ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuviensach.vn
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:32' 05-01-2024
Dung lượng: 614.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: thuviensach.vn
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 16h:32' 05-01-2024
Dung lượng: 614.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
Ernest Hemingway là nhà văn Mỹ nổi tiếng. Ông sinh ngày 21-7-1899 tại Oak Park thuộc
bang Illinois (Mỹ) trong một gia đình bác sĩ và mất ngày 2 -7-1961.
Nguyên lý tảng băng trôi (Iceberg Theory) là đặc điểm trong văn phong của Hemingway. Nó
được mô tả bằng sự kiệm lời và súc tích, và có tầm ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển của văn
chương thế kỉ XX. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm của ông là những người mang đặc trưng của
Chủ nghĩa khắc kỷ “Stoicism” (chủ nghĩa chấp nhận nghịch cảnh), thể hiện một lý tưởng được miêu tả
là "sự vui lòng chịu sức ép" ("grace under pressure"). Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là
những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ.
Ernest Hemingway được nhận Giải thưởng Nobel văn học năm 1954.
https://thuviensach.vn
E.HEMINGWAY- Những dấu ấn cuộc đời và văn chương
NGUYỄN THỊ THỌ
Có thể nói, ông là một nhà văn mà cuộc đời và sự nghiệp văn chương
mang đầy những dấu ấn. năm 1917, khi vừa tròn 18 tuổi, ông đã tình nguyện
tham gia phục vụ ở Kansas (Mỹ). Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
bước vào giai đoạn cuối cùng (1918), cũng là năm ông tình nguyện vào phục
vụ trong một đơn vị quân y ở Italia và bị thương khá nặng khi liều mình cứu
một chiến binh người Italia trên chiến trận. Thật may mắn, ông thoát chết.
Trên cơ thể ông chằng chịt hơn 200 vết thương. Nhà vua Italia đã tặng
thưởng ông Kỷ niệm chương “Chữ thập quân sự” và Huy chương “Vì lòng
dũng cảm”. Cũng tại đây, trái tim chàng trai đa cảm này đã rung lên trước cô
y tá xinh đẹp người Mỹ là Arnessa Phon Curovska.
Và cô y tá xinh đẹp cũng cố làm dịu bớt nỗi đau của ông bằng những
câu chuyện vui, hay bằng những kỷ niệm thời thơ ấu và những điều thầm kín
riêng tư của mình. Ông vui mừng tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 19 ngày sinh
của mình với sự có mặt của cô gái. Rồi họ thề thốt với nhau. Ông ra viện và
tháng ngày chờ đợi cô gái. Nhưng người mà ông yêu đã gây cho ông một vết
thương lòng. Cô gái viết thư cho ông xin được tha thứ vì ngay cả chính cô
cũng bị bất ngờ khi chuẩn bị làm lễ cưới với viên trung uý người Italia. Bị
sốc, ông ốm nặng và sau đó là những cơn say triền mien. Đây là người phụ
nữ đầu tiên và duy nhất bỏ ông. Và cô y tá duyên dáng, xinh đẹp đó cũng đã
thoảng qua. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào năm 1920, ông bắt đầu những
bước đi đầu tiên trên con đường văn chương của mình bằng nghề báo tại
Toronto (Canada) và Chicago và thử viết vài truyện ngắn đầu tiên nhưng thất
bại.
Năm 1921, ở tuổi 22 tràn đầy sức lực và ham muốn tìm tòi những cái
mới của cuộc đời, ông cưới người vợ đầu tiên của mình, đó chính là Hadley
Richardson. Trong hồi ức của mình, ông nhớ lại rằng: “…vào thời điểm, khi
nàng đi vào phòng, tôi rất sửng sốt. Tôi hiểu ngay rằng, đó là cô gái mà tôi
cần lấy làm vợ”. Hadley Richardson là một cô gái tài hoa, giỏi đàn và mê thể
thao. Sau đám cưới, ông chuyển đến sống tại Paris và lần đầu tiên làm quen
với các nhà văn trong nhóm “Tân văn” của nữ văn sĩ Gertrude Stein.
Từ Paris, ông nhiều lần đến Tây Ban Nha để du ngoạn và xem đấu bò
https://thuviensach.vn
tót. Chính những chuyến đi đó đã tạo cho ông những nguồn cảm hứng vô tận
và những kho tư liệu quí giá để ông hoàn thành tác phẩm “Fiesta” về Tây
Ban Nha rất thành công được ông cho xuất bản năm 1926. Một năm sau, ông
li dị với người vợ đầu tiên để cưới Polina Pleifer- một cô gái người Mỹ xinh
đẹp và giàu có. Khi người ta hỏi ông về việc này, ông đã trả lời ngắn gọn và
quyết đoán rằng: “Bởi vì tôi là một thằng đểu”. Sau khi li dị vợ không lâu,
ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết “Mặt trời lại mọc” với lời tựa đề tặng vợ và
con trai. Tiền nhuận bút cuốn sách ông chuyển hết cho vợ bởi lương tâm ông
luôn bị dày vò khi li hôn vợ và cho rằng, đó là “tội lỗi lớn nhất của đời
mình”. Có thể sự ăn năn của ông là đúng. Bởi trước khi trở thành vợ của
ông, Polina là bạn gái thân thiết của vợ ông và sau đó mới trở thành người
tình của chồng bạn. Và hai người phụ nữ đã “đàm phán” với nhau. Cuối
cùng, cũng vì quá yêu ông, nên Hadley đã bao che cho chồng trước bạn bè
và người thân rằng chính nàng muốn li dị, rằng…
Năm 1928, sau ngày cưới Polina một năm, ông cho ra mắt cuốn tiểu
thuyết viết về đề tài chiến tranh, đó là tác phẩm “Trên một đất nước khác”.
Tác phẩm đã nhanh chóng trở thành cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất. Thực
đúng như lời của nhà văn Mỹ Scoth Finjerand từng nói: “Để viết được một
cuốn sách hay mới thì Ernest Hemingway cần có một bà vợ mới”.
Những năm 1933, 1934, ông thực hiện chuyến đi phiêu lưu mạo hiểm
lần thứ nhất sang châu Phi. Những chuyến đi đầy lí thú này đã giúp ông tạo
nên tác phẩm “Những ngọn đồi xanh của châu Phi” (1935). Đây là tác phẩm
nâng ông lên một tầm cao mới và ông đã chính thức trở thành một ngôi sao
trên văn đàn thế giới. Thời gian này, ông sống phiêu lưu nay đây mai đó. Khi
cuộc nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ, ông là một trong những “nhà báo
chiến trường” đầu tiên có mặt.
Những dấu ấn sâu sắc nhất của cuộc nội chiến được ông tập hợp trong
tập trường ca “Khi giờ đã điểm” (1940). Cũng trong năm này, ông li dị
Polina và cưới nữ nhà báo Martha Gelihorn. Và theo ông thì, ở Martha, ông
đã tìm thấy được cái mà Polina không thể có được. Cả hai đều là nhà báo và
nhà văn. Martha cũng đã có cuốn tiểu thuyết “Điều đau khổ tôi đã nhìn thấy”
được đánh giá cao. Đây cũng là thời gian ông cho ra đời tác phẩm nổi tiếng
“Chuông nguyện hồn ai”.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cả hai đều phóng tới mặt trận
châu Âu. Nhưng tình cảm say đắm và mãnh liệt đó của ông với nữ nhà báo
Martha cũng tan biến khi ông bất chợt bắt gặp một nữ phóng viên khác là
https://thuviensach.vn
Mary Welsh. Trái tim ông đã bị chinh phục từ cái nhìn đầu tiên của nàng. Và
nàng cũng thích ông. Ông đã gọi nàng là “quả dưa chuột nhỏ bé” của tôi. Sau
đúng một tuần quen biết, ông ngõ lời cầu hôn “Tôi muốn bà lấy tôi làm
chồng”, mặc dù ông biết Mary đã có chồng, nhưng đã sao, thì cũng như ông
đã có vợ vậy. Và ông chăm sóc cho Mary rất chu đáo. Ông viết thư và làm
thơ tặng nàng. Ông gọi Mary là “tình yêu của tôi”. Ông luôn luôn thổ lộ rằng
“anh yêu em đến ngần nào”, rằng “hãy yêu anh nhiều và mãnh liệt nhé, luôn
chăm sóc anh như chăm sóc một đứa bé, cũng như những em bé chăm sóc
những người bạn lớn của mình…” Đây cũng chính là người vợ đã sống với
ông cho đến những ngày ông đi vào thế giới vĩnh hằng. Thời gian sống vớ
Mary, ông cho ra đời nhiều tác phẩm mà trong đó phải kể đến những tác
phẩm như “Tuyết vùng núi Kalimanscharo” (1948); “Vượt sông và rừng
sâu” (1950) và đặc biệt là “Ông già và biển cả” (1952) - tác phẩm đã đưa
ông lên hàng đầu những đại văn hào của nhân loại. Và cũng chính tác phẩm
văn học mang tính nhân văn sâu sắc này đã mang lại cho ông Giải thưởng
Nobel về văn học (1954)
Sau thời kì hoàng kim, ông rơi vào cuộc sống ẩn dật, trầm cảm, xa rời
bạn bè và cuộc sống văn đàn. Mọi người không nhận ra một Hemingway “rất
đàn ông, rất tự tin và rất đặc trưng của phái mạnh” nữa. Trạng thái trầm cảm
và “kẻ thù” của loài người (Rượu) đã đẩy ông đến cái chết bi thảm-ông tự
kết liễu đời mình bằng một khẩu súng săn (Có nhiều tư liệu cho rằng: đó
chính là định mệnh của dòng họ Hemingway. Bởi cha ông, em trai và em gái
ông, rồi cả cháu nội ông cũng đều chết vì “tự sát”).
