sát trùng (antiseptie) năm 1867 cho việc điều trị vết
thương, sau đó ứng dụng vào phẫu thuật, giúp họ có thể mổ mà không gây
nhiễm trùng nguy hiểm đến tánh mạng. (Năm 1858 chẳng hạn, số người bị
cưa chân chết do nhiễm trùng lên đến một phần ba.) Pasteur nổi tiếng vang
dội thế giới, và được ngưỡng mộ nồng nhiệt nhất như một vị anh hùng và
cứu tinh nhân loại*.
Một câu chuyện thương tâm của bác sĩ Ignaz P. Semmelweis, một người Hungary gốc Đức đã có
những biện pháp đi trước các quy trình khử trùng của Pasteur, Koch, Lister. Ông nhận thấy tỷ lệ mắc
bệnh sốt sản (puerperal fever hay childbed fever) gây tử vong có thể được giảm đáng kể nếu sử dụng
khử trùng tay trong các bệnh viện phụ sản, và theo ông đề nghị, nên rửa tay với nước pha clo, và đã
ứng dụng phương pháp này tại Bệnh viện phụ sản ở Vienna. Kết quả của ông là có thể giảm độ tử
vong xuống dưới 1%. Mặc dù có nhiều công bố kết quả dưới ảnh hưởng của biện pháp rửa tay, ý
tưởng của ông bị cộng đồng y khoa bác bỏ kịch liệt. Semmelweis không thể giải thích được phương
pháp của ông, chỉ biết kết quả trong thực nghiệm rõ ràng là như thế. Một số bác sĩ cảm thấy bị xúc
phạm khi bị buộc rửa tay. Năm 1865 Semmelweis bị cưỡng bức vào một bệnh viện tâm thần, nơi
ông chết sau 17 ngày ở tuổi 47 vì chứng nhiễm khuẩn huyết sau khi bị đánh đập bởi những người
bảo vệ ở đây. Phương pháp của ông được công nhận chỉ vài năm sau đó, sau khi Pasteur chứng minh
thuyết mầm bệnh và Lister, căn cứ trên đó, thực hành các biện pháp khử trùng, với sự thành công
lớn.

Năm sau, 1868, không may Pasteur bị đột quỵ làm tê liệt nửa thân bên
trái, gây ảnh hưởng suốt đời ông. Lúc đó ông mới 45 tuổi. Nhưng đột quỵ
không ngăn cản ý chí của ông. Mệnh lệnh của nghiên cứu và của tinh thần
phụng sự cộng đồng giúp ông tiếp tục vững bước tiến lên trong một phần
tư thế kỷ tới.
Khi nghiên cứu cách ngừa bệnh dịch tả gà và bệnh than, Pasteur khám
phá ra một nguyên lý mới: một vi sinh vật được nuôi cấy và bị làm giảm
độc lực, khi được tiêm vào một cơ thể sẽ không những không làm hại cơ
thể đó, mà còn tạo ra hiệu ứng bảo vệ cơ thể đó đối với bệnh mà sinh vật

đó gây ra, bằng cách giúp cho cơ thể phát triển sức đề kháng cao và chiến
thắng bệnh, ông tiêm 50 con cừu với trực khuẩn than có độc lực mạnh
(virulent) được nuôi cấy. Hai mươi lăm con không được tiêm chủng chết.
Những con được tiêm chủng thì sống. Đó là nguyên lý tiêm chủng ngừa
(vaccination), vắc-xin.
Tên tuổi Pasteur lại còn lên cao hơn khi ông áp dụng thành công nguyên
lý chủng ngừa còn non trẻ lên người để chặn đứng bệnh dại chết người
phát sinh từ những vết thương do chó dại cắn, đưa ra phương pháp chích
ngừa và điều trị táo bạo. Cho tới năm 1885, chó dại gây ra hàng loạt những
cái chết đau đớn và kinh hãi cho những ai bị nó cắn, nhất là cho trẻ em,
không thuốc men nào có thể cứu được khi bệnh phát lên. Ý tưởng thiên tài
của Pasteur là lợi dụng có một khoảng cách thời gian (3-5 tuần) từ lúc ủ
bệnh đến khi phát bệnh, ông tiêm ngừa nạn nhân bằng loại vi khuẩn dại đã
được làm suy yếu, giúp cho cơ thể có sức đề kháng để sau đó chiến đấu
mạnh mẽ hơn và chiến thắng bệnh. Nguyên lý chích ngừa phổ biến xuất
phát từ đó. Cậu bé 9 tuổi được cứu sống đầu tiên bằng phương pháp này là
Joseph Meister. Ngay sau đó, cả thế giới chở hàng loạt bệnh nhân đến
Paris!
Việc ứng dụng vắc-xin đầu tiên lên người, mặc dù đã thử nghiệm thành
công nhiều lần trước đó lên động vật, là một quyết định rất khó khăn cho
Pasteur, một vấn đề của lương tâm và trách nhiệm, ông phải hỏi ý kiến của
hai đồng nghiệp, và mọi người đều cho rằng, không có con đường nào
khác, không tiêm ngừa thì cậu bé cũng sẽ chết. Pasteur đành phải chấp
nhận, và trải qua nhiều đêm mất ngủ.

