Tìm kiếm Giáo án
Ôn thi tốt nghiệp THPT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: SGK
Người gửi: Nguyễn Thị Tư
Ngày gửi: 20h:41' 08-04-2008
Dung lượng: 362.0 KB
Số lượt tải: 163
Nguồn: SGK
Người gửi: Nguyễn Thị Tư
Ngày gửi: 20h:41' 08-04-2008
Dung lượng: 362.0 KB
Số lượt tải: 163
Số lượt thích:
0 người
Đề 1: câu1 (3 đ ): nêu hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nhật kí trong tù. Hình tượng Hồ Chí Minh trong NKTT, Phong cách nghệ thuật thơ HCM qua các tác phẩm.
Câu 2 (7 đ): Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.
Gợi ý:
Câu 1:
Hoàn cảnh ra đời NKTT: Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Người bị giải qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng tây – Trung Quốc trong hoàn cảnh Cách mạng Việt Nam đang từng giờ, từng phút cần đến Người.
Hình tượng HCM trong NKTT:
+ Vừa kiên cường bất khuất vừa mềm mại tinh tế
+ Vừa ung dung tự tại vừa khắc khoải ngóng trông.
+ Vừa lo âu trằn trọc vừavừa lạc quan tin tưởng
Tất cả bắt nguồn từ lòng yêu nước ênh mông, một tấm lòng nhân đạo lớn, cốt cách một Đại Trí, Đại nhân, đại dũng
Phong cách nghệ thuật thơ HCM trong NKTT:
+ Giản dị trong sáng, hồn nhiên
+Hòa hợp bút pháp cổ điển và hiện đại
+ Bản chất chiến sĩ thường được thể hiện qua hình tượng thi sĩ
+ Một nụ cười hài hước tự trào lấp lánh.
Câu 2: Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.
Mở bài: Tên truyện Vi Hành được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp: “Incognito”, in trên báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, ngày 19-2-1923. Phạm Huy Thông dịch là “Vi hành” in trong tập “Truyện và ký” của Nguyễn Ái Quốc (1974). Cùng với vở kịch “Con rồng tre”, truyện “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”, truyện ngắn “Vi hành” này nhằm châm biếm sâu cay tên vua bù nhìn Khải Định khi hắn sang Pháp năm 1922. Truyện đã Vạch trần bộ mặt xấu xa, thối nát của tên vua bù nhìn, đồng thời châm biếm chế giễu chế độ thực dân Pháp.
Thân bài:
Nội dung
Một trường hợp nhầm lẫn hiếm có. Trong toa điện ngầm Paris, đôi nam nữ thanh niên Pháp tò mò, ma mãnh nhầm lẫn nhân vật “tôi” là hoàng đế An Nam. Ăn mặc, trang sức kệch cỡm: “mũi tẹt, da vàng, nhút nhát, lúng ta lúng túng. Có cái chụp đèn chụp lên đầu quấn khăn. Ngón tay đeo đầy những nhẫn”. Vua An Nam đã vi hành, mọi thứ quý giá đã gửi tuốt ở kho hành lí nhà ga, hay đem đến tiệm cầm đồ. Trong lúc xem đem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô phải trả nghìn rưởi phrăng nhưng xem vua An Nam ngồi cạnh chẳng mất một tí tiền nào. Hắn là một tên vua bù nhìn, một tên hề mạt hạng, mà ông bầu Nhà hát múa rối định ký giao kèo thuê đấy.
Một bức thư gửi cô em họ rất hóm hỉnh để bàn về vi hành của các bậc vua chúa. Vua Thuấn cải trang làm dân cày đi dò la khắp xứ. Vua Pie cải trang làm thợ đến làm việc ở công trường nước Anh. Họ là “những bậc cải trang vĩ đại”. Còn tên vua bù nhìn An Nam đi vi hành là để xem dân Pháp có được uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam. Hay vì chán cảnh làm một ông vua to ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của công tử bé để ăn chơi trác táng.