Nhà văn Hemingway đã về với cõi vĩnh hằng, nhưng cuộc đời ông, văn
chương ông vẫn còn đó và luôn ẩn chứa những triết lí sâu sắc về thế giới tự
nhiên và con người…
https://thuviensach.vn
Những giai thoại lý thú về Hemingway
Trích đoạn và phỏng dịch Writers Gone Wild–the Feuds, Frolics, and Follies of Literature's
Great Adventurers, Drunkards, Lovers, Iconoclasts, and Misanthropes (Nhà Văn Đại Náo – những
chuyện tranh chấp, nô đùa, và điên rồ trong văn chương của các nhà phiêu lưu, chàng say, người tình,
kẻ đả phá thần tượng, và kẻ ghét người). Bill Peschel biên soạn.
NGUYỄN THỊ HẢI HÀ dịch
Nhà văn nổi tiếng thường được bao vây bằng hào quang của sự thành
công. Người ta ngưỡng mộ tài năng của nhà văn nên quên rằng họ cũng chỉ
là người, đầy tật xấu. Một trong những nhà văn nhiều tài lắm tật là
Hemingway. Tôi xin tặng bạn đọc những giai thoại về Hemingway tôi trích
đoạn, tóm tắt và phỏng dịch từ quyển Writers Gone Wild của Bill Peschel
biên soạn. Đây là một quyển sách rất thú vị, bạn sẽ có lúc tủm tỉm cười như
khi bạn đọc về các ca sĩ hay hoa hậu đánh ghen, và bạn sẽ đôi lần ngạc nhiên
về sự mạo hiểm có thể đưa nhà văn vào cõi chết hay tù đày như trường hợp
của Marguerite Duras, người mà bạn tưởng là chỉ viết truyện đầy nhục cảm
với đàn ông châu Á. Quyển sách nhỏ này có hằng trăm giai thoại thú vị về
hằng trăm tác giả nổi tiếng. Nhưng tôi không muốn dông dài lạc đề, ở đây tôi
chỉ phỏng dịch những đoạn tôi trích trong quyển sách nói trên về nhà văn
Hemingway.
Hemingway làm John Steinbeck nổi lôi đình (1944)
John Steinbeck thích truyện ngắn “The Butterfly and the Tank” của
Hemingway nên viết thư khen ngợi và nhân dịp ngỏ ý muốn gặp
Hemingway. Hẹn gặp nhau ở quán rượu Steinbeck và Hemingway tình cờ
gặp nhà văn John O'Hara. O'Hara đưa cho Hemingway xem cây gậy bằng
blackthorn Steinbeck đã tặng cho ông. Blackthorn là một loại gỗ nổi tiếng
cứng rắn. Hemingway trề môi khịt mũi, “cái này không phải gỗ blackthorn.”
Hemingway đánh cuộc năm mươi Mỹ kim với O'Hara là ông có thể bẻ gãy
cây gậy bằng cái đầu của ông. O'Hara nhận lời đánh cuộc. Hemingway để
gậy lên đầu dùng hai tay kéo hai đầu gậy và bẻ gãy nó. Ông ném mảnh vỡ
của cây gậy vào góc quán và chế nhạo. “Cái này mà ông dám bảo là
blackthorn.”
Steinbeck giận sôi gan. Không những vì cử chỉ phô trương thô lỗ của
https://thuviensach.vn
Hemingway mà còn vì cây gậy này là của ông của Steinbeck để lại. Bạn bè
của Steinbeck thường giật mình khi thấy bình thường ông rất dịu dàng nhưng
nổi giận khi nghe nhắc đến tên Hemingway và nỗi ghét này kéo dài hằng
chục năm. Steinbeck lấy quyển sách The Sun Also Rises (Mặt Trời Vẫn
Mọc) trên kệ sách và đọc một đoạn đối thoại của Hemingway bằng giọng
đều đều làm nó dở đi, khó nghe, rồi bảo. “Tôi không hiểu được tại sao người
ta nghĩ là Hemingway có khả năng viết đối thoại.”
Dần dần Steinbeck cũng bỏ qua. Khi ông nghe Hemingway phê bình
đoạn kết của The Grapes of Wrath (Chùm Nho Uất Hận) – chỗ người đàn
ông bị đói quá đã bú sữa từ ngực của một người đàn bà đang hấp hối –
“không thể là giải pháp cho những khó khăn về kinh tế của chúng ta,”
Steinbeck viết, “Lời phân tích của ông Hemingway không hẵn có giá trị
nhưng quả là buồn cười.”
Hemingway đánh nhau với Stevens (1936)
Người Mỹ có câu nói “Sticks and stones may break my bones but
words never hurt me.” thường được dùng để biện bãi khi bị người ta dùng lời
nói làm tổn thương. Câu thành ngữ này có nghĩa là “Gậy gộc và đá có thể
làm gãy xương tôi nhưng lời nói thì chẳng nhằm gì.” Thật ra lời nói còn làm
đau hơn gậy gộc. Giữa Hemingway và Stevens thì câu nói không phải, có thể
đưa đến chỗ bị đấm vào mồm.
Ursula, em gái của Hemingway, được giới thiệu với Wallace Stevens
trong một buổi tiệc ở Key West, Florida. Stevens là nhà thơ nổi tiếng, gốc
gác ở Hatford thuộc tiểu bang Connecticut. Stevens bảo với Ursula,
Hemingway chỉ là một kẻ giả dối, không phải là đàn ông. Sau buổi tiệc, cô
nàng Ursula về nhà thuật lại với anh. Hemingway lập tức đi tìm ông nhà thơ
hiện đại để cho một bài học. Đây là một cuộc đọ sức khó biết phần thắng sẽ
về ai. Stevens tuy đã năm mươi sáu so với Hemingway chỉ mới ba mươi sáu,
nhưng ông cao hơn, to lớn hơn. Ông cũng là một tay cừ khôi về quyền Anh.
Stevens lúc ấy đang say sưa và Hemingway cũng đã ngà ngà.
Hemingway bắt kịp Stevens ở bến tàu và đòi choảng nhau. Stevens chế
nhạo, “chú mày tưởng chú mày là Ernest Hemingway là ngon lành lắm sao”
rồi thụi cho Hemingway một cái. Hemingway đấm trả lại và sau khi tàn cuộc
chẳng những bàn tay của Stevens bị bộ xương hàm của Hemingway làm gãy,
ông còn bị đánh gục vài ba lần, mặt mũi và mắt bị bầm tím.
https://thuviensach.vn
Lo ngại cho danh tiếng của mình, Stevens là Giám đốc của một hãng
bảo hiểm nổi tiếng, Stevens yêu cầu Hemingway đừng thố lộ với ai việc này.
Dù đồng ý, lời yêu cầu của Stevens cắn rứt Hemingway đến độ ông ta cho
chi tiết này vào một truyện ông đang viết dang dở. Trong “The Short Happy
Life of Francis Macomber,” sau khi Macomber sợ hãi con sư tử nên bỏ chạy,
ông ta yêu cầu Wilson, một người thợ săn người da trắng rất tài giỏi, đừng kể
lại với ai điều này.
“Ông ta không đoán trước được hậu quả này,” Wilson hồi tưởng. “Ông
ta là một thằng tồi, một kẻ hèn nhát… Yêu cầu chúng tôi 'đừng kể lại chuyện
này' là một hành động đáng chê.”
Stevens có lẽ không bao giờ biết vụ này. “Về Hemingway,” ông viết
thư cho một người bạn, “Tôi không thể nói gì nhiều bởi vì tôi không đọc
sách của ông ấy.”
Hemingway chơi khăm vợ
Hemingway là một người ích kỷ, ông cư xử xấu với nhiều người, kể cả
vợ của ông. Người vợ thứ ba của Hemingway, Martha Gellhorn, kết hôn với
ông từ năm 1940 đến năm 1945, là một nhà báo có tài. Bà có nhiệm vụ
tường thuật ngày tổng tấn công (D-day); tuy không phải cận chiến với Phát
xít Đức, bà phải đương đầu với chính ông chồng của bà.
Lấy nhau ba năm, hai người càng lúc càng lạnh nhạt với nhau.
Hemingway nhậu nhiều hơn, viết ít hơn, và – trái ngược với bà – không
muốn dính líu đến chuyện chiến tranh. Ông đã chán ngán thế chiến thứ nhất
và cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Giờ đây ông chỉ muốn được nhậu cho đã
đời với những anh Cuba đồng chí rượu của ông.
Tuy nhiên khi Hemingway nghe tin Gellhorn nhận lời tạp chí Collier's,
bà sẽ tường trình cuộc đổ quân lên châu Âu, bản tính ích kỷ muốn hơn vợ
nổi dậy nên ông lập mưu chơi xấu. Trước tiên, ông thuyết phục tạp chí
Collier's thuê ông, ông cướp của vợ độc quyền tường thuật chiến tranh cho
tờ tạp chí này. Sau đó ông không cho bà được cùng băng qua Đại Tây
Dương với ông bằng phi cơ Không quân Hoàng gia mà bà đã sắp xếp cho
ông.
Gellhorn, để đáp lại, đã thuyết phục một đoàn quân khác cho bà quá
giang. Suốt hai mươi ngày bà theo đoàn tàu quanh co trên biển vừa đi vừa
https://thuviensach.vn
tránh tàu ngầm của Đức. Họ càng phải cẩn thận gắt gao hơn vì đoàn tàu này
chở đầy chất nổ.
Ở Luân Đôn, sau khi ăn nhậu thỏa thuê với bạn bè và chờ hồi phục sau
một tai nạn xe hơi trên đường phố tắt đèn điện để tránh bom, Hemingway
được đưa tên một chiếc tàu khu trục để được tận mắt xem cuộc đổ bộ. Ông
thành công trong nhiệm vụ mang tàu chuyên chở bộ quân đổ lên bãi biển
Omaha. Ngày hôm sau ông quay trở lại Luân Đôn sắp xếp hồ sơ truyền tin.
Trong lúc ấy Gellhorn đến bãi biển Omaha bằng con đường khác.
Được đi chung với tàu bệnh viện, bà đến bờ và nhìn thấy phi cơ Đồng Minh
gầm thét trên đầu và đạn đại bác nổ tung tóe ở chân trời. Khi chiếc tàu bệnh
viện tiếp nhận bệnh nhân, bà tiếp tay với bác sĩ và y tá, thông dịch tiếng
Pháp và tiếng Đức, mang nước, và đút thức ăn cho bệnh nhân.