Minh họa Pasteur chiến thắng bệnh dại 1885 của báo Pháp Don
Quichotte

Năm 1888, sau sự thành công vang dội của Pasteur trong điều trị bệnh
dại, và để vinh danh những đóng góp to lớn của ông, Viện Pasteur chính
thức được thành lập tại Paris, bằng tiền đóng góp quốc tế. Chỉ hai năm sau,

1891, Viện Pasteur đầu tiên ở hải ngoại của Pháp được mở ra tại Sài Gòn,
dưới sự chủ trì của bác sĩ Albert Calmette. Có tổng cộng hơn ba mươi Viện
Pasteur chính thức được mở trên thế giới. Đó là mạng lưới chống dịch
bệnh trên thế giới. Đội ngũ của Pasteur dự định mở một Viện Pasteur Mỹ
tại Thành phố New York năm 1885, nhưng rồi bỏ kế hoạch này, và Mỹ
không có những Viện Pasteur chính thức. Một số Viện Pasteur bán chính
thức được thành lập sau đó bởi chính người Mỹ. Cho đến nay, Viện Pasteur
đã có 10 nhà khoa học được giải Nobel. HIV, vi khuẩn gây ra bệnh AIDS,
được tìm thấy ở Viện Pasteur năm 1983.
Vì sao Pasteur thành công? Ông tự nói: “Để tôi kể cho các bạn nghe bí
mật nào đã dẫn tôi đến đích của tôi. Sức mạnh của tôi duy nhất nằm ở sự
bền bỉ của tôi.” Vào ngày cuối trước khi mất, ông còn luyến tiếc công
việc: “Tôi muốn trẻ lại, để sống với nhiệt tình sôi nổi nghiên cứu các bệnh
mới.” và mãi mãi yêu thích lao động: “Một cá nhân khi đã quen với lao
động cật lực có thể sau đó không bao giờ sống mà không có nó được. Lao
động là nền tảng của tất cả mọi thứ trên đời này.”
Trong đấu tranh với Koch, Pasteur cũng vẫn giữ được tính nhân văn của
mình, ông nói, nhà khoa học phải làm hãnh diện vừa cho tổ quốc mình, vừa
cho nhân loại: “Khoa học không có tổ quốc, hoặc đúng hơn, tổ quốc bao
gồm cả nhân loại […]. Nhưng nếu khoa học không có tổ quốc, nhà khoa
học (vẫn) phải làm tất cả những gì để làm tăng lên niềm quang vinh cho tổ
quốc của mình. Trong mỗi nhà bác học, quý vị luôn luôn tìm thấy một nhà
ái quốc lớn. […] Quý vị, những người đại diện các kiến thức này của nhân
loại, một cách gian khổ và tinh tế, để cho chúng trở thành vừa là khoa học
và vừa là nghệ thuật; quý vị, những người tặng cho di sản con người của vũ
trụ những gì đã gặt hái được một cách gian khổ; quý vị mà tên tuổi là danh