Đêm ấy, bà lội nước ngập thắt lưng, đi theo các người cứu thương vào
đất liền. Bà nhìn thấy chiến trận xảy ra như cơn ác mộng với đèn tín hiệu đỏ
cháy lóe soi sáng những chiếc xe tăng bị thủng tả tơi, những cái bệ bê tông
đặt súng đại bác vị vỡ toang, và sự vận chuyển liên tục của quân nhân và nhu
yếu phẩm băng qua bãi biển. Bà ghi nhận kỹ lưỡng hàng ngũ của thiết giáp
và xe vận tải tiến sâu vào nội địa rượt đuổi địch quân.
Ở Luân Đôn, bà viết hai bài tường thuật cho tạp chí Collier's trước khi
bà bị bắt và bị quân đội Hoa Kỳ đe dọa trục xuất nếu bà còn vượt ra khỏi
phạm vi phóng viên. Tuy nhiên bà không tuân lệnh và lại lẻn trốn. Suốt cuộc
chiến tranh bà luôn đi trước cảnh sát quân đội một bước, được các quân nhân
giúp đỡ vì họ thán phục sự can đảm và nhan sắc của bà.
Khi Bá Linh thất thủ, bà đã tham dự cuộc oanh kích và tường thuật
cuộc giải phóng trại tập trung Dachau. Bà cũng ly dị Hemingway, người
không bao giờ tha thứ cho bà vì đã đổ bộ trước ông.
Hemingway thiết lập đường dây do thám
Hemingway đã từng giúp FBI thiết lập một đường do thám ở Cuba
trong chiến tranh để thu thập tin tức về những hoạt động của Đức Quốc Xã.
Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền đánh cá Pilar của ông, rồi
long rong trên biển đi tìm tàu ngầm của địch quân. Kế hoạch của
Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước. Khi quân đội Đức Quốc
Xã mở cửa tàu, Hemingway và bạn bè của ông sẽ dùng súng máy và lựu đạn
https://thuviensach.vn
tấn công kẻ địch. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của
Hemingway.
Tuần trăng mật của Hemingway (1921)
Ông hai mươi mốt tuổi và là “Hasovitch” của bà; Bà hai mươi chín tuổi
và là “Nesto” của ông. Trong suốt chín tháng theo đuổi nhau, họ trao đổi
hằng trăm lá thư nhưng chỉ gặp nhau có bảy lần, vì thế có lẽ Hadley
Hemingway rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy bản chất thật của ông chồng Ernest.
Hai người cưới nhau ở Vịnh Horton, miền bắc Michigan và sau lễ cưới,
họ được đưa về hồ Walloon, gần hòn đảo nơi gia đình của Hemingway có
nhà nghỉ mát mùa hè.
Tuần trăng mật bắt đầu không mấy suôn sẻ vì đôi vợ chồng bị ốm và
trời trở lạnh. Khi Ernest không viết văn, họ ở trong nhà và dưỡng bệnh bằng
rượu vang.
Một buổi sáng, Ernest qua bên kia bờ hồ và quá giang xe để mua thức
ăn. Ông mua 2 kí thịt bò, gặp một người bạn trao lại cho ông bộ quân phục
cũ, và ông nhậu rượu lậu với người bạn này đến khi say không còn biết trời
đất gì cả.
Loạng choạng đến bờ hồ, ông “mượn” chiếc xuồng gắn máy của người
bạn và hướng về nhà. Nghe tiếng hò la của Hemingway, Hadley vội vàng
xuống bờ hồ vừa kịp lúc nhìn thấy ông chồng say của bà phóng xuồng trên
những đợt sóng cao. Ông ném cho bà miếng thịt bò và phóng thuyền lên mạn
trên của hồ.
Hadley đi bộ xuyên rừng cho đến khi bà có thể nghe tiếng của Ernest.
Bà nhìn thấy ông mặc bộ quân phục, vẫn còn nửa tỉnh nửa say, và đang hát
một bài quân ca Ý.
Ông cũng chẳng đáng yêu khi cứ nhất quyết mang vợ đi giới thiệu với
mấy cô bồ cũ đang sống ở Petosky gần đấy. Ông giải thích là ông muốn nâng
cao con người ông trong tầm mắt của bà, nhưng bà cho là hành động ấy là
một cử chỉ đề cao tính khoe khoang hợm hĩnh của ông.
Tuần trăng mật, bà thú nhận, “phần lớn là sự thất bại.”
Hemingway khi trời tối
https://thuviensach.vn
Tiểu thuyết của Hemingway có thể được xem là điển hình của trường
phái văn chương hiện đại nhưng thái độ của ông đối với tình dục bắt nguồn
sâu xa từ thời Victoria. Ông tin rằng mỗi người đàn ông chỉ có một số lần
nhất định đạt đến tột đỉnh của khoái cảm vì thế nên phân chia đều những tột
đỉnh khoái cảm này trong suốt chiều dài cuộc đời. Ông cũng tin vào hôn
nhân, nên đã đến bệ thờ làm đám cưới bốn lần, và luôn luôn có một người
chờ sẵn trong khi ông đang làm thủ tục ly dị bà vợ trước.
William Faulkner, người luôn giữ người vợ chính thức nhưng có hàng
tá những cuộc tình vụn vặt, có cách tóm tắt triết lý về hôn nhân của
Hemingway tốt nhất: “Lỗi lầm của Hemingway là ông ta cứ nghĩ là ông ta
phải cưới tất cả các bà tình nhân.”
Hemingway có thể là người hùng trong những cuộc đi săn, đi câu, đánh
quyền, và đấu bò, nhưng dường như ông không phải là dũng sĩ trong chăn
gối. Một phần của vấn đề là do tật nghiện rượu của ông đưa đến chỗ bị bất
lực và càng già càng trở nên tệ hại. Tuy nhiên, Hadley, bà vợ đầu tiên, cho
rằng sự bất lực này thật ra chỉ vì Hemingway quá đãng trí với việc yêu
đương. Đang cơn chăn gối, ông bỗng vói lấy quyển sách trên bàn ngủ và đọc
sách bên trên bờ vai của bà. Điều này đủ để làm nguội lửa lòng của bất cứ
bậc nữ nhi nào.
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
PHẦN 1
Lão đã già, một mình một thuyền câu cá trên dòng Nhiệt lưu và đã tám
mươi tư ngày qua lão không bắt được lấy một mống cá nào. Bốn mươi ngày
đầu thằng bé đi với lão. Nhưng sau bốn mươi ngày không câu được cá, cha
mẹ thằng bé bảo nó rằng rốt cuộc bây giờ ông lão đã hoàn toàn salao, cách
diễn đạt tệ nhất của vận rủi, rồi buộc nó đi theo thuyền khác và ngay trong
tuần lễ đầu tiên chiếc thuyền ấy đã câu được ba con cá lớn. Điều đó khiến
thằng bé buồn khi hằng ngày thấy ông lão trở về với chiếc thuyền không, nó
luôn xuống giúp lão mang khi thì cuộn dây, cái lao móc săn cá, khi thì cái
sào hay tấm buồm quấn quanh cột. Tấm buồm được vá bằng bao bột, cuộn
lại trông như một lá cờ bại trận triền miên.
Ông lão gầy gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt
nám vô hại trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời phản hồi
trên mặt biển nhiệt đới. Những vệt ấy kéo dài xuống cả hai bên má, tay lão
hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những con cá lớn. Nhưng chẳng có vết nào
trong số sẹo ấy còn mới cả. Chúng cũ kỹ như mấy vệt xói mòn trên sa mạc
không cá. Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng
có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất bại.
- Ông Santiago! - thằng bé nói khi hai người leo lên bờ nơi con thuyền
được kéo lên. - Cháu có thể lại đi cùng ông. Chúng ta đã có ít tiền rồi.
Ông lão dạy thằng bé câu cá và nó quý lão.
- Đừng! - lão nói.
- Cháu đang đi với con thuyền may mắn. Hãy ở lại với họ!
- Nhưng ông còn nhớ có hồi suốt tám mươi bảy ngày ta không bắt được
cá nhưng sau đó trong ba tuần lễ ngày nào ta cũng vớ được cá lớn!
- Ông nhớ! - ông lão nói. - Ông biết cháu đã không rời bỏ ông vì thiếu
lòng tin!
- Tại cha cháu bắt làm như thế. Cháu còn nhỏ, cháu phải nghe lời cha!
- Ông hiểu! - ông lão nói. - Đấy là chuyện thường!
https://thuviensach.vn
- Cha cháu chẳng tin đâu!
- Phải! - ông lão nói. - Nhưng chúng ta tin, đúng không?!
1
- Vâng! - thằng bé đáp. - Cháu có thể mời ông một lá bia ở khách sạn
Terrace trước khi chúng ta mang mấy thứ này về nhà chứ?!
- Tại sao lại không?! ông lão nói. - Dân chài với nhau cả mà!
Họ ngồi ở Terrace và rất nhiều người đánh cá trêu ông lão nhưng lão
không giận. Một số khác, những ngư dân lớn tuổi hơn, nhìn lão và cảm thấy
buồn. Nhưng họ không để lộ ra mà chỉ từ tốn nói về dòng chảy, độ sâu
buông câu, về thời tiết tốt, ổn định và về những thứ họ đã nhìn thấy. Mấy tay
đánh cá thành công của ngày ấy đã trở về, xả thịt con cá kiếm của họ, sắp
đầy lên hai tấm ván, mỗi người khiêng một đầu đi xuyên đến nhà để cá, đợi
chiếc xe tải ướp lạnh đưa đến chợ Havana. Những người bắt được cá mập thì
đưa chúng đến xưởng cá mập phía bên kia vịnh; chúng được móc treo lên
bằng ròng rọc, gan bị mổ lấy, vi bị cắt, da bị lột và thịt thì được xẻ thành súc
đưa ướp muối. Khi gió Đông thổi, mùi tanh nồng từ xưởng cá mập bên kia
cảng phả đến. Nhưng hôm nay, mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió thổi chếch
sang hướng Bắc rồi lặng hẳn; trên Terrace trời tỏa nắng dễ chịu.
- Ông Santiago! thằng bé gọi.
- Ừ! - ông lão đáp. Lão đang giữ cái lá và hồi tưởng về nhiều năm
trước.
- Cháu đi kiếm giúp ông mấy con cá mòi cho ngày mai nhé?!
- Đừng. Đi chơi bóng chày đi. Ông vẫn có thể chèo và Rogelio sẽ
quăng lưới!
- Cháu thích đi. Nếu cháu không được câu cá với ông thì cháu muốn
giúp ông việc gì đó!
- Cháu đã mua bia cho ông! ông lão nói. - Cháu thực sự là đàn ông rồi!
- Lần đầu tiên ông đưa cháu ra khơi, cháu lên mấy?!
- Lên năm, và suýt nữa cháu bị chết khi ông lôi con cá quá lớn lên
thuyền, nó gần như quật tan con thuyền ra nhiều mảnh. Cháu có còn nhớ
https://thuviensach.vn
không?!
- Cháu vẫn nhớ cái đuôi quật mạnh; chỗ ngồi chèo thuyền bị gãy và
tiếng nện của cái chày. Cháu nhớ ông ném cháu ra đằng mũi thuyền, nơi
lùng nhùng những sợi dây ướt rồi cháu cảm thấy toàn bộ con thuyền chao
đảo và tiếng ông quật con cá nghe như thể đang đốn cây, máu nóng hổi bắn
cả lên người cháu!
- Có phải cháu thực sự nhớ chuyện ấy hay là do ông kể?!
- Cháu nhớ mọi thứ kể từ cái lần đầu tiên ông cháu ta đi cùng nhau!
Ông lão nhìn thằng bé bằng ánh mắt chan chứa tình thương, tin cậy, ấm
áp của mình.
- Nếu cháu là con ta thì ta sẽ đưa cháu đi cầu may một phen! - lão nói. Nhưng cháu là con của cha mẹ cháu và cháu đang đi trên con thuyền may
mắn!
- Cháu có thể đi kiếm cá mòi chứ? Cháu còn biết nơi cháu có thể kiếm
được bốn con mồi!
- Hôm nay ông vẫn còn mấy con. Ông đã muối chúng trong thùng!
- Để cháu đi kiếm bốn con tươi!
- Một thôi! ông lão nói.
Niềm hy vọng và lòng tin của ông lão chưa bao giờ nguội lạnh. Còn
bây giờ thì chúng đang cuộn lên như khi gió đang nổi.
- Hai! - thằng bé nói.
- Hai! - ông lão đồng ý.
- Cháu không ăn cắp đấy chứ?!
- Cháu không! - thằng bé đáp.
- Cháu mua!
- Cảm ơn cháu! - ông lão nói.
https://thuviensach.vn
Lão quá giản dị để không tự hỏi tính nhún nhường của mình có tự bao
giờ. Nhưng lão biết lão đã có nó và lão biết nó chẳng có gì xấu hổ và cũng
chẳng mảy may phương hại đến niềm kiêu hãnh thực sự.
- Với con nước này, mai sẽ là một ngày tốt lành! - lão nói.
- Ông sẽ đến đâu! - thằng bé hỏi.
- Đi thật xa, khi gió trở thì mới quay về. Ông muốn đến đấy trước khi
trời sáng!
- Cháu sẽ tìm cách để ông ấy cho ra câu xa! - thằng bé nói. - Rồi khi
ông câu được một con gì đấy thật sự lớn, cháu sẽ có thể đến giúp!
- Ông ấy không thích ra khơi xa đâu!
- Vâng! - thằng bé nói.
- Nhưng cháu sẽ thấy cái gì đó, một con chim săn mồi chẳng hạn, mà
ông ấy không thể thấy rồi giục ông ta bám theo bầy cá dorado!
- Mắt ông ấy kém đến thế ư?!
- Ông ấy gần như mù!
- Lạ thật! - ông lão nói. - Ông ấy chưa bao giờ đi săn rùa. Đấy là lý do
làm mắt kém thị lực!
- Nhưng ông đã nhiều năm đi săn rùa tận Moaquito Coat mà mắt ông
vẫn còn tốt!
- Ta là một lão già kỳ lạ!
- Nhưng giờ đây ông có còn đủ sức để dành cho con cá thật lớn
không?!
- Ông chắc thế. Vả lại còn có nhiều mẹo nữa!
- Chúng ta hãy mang dụng cụ về nhà! - thằng bé nói. - Rồi cháu có thể
mang lưới quăng đi bắt cá mòi!
Họ tháo vật dụng khỏi thuyền. Ông lão vác cột buồm, thằng bé mang
thùng gỗ đựng dây, những sợi dây câu màu nâu được bện thật chắc, cái móc,
https://thuviensach.vn
ngọn lao với cán của nó. Thùng đựng mồi để ở đuôi thuyền, bên cạnh cái
chày được dùng để quật những con cá lớn khi bị kéo lên khoang.
Chẳng ai ăn trộm đồ đạc của ông lão, nhưng tốt hơn thì cứ đưa cánh
buồm, cuộn dây nặng vào nhà bởi sương có thể làm chúng hỏng và dẫu cho
lão có hoàn toàn tin chắc là chẳng có người địa phương nào ăn cắp của lão
thì lão vẫn nghĩ cái móc và ngọn lao hẳn có sức cám dỗ khi để trên thuyền.
Họ cùng đi bộ trên con đường đến lều ông lão rồi bước vào qua cánh cửa để
ngỏ. Ông lão dựng cột buồm với lá buồm quấn quanh vào vách, thằng bé đặt
cái thùng gỗ và mấy thứ khác bên cạnh. Cột buồm cao gần bằng chiều cao
của căn lều một buồng. Vách lều được ghép bằng thân loài cọ xù xì có tên
gọi là guano; trong lều có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một
cái bếp trên nền đất để nấu bằng than củi. Trên bức tường màu nâu của
những thân cọ guano đập giập với mấy chiếc lá cứng queo của chúng chồng
lên nhau, là hai bức ảnh màu của Đức Chúa Jesus và Đức Mẹ Đồng Trinh xứ
Cobre Đấy là di vật của vợ lão. Có dạo bức ảnh tô màu của vợ lão cũng được
treo trên tường nhưng rồi lão đã tháo xuống bởi nó khiến lão càng cô đơn
hơn khi nhìn thấy, lão để nó trên giá trong góc dưới chiếc sơ mi sạch của lão.
- Ông có gì ăn không?! - thằng bé hỏi.
- Một niêu cơm gạo vàng với cá. Cháu có muốn ăn không?!
- Thưa không. Cháu sẽ ăn ở nhà. Ông có cần cháu nhóm lửa không?!
- Không! Để lát nữa ông nhóm. Hoặc có lẽ ông sẽ ăn cơm nguội!
- Cháu có thể mang cái lưới quăng đi chứ?!
- Dĩ nhiên!
Không có cái lưới quăng nào cả, thằng bé nhớ rõ cái lúc họ bán nó.
Nhưng ngày nào hai ông cháu cũng vờ tưởng tượng như thế. Và thằng bé
cũng biết chẳng có niêu cơm gạo vàng và cá nào cả.
- Tám mươi lăm là con số may mắn! - ông lão nói. - Cháu có thích ông
mang về con cá nặng gần nửa tấn không?!
- Cháu sẽ lấy cái lưới quăng đi bắt cá mòi. Ông ngồi sưởi nắng trên
ngưỡng cửa chứ?!
https://thuviensach.vn
- Ừ! Ông có tờ báo hôm qua và sẽ đọc về trận bóng chày!
Thằng bé không chắc liệu cái tờ báo hôm qua ấy có phải là sản phẩm
của trí tưởng tượng nữa không. Nhưng ông lão đã lôi tờ báo từ dưới giường
ra.
- Perico cho ông ở bodega! - lão giải thích.
- Cháu sẽ quay lại khi kiếm được vài con cá mòi. Cháu sẽ ướp đá mấy
con của ông cùng của cháu rồi sáng mai chúng ta chia nhau. Khi cháu quay
lại, ông nhớ kể cho cháu nghe chuyện đội bóng đấy!
- Đội Yankee không thể thua!
- Nhưng cháu sợ đội Da Đỏ Cleveland!
- Hãy tin vào đội Yankee, cháu à. Hãy tin tưởng ở Di Maggio vĩ đại!
- Cháu sợ cả đội Hổ Detroit lẫn đội Da Đỏ Cleveland!
- Hãy coi chừng không khéo cháu lại sợ cả đội Đỏ Cincinnati và đội
White Sox của Chicago!
- Ông đọc đi rồi kể cho cháu lúc cháu quay lại!
- Cháu có nghĩ chúng ta nên mua tờ vé số có số cuối là tám mươi lăm
không? Mai là ngày thứ tám mươi lăm!
- Chúng ta có thể mua! thằng bé nói.
- Nhưng thế còn con số cực kỳ kỷ lục của ông là tám mươi bảy!
- Không thể xảy ra lần thứ hai đâu. Cháu có chắc là cháu có thể tìm
được tờ vé số tám mươi lăm ấy chứ?!
- Cháu có thể mua một chiếc!
- Một chiếc?! Hai đô la rưỡi đấy! Ai có thể cho chúng ta vay món tiền
ấy?!
- Dễ thôi mà. Cháu luôn có khả năng vay hai đô rưỡi!
- Ông nghĩ có lẽ ông cũng có khả năng đó. Nhưng ông cố không vay
https://thuviensach.vn...
https://thuviensach.vn
Ernest Hemingway là nhà văn Mỹ nổi tiếng. Ông sinh ngày 21-7-1899 tại Oak Park thuộc
bang Illinois (Mỹ) trong một gia đình bác sĩ và mất ngày 2 -7-1961.