dự của tổ quốc của quý vị, quý vị có thể hãnh diện nhận thấy rằng khi làm
việc đó, quý vị đã xứng đáng với nhân loại.”
Năm 1892 một buổi lễ mừng sinh nhật Pasteur 70 tuổi diễn ra rất trọng
thể tại đại giảng đường của Sorbonne. Nhiều nước có gửi đại diện đến.
Trong khi nhiều đồng nghiệp của Koch gởi lời chào và ca ngợi nồng nhiệt
đến Pasteur, như “Chúc mừng nồng nhiệt nhất đến nhà thông thái bất tử và
ân nhân của nhân loại” (Behring), hay “Chúc mừng nồng nhiệt người chinh
phục vĩ đại và yêu chuộng hòa bình của những lãnh vực mới và rộng trong
khoa học sinh vật học, người không phải là bác sĩ nhưng đã khai sáng
những người bác sĩ chúng tôi …” (Klebs), thì Koch chỉ viết vài lời ngắn
ngủi: “Viện Nghiên cứu các Bệnh truyền nhiễm kính gửi nhà thông thái và
thiên tài có những công trạng rất to lớn những lời chúc mừng nồng nhiệt
nhất.”
Ba năm sau, 1895, khi Viện Hàn lâm Khoa học Berlin thăm dò muốn
trao tặng ông huân chương “Pour le Mérite” của Phổ, Pasteur từ chối!
Người ta nhớ lại sự kiện Pasteur từng trả lại bằng tiến sĩ danh dự của Đại
học Bonn.
Ông mất năm 1895, hưởng thọ 72 tuổi, không kịp chứng kiến giải
Nobel ra đời năm 1901 để được vinh danh xứng đáng cho những đóng góp
khai phá của ông. Nhà nước Pháp tổ chức quốc tang cho ông. Thư và điện
tín khắp nơi trên thế giới gởi về Paris chia buồn. Một trong những điện tín
đó được Koch ký tên với nội dung: “Trong sự xúc động sâu sắc về sự mất
mát được cảm nhận ở tầm cỡ thế giới xảy đến cho Viện Pasteur trong hình
hài của người sáng lập thiên tài của nó, Viện Nghiên cứu các Bệnh truyền
nhiễm ở Berlin xin gởi lời phân ưu sâu sắc đến sự đau buồn chung.”

Cần nói thêm, Pasteur là một thiên tài đa dạng. Ở tuổi 25, ông khám phá
ra điều vĩ đại, là tính bất đối xứng (asymetry) của vật chất trong vũ trụ.
Bằng nhiều thí nghiệm, ông đã đi đến quan điểm cho rằng chỉ có vật chất
sống mới tạo ra những hỗn hợp bất đối xứng có tính quang hoạt (optically
active, nghĩa là có năng lực xoay bề mặt của ánh sáng phân cực); và rằng
một cuộc nghiên cứu tích cực các phân tử bất đối xứng sẽ giúp con người
hiểu ra nguồn gốc của sự sống, ông nói: “Tiêu chuẩn đặc biệt này (tính bất
đối xứng phân tử) có lẽ làm thành sự khác biệt duy nhất được xác định rõ
nét ở hiện tại giữa hóa học của vật chất chết và sống.” Và với người bạn
Chappuis, ông nói: “Tôi đang ở bên bờ của những sự huyền bí, và tấm màn
che sự bí mật của chúng ngày càng trở thành mỏng hơn.” Điều huyền bí đó
chính là sự sáng tạo ra sự sống. Ông nói thêm: “Sự sống được chi phối bởi
những hoạt động bất đối xứng. Tôi có thể hình dung ra rằng tất cả loài
sống là, vào buổi sơ khai, và trong cấu trúc của chúng, trong các dạng
ngoài của chúng, là hàm số của sự bất đối xứng vũ trụ.” Năm 1874, ông đã
tiên đoán trước Hàn lâm viện Pháp:
Vũ trụ là một hệ thống bất đối xứng. Tôi tin rằng sự sống như chúng ta
biết, đã xuất hiện từ các quá trình bất đối xứng trong vũ trụ. Vũ trụ là bất
đối xứng.
Rất táo bạo vào lúc ngành vật lý hạt còn rất phôi thai. Một trăm năm
sau, bất đối xứng trở thành đề tài chiếm ngự ngành vật lý hạt, khi hai nhà
vật lý trẻ tuổi gốc Trung Hoa Lee và Yang, cũng như bà Chien-Shiung Wu
tại Mỹ, chứng minh rằng “Chúa thuận tay trái”. Vũ trụ có mầm mống bất
đối xứng từ sâu thẳm, điều quyết định cho sự hình thành sự sống.
(3)