Nguyên lý tảng băng trôi (Iceberg Theory) là đặc điểm trong văn phong của Hemingway. Nó
được mô tả bằng sự kiệm lời và súc tích, và có tầm ảnh hưởng quan trọng trong sự phát triển của văn
chương thế kỉ XX. Nhân vật trung tâm trong tác phẩm của ông là những người mang đặc trưng của
Chủ nghĩa khắc kỷ “Stoicism” (chủ nghĩa chấp nhận nghịch cảnh), thể hiện một lý tưởng được miêu tả
là "sự vui lòng chịu sức ép" ("grace under pressure"). Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là
những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ.
Ernest Hemingway được nhận Giải thưởng Nobel văn học năm 1954.
https://thuviensach.vn
E.HEMINGWAY- Những dấu ấn cuộc đời và văn chương
NGUYỄN THỊ THỌ
Có thể nói, ông là một nhà văn mà cuộc đời và sự nghiệp văn chương
mang đầy những dấu ấn. năm 1917, khi vừa tròn 18 tuổi, ông đã tình nguyện
tham gia phục vụ ở Kansas (Mỹ). Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất
bước vào giai đoạn cuối cùng (1918), cũng là năm ông tình nguyện vào phục
vụ trong một đơn vị quân y ở Italia và bị thương khá nặng khi liều mình cứu
một chiến binh người Italia trên chiến trận. Thật may mắn, ông thoát chết.
Trên cơ thể ông chằng chịt hơn 200 vết thương. Nhà vua Italia đã tặng
thưởng ông Kỷ niệm chương “Chữ thập quân sự” và Huy chương “Vì lòng
dũng cảm”. Cũng tại đây, trái tim chàng trai đa cảm này đã rung lên trước cô
y tá xinh đẹp người Mỹ là Arnessa Phon Curovska.
Và cô y tá xinh đẹp cũng cố làm dịu bớt nỗi đau của ông bằng những
câu chuyện vui, hay bằng những kỷ niệm thời thơ ấu và những điều thầm kín
riêng tư của mình. Ông vui mừng tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 19 ngày sinh
của mình với sự có mặt của cô gái. Rồi họ thề thốt với nhau. Ông ra viện và
tháng ngày chờ đợi cô gái. Nhưng người mà ông yêu đã gây cho ông một vết
thương lòng. Cô gái viết thư cho ông xin được tha thứ vì ngay cả chính cô
cũng bị bất ngờ khi chuẩn bị làm lễ cưới với viên trung uý người Italia. Bị
sốc, ông ốm nặng và sau đó là những cơn say triền mien. Đây là người phụ
nữ đầu tiên và duy nhất bỏ ông. Và cô y tá duyên dáng, xinh đẹp đó cũng đã
thoảng qua. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào năm 1920, ông bắt đầu những
bước đi đầu tiên trên con đường văn chương của mình bằng nghề báo tại
Toronto (Canada) và Chicago và thử viết vài truyện ngắn đầu tiên nhưng thất
bại.
Năm 1921, ở tuổi 22 tràn đầy sức lực và ham muốn tìm tòi những cái
mới của cuộc đời, ông cưới người vợ đầu tiên của mình, đó chính là Hadley
Richardson. Trong hồi ức của mình, ông nhớ lại rằng: “…vào thời điểm, khi
nàng đi vào phòng, tôi rất sửng sốt. Tôi hiểu ngay rằng, đó là cô gái mà tôi
cần lấy làm vợ”. Hadley Richardson là một cô gái tài hoa, giỏi đàn và mê thể
thao. Sau đám cưới, ông chuyển đến sống tại Paris và lần đầu tiên làm quen
với các nhà văn trong nhóm “Tân văn” của nữ văn sĩ Gertrude Stein.
Từ Paris, ông nhiều lần đến Tây Ban Nha để du ngoạn và xem đấu bò
https://thuviensach.vn
tót. Chính những chuyến đi đó đã tạo cho ông những nguồn cảm hứng vô tận
và những kho tư liệu quí giá để ông hoàn thành tác phẩm “Fiesta” về Tây
Ban Nha rất thành công được ông cho xuất bản năm 1926. Một năm sau, ông
li dị với người vợ đầu tiên để cưới Polina Pleifer- một cô gái người Mỹ xinh
đẹp và giàu có. Khi người ta hỏi ông về việc này, ông đã trả lời ngắn gọn và
quyết đoán rằng: “Bởi vì tôi là một thằng đểu”. Sau khi li dị vợ không lâu,
ông cho ra đời cuốn tiểu thuyết “Mặt trời lại mọc” với lời tựa đề tặng vợ và
con trai. Tiền nhuận bút cuốn sách ông chuyển hết cho vợ bởi lương tâm ông
luôn bị dày vò khi li hôn vợ và cho rằng, đó là “tội lỗi lớn nhất của đời
mình”. Có thể sự ăn năn của ông là đúng. Bởi trước khi trở thành vợ của
ông, Polina là bạn gái thân thiết của vợ ông và sau đó mới trở thành người
tình của chồng bạn. Và hai người phụ nữ đã “đàm phán” với nhau. Cuối
cùng, cũng vì quá yêu ông, nên Hadley đã bao che cho chồng trước bạn bè
và người thân rằng chính nàng muốn li dị, rằng…
Năm 1928, sau ngày cưới Polina một năm, ông cho ra mắt cuốn tiểu
thuyết viết về đề tài chiến tranh, đó là tác phẩm “Trên một đất nước khác”.
Tác phẩm đã nhanh chóng trở thành cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất. Thực
đúng như lời của nhà văn Mỹ Scoth Finjerand từng nói: “Để viết được một
cuốn sách hay mới thì Ernest Hemingway cần có một bà vợ mới”.
Những năm 1933, 1934, ông thực hiện chuyến đi phiêu lưu mạo hiểm
lần thứ nhất sang châu Phi. Những chuyến đi đầy lí thú này đã giúp ông tạo
nên tác phẩm “Những ngọn đồi xanh của châu Phi” (1935). Đây là tác phẩm
nâng ông lên một tầm cao mới và ông đã chính thức trở thành một ngôi sao
trên văn đàn thế giới. Thời gian này, ông sống phiêu lưu nay đây mai đó. Khi
cuộc nội chiến Tây Ban Nha bùng nổ, ông là một trong những “nhà báo
chiến trường” đầu tiên có mặt.
Những dấu ấn sâu sắc nhất của cuộc nội chiến được ông tập hợp trong
tập trường ca “Khi giờ đã điểm” (1940). Cũng trong năm này, ông li dị
Polina và cưới nữ nhà báo Martha Gelihorn. Và theo ông thì, ở Martha, ông
đã tìm thấy được cái mà Polina không thể có được. Cả hai đều là nhà báo và
nhà văn. Martha cũng đã có cuốn tiểu thuyết “Điều đau khổ tôi đã nhìn thấy”
được đánh giá cao. Đây cũng là thời gian ông cho ra đời tác phẩm nổi tiếng
“Chuông nguyện hồn ai”.
Khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cả hai đều phóng tới mặt trận
châu Âu. Nhưng tình cảm say đắm và mãnh liệt đó của ông với nữ nhà báo
Martha cũng tan biến khi ông bất chợt bắt gặp một nữ phóng viên khác là
https://thuviensach.vn
Mary Welsh. Trái tim ông đã bị chinh phục từ cái nhìn đầu tiên của nàng. Và
nàng cũng thích ông. Ông đã gọi nàng là “quả dưa chuột nhỏ bé” của tôi. Sau
đúng một tuần quen biết, ông ngõ lời cầu hôn “Tôi muốn bà lấy tôi làm
chồng”, mặc dù ông biết Mary đã có chồng, nhưng đã sao, thì cũng như ông
đã có vợ vậy. Và ông chăm sóc cho Mary rất chu đáo. Ông viết thư và làm
thơ tặng nàng. Ông gọi Mary là “tình yêu của tôi”. Ông luôn luôn thổ lộ rằng
“anh yêu em đến ngần nào”, rằng “hãy yêu anh nhiều và mãnh liệt nhé, luôn
chăm sóc anh như chăm sóc một đứa bé, cũng như những em bé chăm sóc
những người bạn lớn của mình…” Đây cũng chính là người vợ đã sống với
ông cho đến những ngày ông đi vào thế giới vĩnh hằng. Thời gian sống vớ
Mary, ông cho ra đời nhiều tác phẩm mà trong đó phải kể đến những tác
phẩm như “Tuyết vùng núi Kalimanscharo” (1948); “Vượt sông và rừng
sâu” (1950) và đặc biệt là “Ông già và biển cả” (1952) - tác phẩm đã đưa
ông lên hàng đầu những đại văn hào của nhân loại. Và cũng chính tác phẩm
văn học mang tính nhân văn sâu sắc này đã mang lại cho ông Giải thưởng
Nobel về văn học (1954)
Sau thời kì hoàng kim, ông rơi vào cuộc sống ẩn dật, trầm cảm, xa rời
bạn bè và cuộc sống văn đàn. Mọi người không nhận ra một Hemingway “rất
đàn ông, rất tự tin và rất đặc trưng của phái mạnh” nữa. Trạng thái trầm cảm
và “kẻ thù” của loài người (Rượu) đã đẩy ông đến cái chết bi thảm-ông tự
kết liễu đời mình bằng một khẩu súng săn (Có nhiều tư liệu cho rằng: đó
chính là định mệnh của dòng họ Hemingway. Bởi cha ông, em trai và em gái
ông, rồi cả cháu nội ông cũng đều chết vì “tự sát”).
Nhà văn Hemingway đã về với cõi vĩnh hằng, nhưng cuộc đời ông, văn
chương ông vẫn còn đó và luôn ẩn chứa những triết lí sâu sắc về thế giới tự
nhiên và con người…
https://thuviensach.vn
Những giai thoại lý thú về Hemingway
Trích đoạn và phỏng dịch Writers Gone Wild–the Feuds, Frolics, and Follies of Literature's
Great Adventurers, Drunkards, Lovers, Iconoclasts, and Misanthropes (Nhà Văn Đại Náo – những
chuyện tranh chấp, nô đùa, và điên rồ trong văn chương của các nhà phiêu lưu, chàng say, người tình,
kẻ đả phá thần tượng, và kẻ ghét người). Bill Peschel biên soạn.
NGUYỄN THỊ HẢI HÀ dịch
Nhà văn nổi tiếng thường được bao vây bằng hào quang của sự thành
công. Người ta ngưỡng mộ tài năng của nhà văn nên quên rằng họ cũng chỉ
là người, đầy tật xấu. Một trong những nhà văn nhiều tài lắm tật là
Hemingway. Tôi xin tặng bạn đọc những giai thoại về Hemingway tôi trích
đoạn, tóm tắt và phỏng dịch từ quyển Writers Gone Wild của Bill Peschel
biên soạn. Đây là một quyển sách rất thú vị, bạn sẽ có lúc tủm tỉm cười như
khi bạn đọc về các ca sĩ hay hoa hậu đánh ghen, và bạn sẽ đôi lần ngạc nhiên
về sự mạo hiểm có thể đưa nhà văn vào cõi chết hay tù đày như trường hợp
của Marguerite Duras, người mà bạn tưởng là chỉ viết truyện đầy nhục cảm
với đàn ông châu Á. Quyển sách nhỏ này có hằng trăm giai thoại thú vị về
hằng trăm tác giả nổi tiếng. Nhưng tôi không muốn dông dài lạc đề, ở đây tôi
chỉ phỏng dịch những đoạn tôi trích trong quyển sách nói trên về nhà văn
Hemingway.
Hemingway làm John Steinbeck nổi lôi đình (1944)
John Steinbeck thích truyện ngắn “The Butterfly and the Tank” của
Hemingway nên viết thư khen ngợi và nhân dịp ngỏ ý muốn gặp
Hemingway. Hẹn gặp nhau ở quán rượu Steinbeck và Hemingway tình cờ
gặp nhà văn John O'Hara. O'Hara đưa cho Hemingway xem cây gậy bằng
blackthorn Steinbeck đã tặng cho ông. Blackthorn là một loại gỗ nổi tiếng
cứng rắn. Hemingway trề môi khịt mũi, “cái này không phải gỗ blackthorn.”
Hemingway đánh cuộc năm mươi Mỹ kim với O'Hara là ông có thể bẻ gãy
cây gậy bằng cái đầu của ông. O'Hara nhận lời đánh cuộc. Hemingway để
gậy lên đầu dùng hai tay kéo hai đầu gậy và bẻ gãy nó. Ông ném mảnh vỡ
của cây gậy vào góc quán và chế nhạo. “Cái này mà ông dám bảo là
blackthorn.”
Steinbeck giận sôi gan. Không những vì cử chỉ phô trương thô lỗ của
https://thuviensach.vn
Hemingway mà còn vì cây gậy này là của ông của Steinbeck để lại. Bạn bè
của Steinbeck thường giật mình khi thấy bình thường ông rất dịu dàng nhưng
nổi giận khi nghe nhắc đến tên Hemingway và nỗi ghét này kéo dài hằng
chục năm. Steinbeck lấy quyển sách The Sun Also Rises (Mặt Trời Vẫn
Mọc) trên kệ sách và đọc một đoạn đối thoại của Hemingway bằng giọng
đều đều làm nó dở đi, khó nghe, rồi bảo. “Tôi không hiểu được tại sao người
ta nghĩ là Hemingway có khả năng viết đối thoại.”
Dần dần Steinbeck cũng bỏ qua. Khi ông nghe Hemingway phê bình
đoạn kết của The Grapes of Wrath (Chùm Nho Uất Hận) – chỗ người đàn
ông bị đói quá đã bú sữa từ ngực của một người đàn bà đang hấp hối –
“không thể là giải pháp cho những khó khăn về kinh tế của chúng ta,”
Steinbeck viết, “Lời phân tích của ông Hemingway không hẵn có giá trị
nhưng quả là buồn cười.”
Hemingway đánh nhau với Stevens (1936)
Người Mỹ có câu nói “Sticks and stones may break my bones but
words never hurt me.” thường được dùng để biện bãi khi bị người ta dùng lời
nói làm tổn thương. Câu thành ngữ này có nghĩa là “Gậy gộc và đá có thể
làm gãy xương tôi nhưng lời nói thì chẳng nhằm gì.” Thật ra lời nói còn làm
đau hơn gậy gộc. Giữa Hemingway và Stevens thì câu nói không phải, có thể
đưa đến chỗ bị đấm vào mồm.
Ursula, em gái của Hemingway, được giới thiệu với Wallace Stevens
trong một buổi tiệc ở Key West, Florida. Stevens là nhà thơ nổi tiếng, gốc
gác ở Hatford thuộc tiểu bang Connecticut. Stevens bảo với Ursula,
Hemingway chỉ là một kẻ giả dối, không phải là đàn ông. Sau buổi tiệc, cô
nàng Ursula về nhà thuật lại với anh. Hemingway lập tức đi tìm ông nhà thơ
hiện đại để cho một bài học. Đây là một cuộc đọ sức khó biết phần thắng sẽ
về ai. Stevens tuy đã năm mươi sáu so với Hemingway chỉ mới ba mươi sáu,
nhưng ông cao hơn, to lớn hơn. Ông cũng là một tay cừ khôi về quyền Anh.
Stevens lúc ấy đang say sưa và Hemingway cũng đã ngà ngà.
Hemingway bắt kịp Stevens ở bến tàu và đòi choảng nhau. Stevens chế
nhạo, “chú mày tưởng chú mày là Ernest Hemingway là ngon lành lắm sao”
rồi thụi cho Hemingway một cái. Hemingway đấm trả lại và sau khi tàn cuộc
chẳng những bàn tay của Stevens bị bộ xương hàm của Hemingway làm gãy,
ông còn bị đánh gục vài ba lần, mặt mũi và mắt bị bầm tím.
https://thuviensach.vn
Lo ngại cho danh tiếng của mình, Stevens là Giám đốc của một hãng
bảo hiểm nổi tiếng, Stevens yêu cầu Hemingway đừng thố lộ với ai việc này.
Dù đồng ý, lời yêu cầu của Stevens cắn rứt Hemingway đến độ ông ta cho
chi tiết này vào một truyện ông đang viết dang dở. Trong “The Short Happy
Life of Francis Macomber,” sau khi Macomber sợ hãi con sư tử nên bỏ chạy,
ông ta yêu cầu Wilson, một người thợ săn người da trắng rất tài giỏi, đừng kể
lại với ai điều này.
“Ông ta không đoán trước được hậu quả này,” Wilson hồi tưởng. “Ông
ta là một thằng tồi, một kẻ hèn nhát… Yêu cầu chúng tôi 'đừng kể lại chuyện
này' là một hành động đáng chê.”
Stevens có lẽ không bao giờ biết vụ này. “Về Hemingway,” ông viết
thư cho một người bạn, “Tôi không thể nói gì nhiều bởi vì tôi không đọc
sách của ông ấy.”
Hemingway chơi khăm vợ
Hemingway là một người ích kỷ, ông cư xử xấu với nhiều người, kể cả
vợ của ông. Người vợ thứ ba của Hemingway, Martha Gellhorn, kết hôn với
ông từ năm 1940 đến năm 1945, là một nhà báo có tài. Bà có nhiệm vụ
tường thuật ngày tổng tấn công (D-day); tuy không phải cận chiến với Phát
xít Đức, bà phải đương đầu với chính ông chồng của bà.
Lấy nhau ba năm, hai người càng lúc càng lạnh nhạt với nhau.
Hemingway nhậu nhiều hơn, viết ít hơn, và – trái ngược với bà – không
muốn dính líu đến chuyện chiến tranh. Ông đã chán ngán thế chiến thứ nhất
và cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Giờ đây ông chỉ muốn được nhậu cho đã
đời với những anh Cuba đồng chí rượu của ông.
Tuy nhiên khi Hemingway nghe tin Gellhorn nhận lời tạp chí Collier's,
bà sẽ tường trình cuộc đổ quân lên châu Âu, bản tính ích kỷ muốn hơn vợ
nổi dậy nên ông lập mưu chơi xấu. Trước tiên, ông thuyết phục tạp chí
Collier's thuê ông, ông cướp của vợ độc quyền tường thuật chiến tranh cho
tờ tạp chí này. Sau đó ông không cho bà được cùng băng qua Đại Tây
Dương với ông bằng phi cơ Không quân Hoàng gia mà bà đã sắp xếp cho
ông.
Gellhorn, để đáp lại, đã thuyết phục một đoàn quân khác cho bà quá
giang. Suốt hai mươi ngày bà theo đoàn tàu quanh co trên biển vừa đi vừa
https://thuviensach.vn
tránh tàu ngầm của Đức. Họ càng phải cẩn thận gắt gao hơn vì đoàn tàu này
chở đầy chất nổ.
Ở Luân Đôn, sau khi ăn nhậu thỏa thuê với bạn bè và chờ hồi phục sau
một tai nạn xe hơi trên đường phố tắt đèn điện để tránh bom, Hemingway
được đưa tên một chiếc tàu khu trục để được tận mắt xem cuộc đổ bộ. Ông
thành công trong nhiệm vụ mang tàu chuyên chở bộ quân đổ lên bãi biển
Omaha. Ngày hôm sau ông quay trở lại Luân Đôn sắp xếp hồ sơ truyền tin.
Trong lúc ấy Gellhorn đến bãi biển Omaha bằng con đường khác.
Được đi chung với tàu bệnh viện, bà đến bờ và nhìn thấy phi cơ Đồng Minh
gầm thét trên đầu và đạn đại bác nổ tung tóe ở chân trời. Khi chiếc tàu bệnh
viện tiếp nhận bệnh nhân, bà tiếp tay với bác sĩ và y tá, thông dịch tiếng
Pháp và tiếng Đức, mang nước, và đút thức ăn cho bệnh nhân.