Trong khi đó, Robert Koch, trẻ hơn Pasteur 20 tuổi, được đào tạo khiêm
tốn để làm bác sĩ làng quê, sống và làm việc trong những điều kiện thiếu
thốn, nhưng ông có thiên hướng của một nhà nghiên cứu. Ông là hình ảnh
tượng trưng cho nước Đức đang vươn lên từ nghèo nàn và lạc hậu.
Pasteur tuy là người đã công bố công trình khai mở cho kỷ nguyên vi
trùng học, nhưng con đường đi tới để thiết lập ngành vi trùng học thật sự
còn phải được phát quang và định hướng; và các công cụ, phương pháp
khoa học còn phải được tạo ra. Koch chính là người tiên phong hàng đầu
làm việc đó qua các công việc nghiên cứu và khám phá trực khuẩn than và
lao bằng những phương pháp và kỹ thuật rất đặc thù dành cho lãnh vực
này.
Cơ thể con người chứa hàng tỷ vi sinh vật. Làm sao phân biệt được con
nào gây ra bệnh? Đó là điều mà Koch làm được, một cách hệ thống. Những
đóng góp quan trọng nhất của Koch là xác định được các vi trùng gây ra
bệnh than (Bacillus anthracis, 1876, cho động vật như bò và cừu, cũng như
người), lao (Mycobacterium tuberculosis, 1882), và dịch tả (Vibrio
cholerae, 1883). Đó là những căn bệnh truyền nhiễm hiểm nghèo của nhân
loại, ông đã nghĩ ra những kỹ thuật để truy tìm mầm bệnh và xác định các
tính chất đặc thù của chúng, bằng cách kết hợp ba lãnh vực: nhuộm, kỹ
thuật kính hiển vi, và chụp ảnh để đưa các vi sinh vật nghi là mầm bệnh
được lấy từ môi trường nuôi cấy lên kính hiển vi, nhuộm chúng rồi quan
sát và chụp ảnh. Kỹ thuật nuôi cấy cũng là một sáng kiến của ông. Tất cả
các kỹ thuật của ông trở thành những phương pháp nền tảng cho các phòng
thí nghiệm vi trùng học hiện đại. Ông cũng phát triển một hệ thống tiên đề
cho phép các bác sĩ thử một vi sinh vật có phải là một nhân tố gây ra bệnh
hay không*. Khi Koch trình bày các phương pháp ảnh kính hiển vi, và môi

trường nuôi cấy năm 1881 tại Hội nghị London, Pasteur có ấn tượng sâu
sắc, nắm lấy tay Koch và nói: “Đây là một tiến bộ lớn, Monsieur.”
Koch đưa ra bốn tiên đề (postulates) để xác định một vi sinh vật có phải nhân tố gây ra một chứng
bệnh hay không: 1) Vi sinh vật phải được tìm thấy hiện diện phong phú trong tất cả con vật có bệnh
này, nhưng không hiện diện trong các con vật lành mạnh. 2) Vi sinh vật phải được trích ra từ một con
vật bệnh và nuôi cấy trong một môi trường thuần chủng (pure culture, chỉ một loại). 3) Vi sinh vật
được nuôi cấy này phải gây ra bệnh khi được đưa vào những con vật lành mạnh. 4) Vi sinh vật được
trích ra từ con vật bị bệnh trong thí nghiệm (3), và được nuôi cấy lại trong môi trường thuần chủng
phải là vi sinh vật ban đầu.