Đêm ấy, bà lội nước ngập thắt lưng, đi theo các người cứu thương vào
đất liền. Bà nhìn thấy chiến trận xảy ra như cơn ác mộng với đèn tín hiệu đỏ
cháy lóe soi sáng những chiếc xe tăng bị thủng tả tơi, những cái bệ bê tông
đặt súng đại bác vị vỡ toang, và sự vận chuyển liên tục của quân nhân và nhu
yếu phẩm băng qua bãi biển. Bà ghi nhận kỹ lưỡng hàng ngũ của thiết giáp
và xe vận tải tiến sâu vào nội địa rượt đuổi địch quân.
Ở Luân Đôn, bà viết hai bài tường thuật cho tạp chí Collier's trước khi
bà bị bắt và bị quân đội Hoa Kỳ đe dọa trục xuất nếu bà còn vượt ra khỏi
phạm vi phóng viên. Tuy nhiên bà không tuân lệnh và lại lẻn trốn. Suốt cuộc
chiến tranh bà luôn đi trước cảnh sát quân đội một bước, được các quân nhân
giúp đỡ vì họ thán phục sự can đảm và nhan sắc của bà.
Khi Bá Linh thất thủ, bà đã tham dự cuộc oanh kích và tường thuật
cuộc giải phóng trại tập trung Dachau. Bà cũng ly dị Hemingway, người
không bao giờ tha thứ cho bà vì đã đổ bộ trước ông.
Hemingway thiết lập đường dây do thám
Hemingway đã từng giúp FBI thiết lập một đường do thám ở Cuba
trong chiến tranh để thu thập tin tức về những hoạt động của Đức Quốc Xã.
Ông chất đầy đạn dược và chất nổ lên chiếc thuyền đánh cá Pilar của ông, rồi
long rong trên biển đi tìm tàu ngầm của địch quân. Kế hoạch của
Hemingway là dụ cho tàu ngầm nổi lên mặt nước. Khi quân đội Đức Quốc
Xã mở cửa tàu, Hemingway và bạn bè của ông sẽ dùng súng máy và lựu đạn
https://thuviensach.vn
tấn công kẻ địch. Tuy nhiên, không có chiếc tàu ngầm nào bị mắc bẫy của
Hemingway.
Tuần trăng mật của Hemingway (1921)
Ông hai mươi mốt tuổi và là “Hasovitch” của bà; Bà hai mươi chín tuổi
và là “Nesto” của ông. Trong suốt chín tháng theo đuổi nhau, họ trao đổi
hằng trăm lá thư nhưng chỉ gặp nhau có bảy lần, vì thế có lẽ Hadley
Hemingway rất ngỡ ngàng khi nhìn thấy bản chất thật của ông chồng Ernest.
Hai người cưới nhau ở Vịnh Horton, miền bắc Michigan và sau lễ cưới,
họ được đưa về hồ Walloon, gần hòn đảo nơi gia đình của Hemingway có
nhà nghỉ mát mùa hè.
Tuần trăng mật bắt đầu không mấy suôn sẻ vì đôi vợ chồng bị ốm và
trời trở lạnh. Khi Ernest không viết văn, họ ở trong nhà và dưỡng bệnh bằng
rượu vang.
Một buổi sáng, Ernest qua bên kia bờ hồ và quá giang xe để mua thức
ăn. Ông mua 2 kí thịt bò, gặp một người bạn trao lại cho ông bộ quân phục
cũ, và ông nhậu rượu lậu với người bạn này đến khi say không còn biết trời
đất gì cả.
Loạng choạng đến bờ hồ, ông “mượn” chiếc xuồng gắn máy của người
bạn và hướng về nhà. Nghe tiếng hò la của Hemingway, Hadley vội vàng
xuống bờ hồ vừa kịp lúc nhìn thấy ông chồng say của bà phóng xuồng trên
những đợt sóng cao. Ông ném cho bà miếng thịt bò và phóng thuyền lên mạn
trên của hồ.
Hadley đi bộ xuyên rừng cho đến khi bà có thể nghe tiếng của Ernest.
Bà nhìn thấy ông mặc bộ quân phục, vẫn còn nửa tỉnh nửa say, và đang hát
một bài quân ca Ý.
Ông cũng chẳng đáng yêu khi cứ nhất quyết mang vợ đi giới thiệu với
mấy cô bồ cũ đang sống ở Petosky gần đấy. Ông giải thích là ông muốn nâng
cao con người ông trong tầm mắt của bà, nhưng bà cho là hành động ấy là
một cử chỉ đề cao tính khoe khoang hợm hĩnh của ông.
Tuần trăng mật, bà thú nhận, “phần lớn là sự thất bại.”
Hemingway khi trời tối
https://thuviensach.vn
Tiểu thuyết của Hemingway có thể được xem là điển hình của trường
phái văn chương hiện đại nhưng thái độ của ông đối với tình dục bắt nguồn
sâu xa từ thời Victoria. Ông tin rằng mỗi người đàn ông chỉ có một số lần
nhất định đạt đến tột đỉnh của khoái cảm vì thế nên phân chia đều những tột
đỉnh khoái cảm này trong suốt chiều dài cuộc đời. Ông cũng tin vào hôn
nhân, nên đã đến bệ thờ làm đám cưới bốn lần, và luôn luôn có một người
chờ sẵn trong khi ông đang làm thủ tục ly dị bà vợ trước.
William Faulkner, người luôn giữ người vợ chính thức nhưng có hàng
tá những cuộc tình vụn vặt, có cách tóm tắt triết lý về hôn nhân của
Hemingway tốt nhất: “Lỗi lầm của Hemingway là ông ta cứ nghĩ là ông ta
phải cưới tất cả các bà tình nhân.”
Hemingway có thể là người hùng trong những cuộc đi săn, đi câu, đánh
quyền, và đấu bò, nhưng dường như ông không phải là dũng sĩ trong chăn
gối. Một phần của vấn đề là do tật nghiện rượu của ông đưa đến chỗ bị bất
lực và càng già càng trở nên tệ hại. Tuy nhiên, Hadley, bà vợ đầu tiên, cho
rằng sự bất lực này thật ra chỉ vì Hemingway quá đãng trí với việc yêu
đương. Đang cơn chăn gối, ông bỗng vói lấy quyển sách trên bàn ngủ và đọc
sách bên trên bờ vai của bà. Điều này đủ để làm nguội lửa lòng của bất cứ
bậc nữ nhi nào.
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
PHẦN 1
Lão đã già, một mình một thuyền câu cá trên dòng Nhiệt lưu và đã tám
mươi tư ngày qua lão không bắt được lấy một mống cá nào. Bốn mươi ngày
đầu thằng bé đi với lão. Nhưng sau bốn mươi ngày không câu được cá, cha
mẹ thằng bé bảo nó rằng rốt cuộc bây giờ ông lão đã hoàn toàn salao, cách
diễn đạt tệ nhất của vận rủi, rồi buộc nó đi theo thuyền khác và ngay trong
tuần lễ đầu tiên chiếc thuyền ấy đã câu được ba con cá lớn. Điều đó khiến
thằng bé buồn khi hằng ngày thấy ông lão trở về với chiếc thuyền không, nó
luôn xuống giúp lão mang khi thì cuộn dây, cái lao móc săn cá, khi thì cái
sào hay tấm buồm quấn quanh cột. Tấm buồm được vá bằng bao bột, cuộn
lại trông như một lá cờ bại trận triền miên.
Ông lão gầy gò, giơ cả xương, gáy hằn sâu nhiều nếp nhăn. Những vệt
nám vô hại trên làn da má của lão do bị ung thư bởi ánh mặt trời phản hồi
trên mặt biển nhiệt đới. Những vệt ấy kéo dài xuống cả hai bên má, tay lão
hằn những vết sẹo sâu bởi kéo những con cá lớn. Nhưng chẳng có vết nào
trong số sẹo ấy còn mới cả. Chúng cũ kỹ như mấy vệt xói mòn trên sa mạc
không cá. Mọi thứ trên cơ thể lão đều toát lên vẻ già nua, trừ đôi mắt; chúng
có cùng màu với nước biển, vui vẻ và không hề thất bại.
- Ông Santiago! - thằng bé nói khi hai người leo lên bờ nơi con thuyền
được kéo lên. - Cháu có thể lại đi cùng ông. Chúng ta đã có ít tiền rồi.
Ông lão dạy thằng bé câu cá và nó quý lão.
- Đừng! - lão nói.
- Cháu đang đi với con thuyền may mắn. Hãy ở lại với họ!
- Nhưng ông còn nhớ có hồi suốt tám mươi bảy ngày ta không bắt được
cá nhưng sau đó trong ba tuần lễ ngày nào ta cũng vớ được cá lớn!
- Ông nhớ! - ông lão nói. - Ông biết cháu đã không rời bỏ ông vì thiếu
lòng tin!
- Tại cha cháu bắt làm như thế. Cháu còn nhỏ, cháu phải nghe lời cha!
- Ông hiểu! - ông lão nói. - Đấy là chuyện thường!
https://thuviensach.vn
- Cha cháu chẳng tin đâu!
- Phải! - ông lão nói. - Nhưng chúng ta tin, đúng không?!
1
- Vâng! - thằng bé đáp. - Cháu có thể mời ông một lá bia ở khách sạn
Terrace trước khi chúng ta mang mấy thứ này về nhà chứ?!
- Tại sao lại không?! ông lão nói. - Dân chài với nhau cả mà!
Họ ngồi ở Terrace và rất nhiều người đánh cá trêu ông lão nhưng lão
không giận. Một số khác, những ngư dân lớn tuổi hơn, nhìn lão và cảm thấy
buồn. Nhưng họ không để lộ ra mà chỉ từ tốn nói về dòng chảy, độ sâu
buông câu, về thời tiết tốt, ổn định và về những thứ họ đã nhìn thấy. Mấy tay
đánh cá thành công của ngày ấy đã trở về, xả thịt con cá kiếm của họ, sắp
đầy lên hai tấm ván, mỗi người khiêng một đầu đi xuyên đến nhà để cá, đợi
chiếc xe tải ướp lạnh đưa đến chợ Havana. Những người bắt được cá mập thì
đưa chúng đến xưởng cá mập phía bên kia vịnh; chúng được móc treo lên
bằng ròng rọc, gan bị mổ lấy, vi bị cắt, da bị lột và thịt thì được xẻ thành súc
đưa ướp muối. Khi gió Đông thổi, mùi tanh nồng từ xưởng cá mập bên kia
cảng phả đến. Nhưng hôm nay, mùi cá chỉ thoang thoảng vì gió thổi chếch
sang hướng Bắc rồi lặng hẳn; trên Terrace trời tỏa nắng dễ chịu.
- Ông Santiago! thằng bé gọi.
- Ừ! - ông lão đáp. Lão đang giữ cái lá và hồi tưởng về nhiều năm
trước.
- Cháu đi kiếm giúp ông mấy con cá mòi cho ngày mai nhé?!
- Đừng. Đi chơi bóng chày đi. Ông vẫn có thể chèo và Rogelio sẽ
quăng lưới!
- Cháu thích đi. Nếu cháu không được câu cá với ông thì cháu muốn
giúp ông việc gì đó!
- Cháu đã mua bia cho ông! ông lão nói. - Cháu thực sự là đàn ông rồi!
- Lần đầu tiên ông đưa cháu ra khơi, cháu lên mấy?!
- Lên năm, và suýt nữa cháu bị chết khi ông lôi con cá quá lớn lên
thuyền, nó gần như quật tan con thuyền ra nhiều mảnh. Cháu có còn nhớ
https://thuviensach.vn
không?!
- Cháu vẫn nhớ cái đuôi quật mạnh; chỗ ngồi chèo thuyền bị gãy và
tiếng nện của cái chày. Cháu nhớ ông ném cháu ra đằng mũi thuyền, nơi
lùng nhùng những sợi dây ướt rồi cháu cảm thấy toàn bộ con thuyền chao
đảo và tiếng ông quật con cá nghe như thể đang đốn cây, máu nóng hổi bắn
cả lên người cháu!
- Có phải cháu thực sự nhớ chuyện ấy hay là do ông kể?!
- Cháu nhớ mọi thứ kể từ cái lần đầu tiên ông cháu ta đi cùng nhau!
Ông lão nhìn thằng bé bằng ánh mắt chan chứa tình thương, tin cậy, ấm
áp của mình.
- Nếu cháu là con ta thì ta sẽ đưa cháu đi cầu may một phen! - lão nói. Nhưng cháu là con của cha mẹ cháu và cháu đang đi trên con thuyền may
mắn!
- Cháu có thể đi kiếm cá mòi chứ? Cháu còn biết nơi cháu có thể kiếm
được bốn con mồi!
- Hôm nay ông vẫn còn mấy con. Ông đã muối chúng trong thùng!
- Để cháu đi kiếm bốn con tươi!
- Một thôi! ông lão nói.
Niềm hy vọng và lòng tin của ông lão chưa bao giờ nguội lạnh. Còn
bây giờ thì chúng đang cuộn lên như khi gió đang nổi.
- Hai! - thằng bé nói.
- Hai! - ông lão đồng ý.
- Cháu không ăn cắp đấy chứ?!
- Cháu không! - thằng bé đáp.
- Cháu mua!
- Cảm ơn cháu! - ông lão nói.
https://thuviensach.vn
Lão quá giản dị để không tự hỏi tính nhún nhường của mình có tự bao
giờ. Nhưng lão biết lão đã có nó và lão biết nó chẳng có gì xấu hổ và cũng
chẳng mảy may phương hại đến niềm kiêu hãnh thực sự.
- Với con nước này, mai sẽ là một ngày tốt lành! - lão nói.
- Ông sẽ đến đâu! - thằng bé hỏi.
- Đi thật xa, khi gió trở thì mới quay về. Ông muốn đến đấy trước khi
trời sáng!
- Cháu sẽ tìm cách để ông ấy cho ra câu xa! - thằng bé nói. - Rồi khi
ông câu được một con gì đấy thật sự lớn, cháu sẽ có thể đến giúp!
- Ông ấy không thích ra khơi xa đâu!
- Vâng! - thằng bé nói.
- Nhưng cháu sẽ thấy cái gì đó, một con chim săn mồi chẳng hạn, mà
ông ấy không thể thấy rồi giục ông ta bám theo bầy cá dorado!
- Mắt ông ấy kém đến thế ư?!
- Ông ấy gần như mù!
- Lạ thật! - ông lão nói. - Ông ấy chưa bao giờ đi săn rùa. Đấy là lý do
làm mắt kém thị lực!
- Nhưng ông đã nhiều năm đi săn rùa tận Moaquito Coat mà mắt ông
vẫn còn tốt!
- Ta là một lão già kỳ lạ!
- Nhưng giờ đây ông có còn đủ sức để dành cho con cá thật lớn
không?!
- Ông chắc thế. Vả lại còn có nhiều mẹo nữa!
- Chúng ta hãy mang dụng cụ về nhà! - thằng bé nói. - Rồi cháu có thể
mang lưới quăng đi bắt cá mòi!
Họ tháo vật dụng khỏi thuyền. Ông lão vác cột buồm, thằng bé mang
thùng gỗ đựng dây, những sợi dây câu màu nâu được bện thật chắc, cái móc,
https://thuviensach.vn
ngọn lao với cán của nó. Thùng đựng mồi để ở đuôi thuyền, bên cạnh cái
chày được dùng để quật những con cá lớn khi bị kéo lên khoang.
Chẳng ai ăn trộm đồ đạc của ông lão, nhưng tốt hơn thì cứ đưa cánh
buồm, cuộn dây nặng vào nhà bởi sương có thể làm chúng hỏng và dẫu cho
lão có hoàn toàn tin chắc là chẳng có người địa phương nào ăn cắp của lão
thì lão vẫn nghĩ cái móc và ngọn lao hẳn có sức cám dỗ khi để trên thuyền.
Họ cùng đi bộ trên con đường đến lều ông lão rồi bước vào qua cánh cửa để
ngỏ. Ông lão dựng cột buồm với lá buồm quấn quanh vào vách, thằng bé đặt
cái thùng gỗ và mấy thứ khác bên cạnh. Cột buồm cao gần bằng chiều cao
của căn lều một buồng. Vách lều được ghép bằng thân loài cọ xù xì có tên
gọi là guano; trong lều có một cái giường, một cái bàn, một cái ghế và một
cái bếp trên nền đất để nấu bằng than củi. Trên bức tường màu nâu của
những thân cọ guano đập giập với mấy chiếc lá cứng queo của chúng chồng
lên nhau, là hai bức ảnh màu của Đức Chúa Jesus và Đức Mẹ Đồng Trinh xứ
Cobre Đấy là di vật của vợ lão. Có dạo bức ảnh tô màu của vợ lão cũng được
treo trên tường nhưng rồi lão đã tháo xuống bởi nó khiến lão càng cô đơn
hơn khi nhìn thấy, lão để nó trên giá trong góc dưới chiếc sơ mi sạch của lão.
- Ông có gì ăn không?! - thằng bé hỏi.
- Một niêu cơm gạo vàng với cá. Cháu có muốn ăn không?!
- Thưa không. Cháu sẽ ăn ở nhà. Ông có cần cháu nhóm lửa không?!
- Không! Để lát nữa ông nhóm. Hoặc có lẽ ông sẽ ăn cơm nguội!
- Cháu có thể mang cái lưới quăng đi chứ?!
- Dĩ nhiên!
Không có cái lưới quăng nào cả, thằng bé nhớ rõ cái lúc họ bán nó.
Nhưng ngày nào hai ông cháu cũng vờ tưởng tượng như thế. Và thằng bé
cũng biết chẳng có niêu cơm gạo vàng và cá nào cả.
- Tám mươi lăm là con số may mắn! - ông lão nói. - Cháu có thích ông
mang về con cá nặng gần nửa tấn không?!
- Cháu sẽ lấy cái lưới quăng đi bắt cá mòi. Ông ngồi sưởi nắng trên
ngưỡng cửa chứ?!
https://thuviensach.vn
- Ừ! Ông có tờ báo hôm qua và sẽ đọc về trận bóng chày!
Thằng bé không chắc liệu cái tờ báo hôm qua ấy có phải là sản phẩm
của trí tưởng tượng nữa không. Nhưng ông lão đã lôi tờ báo từ dưới giường
ra.
- Perico cho ông ở bodega! - lão giải thích.
- Cháu sẽ quay lại khi kiếm được vài con cá mòi. Cháu sẽ ướp đá mấy
con của ông cùng của cháu rồi sáng mai chúng ta chia nhau. Khi cháu quay
lại, ông nhớ kể cho cháu nghe chuyện đội bóng đấy!
- Đội Yankee không thể thua!
- Nhưng cháu sợ đội Da Đỏ Cleveland!
- Hãy tin vào đội Yankee, cháu à. Hãy tin tưởng ở Di Maggio vĩ đại!
- Cháu sợ cả đội Hổ Detroit lẫn đội Da Đỏ Cleveland!
- Hãy coi chừng không khéo cháu lại sợ cả đội Đỏ Cincinnati và đội
White Sox của Chicago!
- Ông đọc đi rồi kể cho cháu lúc cháu quay lại!
- Cháu có nghĩ chúng ta nên mua tờ vé số có số cuối là tám mươi lăm
không? Mai là ngày thứ tám mươi lăm!
- Chúng ta có thể mua! thằng bé nói.
- Nhưng thế còn con số cực kỳ kỷ lục của ông là tám mươi bảy!
- Không thể xảy ra lần thứ hai đâu. Cháu có chắc là cháu có thể tìm
được tờ vé số tám mươi lăm ấy chứ?!
- Cháu có thể mua một chiếc!
- Một chiếc?! Hai đô la rưỡi đấy! Ai có thể cho chúng ta vay món tiền
ấy?!
- Dễ thôi mà. Cháu luôn có khả năng vay hai đô rưỡi!
- Ông nghĩ có lẽ ông cũng có khả năng đó. Nhưng ông cố không vay
https://thuviensach.vn...
 








Các ý kiến mới nhất