Con đường của Koch là khó khăn. Khám phá quan trọng đầu tiên của
ông là trực khuẩn than và chu kỳ sống của nó vào năm 1876. Lúc đó ông
vẫn còn là một bác sĩ làng quê vô danh tại thành phố Wollstein có khoảng
3.000 dân*. Chính tại đây ông bắt đầu một cuộc săn đuổi vi sinh vật gây
bệnh. Đam mê của ông đã biến một phần phòng mạch của ông thành phòng
thí nghiệm, và một phần nhà bếp thành phòng tối chụp ảnh. Còn chiếc kính
hiển vi? Đó là quà tặng của vợ ông vào sinh nhật ông năm 1871 để nghiên
cứu vi sinh vật lúc nhàn rỗi theo sở thích của ông.
Nằm đối diện với Berlin xa xa về phía Đông, bên kia sông Oder. Ngày nay thuộc Ba Lan, gần
Poznan.

Trong những ngày học y khoa tại Göttingen, Koch có một người thầy
nổi tiếng, Jacob Henle, một nhà giải phẫu, người mà 20 năm trước Pasteur
đã phác họa thuyết nhiễm truyền bệnh (contagion theory) bằng vi sinh vật.
Chắc chắn Koch chịu ảnh hưởng của Henle. Các nguyên lý của Koch một
phần là của Henle.
Nhưng chính sự khám phá đầu tiên có ý nghĩa này sẽ giúp ông thoát
khỏi sự cô lập đối với thế giới khoa học. Năm 1880, tức bốn năm sau, ông
được bổ nhiệm làm thành viên thực thụ của Sở Y tế Đế chế và dọn lên

Berlin, gần bệnh viện Charité. Ở đó ông được cung cấp một phòng thí
nghiệm đàng hoàng, và hai trợ lý là hai nhà nghiên cứu tài năng, Georg
Gaffky và Friedrich Loeffler. Chỉ hai năm sau tại đây, khám phá có tính
chất cách mạng đã đến với ông: trực khuẩn lao và những đặc tính của nó.
Bệnh lao, một trong những căn bệnh đáng sợ nhất, vẫn là bí ẩn đến lúc
đó. Bệnh này đã có thể tìm thấy trong các xác ướp của Ai Cập cổ đại. Ở
châu Âu, lao chịu trách nhiệm cho một trong bảy cái chết. Bệnh lao được ví
là “cái chết trắng”, hay “bệnh dịch trắng”, nó không chừa một ai, già cũng
như trẻ, giàu cũng như nghèo, tuy nghèo thì dễ mắc bệnh hơn, và cướp đi
sinh mệnh của hàng loạt người nổi tiếng, như Honoré de Balzac, Franz
Kafka, Baruch Spinoza, Frédéric Chopin, Molière, Novalis, Bernhard
Riemann, Maxim Gorky, Erwin Schrödinger,… Cái chết trắng được đưa rất
nhiều vào kịch nghệ và tiểu thuyết như La Bohème, La Traviata, và Der
Zauberberg (Núi thần). Ngay cả một số nhà nghiên cứu cũng bị chết theo.
Chỉ trong một số ít trường hợp bệnh nhân có thể sống sót, khi bệnh còn
nhẹ, và đi dưỡng bệnh ở các viện điều dưỡng. Thật là đáng sợ. Khi Koch
bắt tay vào nghiên cứu, có những chứng cứ mạnh mẽ rằng bệnh lao là bệnh
truyền nhiễm. Bác sĩ Pháp Jean Antoine Villemin đã chứng minh năm 1865
rằng lao là truyền nhiễm vào các động vật thí nghiệm, một kết quả được
xác nhận đầy đủ bởi Edwin Klebs, Jutius Cohnheim và Carl Salomonsen.
Nhưng không ai nhìn thấy sinh vật gây bệnh này, trong các mô hay nuôi
cấy.
Ngày 24 tháng 3 năm 1882 Robert Koch gây kinh ngạc cho cộng đồng
khoa học khi tuyên bố trước một nhóm nhỏ các nhà khoa học tại Viện Vệ
sinh của Đại học Berlin (nay là Đại học Humboldt) rằng ông đã khám phá
căn nguyên của bệnh lao: trực khuẩn Mycobacterium tuberculosis. Những

tin tức của khám phá của Koch liền lan tỏa nhanh chóng trên thế giới. Chỉ
vài tuần sau, tại Anh, The Times dịch lại công bố kết quả của Koch, và sau
đó tại Mỹ, tờ The New York Times. Koch phút chốc trở nên nổi tiếng và
được dư luận xem là “Cha đẻ của ngành vi trùng học”. Tại thời điểm công
bố khám phá trực khuẩn lao, bệnh này hoành hành tại châu Âu và châu Mỹ.
Khám phá của Koch mở ra con đường chẩn đoán và điều trị. “Buổi tối năm
kia vẫn luôn luôn là một trải nghiệm khoa học lớn nhất của tôi trong ký ức”
như Paul Ehrlich, một đồng nghiệp tên tuổi của Koch, nhớ lại sau này.
Paul Ehrlich mô tả lại buổi ra mắt lịch sử đó “Tại buổi họp đáng nhớ
này, Koch đã xuất hiện trước công chúng với một công bố đánh dấu khúc
quanh trong lịch sử của một căn bệnh truyền nhiễm độc hại của con người.
Với những lời giản dị và sáng sủa, Koch giải thích nguồn gốc hình thành
bệnh của lao với một sự thuyết phục, trình bày nhiều bản kính của kính
hiển vi, và những tư liệu khác”. Tờ The New York Times của Mỹ viết: “Đó
là một trong những khám phá khoa học vĩ đại của thời đại.”
Năm 1883 dịch tả (cholera) lại hoành hành tại Ai Cập và Ấn Độ. Bệnh
này có nguồn gốc Ấn Độ, và lan truyền sang châu Âu vào thế kỷ 19 thông
qua sự thâm nhập người Anh vào Ấn Độ. Nhiều quốc gia gửi đoàn nghiên
cứu đi tìm nguyên nhân. Koch dẫn đầu một đoàn đi nghiên cứu. Tại
Alexandria ông khám phá vi trùng gây bệnh được gọi là Vibrio cholerae, có
hình dấu phẩy, và tại Calcutta ông phát hiện có mối liên hệ giữa nước bẩn
và phát sinh dịch bệnh. Koch trở về trong sự tiếp đón như một vị anh
hùng*. Đoàn Pháp, được Émile Roux dẫn đầu, không may không đi đến
kết quả, và một thành viên của đoàn, Louis Thuillier, lại còn bị thiệt mạng,
nên đoàn rút về sau Ai Cập. Pasteur cảm thấy cay đắng.

Thực ra trước Koch, năm 1854, một nhà khoa học Ý Filippo Pacini (1812-1883) tại Đại học Florence
đã nhìn thấy dưới kính hiển vi loại vi trùng hình dấu phẩy này rồi, và gọi nó là Vibro. Nhưng ông bị
cộng đồng khoa học quên lãng. Koch cũng không biết. Đến 82 năm sau ngày mất của Pacini, 1965,
vi sinh vật này được chính thức đặt cho cái tên Vibrio cholerae Pacini 2854. Cũng năm 1854, bác sĩ
quân y người Anh, John Snow, nhận ra rằng sự truyền nhiễm bệnh dịch tả có liên quan đến nước
uống bị nhiễm bẩn phân. Nhưng lúc đó mầm bệnh vi sinh chưa được khám phá, nên nhận xét của
Snow chỉ mới là giả thuyết. Koch là người khẳng định thêm một cách thuyết phục các kết quả của
Pacini và Snow.

Koch được vua tưởng thưởng 100.000 Đức Mã. Những khám phá này
dẫn tới việc nhà nước Đức đưa ra những biện pháp vệ sinh bao gồm cung
cấp nước sạch, và các biện pháp về sức khỏe công cộng để giúp kiểm soát
dịch bệnh đang phát triển ở Hamburg.

Trực khuẩn bệnh dịch tả Vibrio cholerae được Koch tìm thấy năm
1883

Các khám phá của Koch đã truyền cảm hứng cho một thế hệ các nhà
khoa học, tạo ra phong trào “săn lùng vi sinh vật” đã nhanh chóng “điểm
mặt” các loại vi trùng gây ra bệnh của chúng, và mở đường cho điều trị và

vắc- xin, như Pasteur đ...
 
Gửi ý kiến