Tác giả đã châm biếm sâu cay bọn quan thầy thực dân. Mọi người da vàng mũi tẹt đều trở thành hoàng đế ở Pháp, tất cả những ai da trắng ở Đông Dương đều là những bậc khai hóa. Quần chúng Pháp hễ thấy một đồng bào ta thì lầm tưởng là hoàng đế An Nam mà tò mò chỉ trỏ: “Hắn đấy”, hoặc “xem hắn kìa!”. Nhân vật “tôi” đi đâu một bước thì được bọn mật thám “bám lấy đế giày dính chặt… như hình với bóng” để theo dõi. Nghệ thuật
Viết dưới hình thức một bức thư, kết hợp tả, kể nêu giả định và bàn luận. Những giả định, so sánh đầy ý vị để châm biếm sâu cay. Một sự nhầm lẫn “chết người” đã vạch trần chân tướng kẻ đang vi hành trên đất Pháp. Giọng văn châm biếm khinh bỉ. Cả quan thầy lẫn tên vua bù nhìn bị vạch trần chân tướng: xấu xa, đê mạt và ghê tởm:
“Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế!”
Kết bài : Giọng văn hóm hỉnh và giễu cợt, dựngtình huống nhầm lẫn và giả định, cùng với lối viết ngắn mang màu sắc văn xuôi hiện đại phương Tây, đã tạo nên tính chiến đấu của truyện “Vi hành”. “Vi hành” thể hiện sâu sắc tư tưởng chống chế độ thực dân Pháp và bọn bù nhìn tay sai. Nó tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật giản dị mà sắc bén, tính hiện đại và chất trí tuệ trong truyện ký của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp
ĐỀ 2
Câu1(2đ): Anh(chị) trình bày hoàn cảnh ra đời bài thơ “ Tây tiến” của Quang Dũng.
Câu 2(2 đ): Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh
Câu 3 ( 6 đ) Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “ Tâm tư trong Tù” của Tố Hữu:
Cô đơn thay là cảnh thân tù
Tai mở rộng và lòng sôi náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!
Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về
Gợi ý trả lời:
Câu 1 (4 ý):
-Tây tiến là 1 đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, địa bàn hoạt động ở Tây Bắc Bộ việt Nam và biên giới Việt –Lào
- Chiến sĩ tây tiến phần đông là học sinh, thanh niên Hà Nội. Quang Dũng là đại đội trưởng.
- Đơn vị Tây tiến chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng.
- Khi viết bài thơ này, tác giả đã chuyển dơn vị, đang xa đoàn quân Tây tiến. Nhớ đồng độicũ, ông viết bài thơ “Tây tiến” năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh.
Câu 2(3 ý):
- Hồ Chí Minh xem sáng tác văn nghệ là 1 hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng.
- Người đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức. Người cho rằng văn chương thời đại cách mạng, phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ.
- Người luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật.
Câu3:
mở bài: Giới thiệu Tố Hữu và bài thơ Tâm tư trong tù , giới thiệu vị trí đoạn thơ
- Tháng 4- 1939, giữa lúc đang hoạt động cách mạng sôi nổi, Tố Hữu bị địch bắt giam. trong bốn bức tường lạnh lẽo của nhà giam, ông đã viết Tâm tư trong tù .
-Bài thơ là tiếng lòng khát khaotự do của một chàng trai trẻ tuổi lần đầu tiên bị tù đày và cũng là lời tự dặn lòng của người chiến sĩ trên con đường cách mạng đầy chông gai.
- Đoạn hai khổ 1 được coi là đoạn hay nhất chiếm được tình cảm người đọc.
Thân bài:
- Đoạn thơ miêu tả cuộc sống bên ngoài với bao âm thanh sôi động cuộc sống
+ Nhà thơ lắng nghe được tiếng đời lăn náo nức , tiếng cuộc đời bên ngoài giục giã, đối lập với cuộc sống nhà tù lạnh lẽo, âm u.
+ Âm thanh cuộc sống bên ngoàivang lên rộn ràng
+ kết hợp thính giác và tưởng tượng, tác giả như thấy tất cả cuộc sống bên ngoài thật tươi tắn, rộn rã
Tiếng chim hót , tiếng dơi chiều đạp cánh..trong bầu trời rộng rãi, tiếng lạc ngựa, tiếng guốc dưới đường xa thật gợi cảm.
Đó chính là những âm thanh bình dị của cuộc sống, những hình ảnh quen thuộc của đời là tiếng gọi thiết tha và cảm động
câu thơ kết thúc khổ thơ vang vọng trong tâm tưởng, đánh thức khao khát tự do.
- Đoạn thơ là cuộc vượt ngục về tinh thần:
Mặc dù trong cô đơn, trong nhà giam, bị tách biệt với cuộc sống bên ngoài, nhà thơ vẫn giữ mối liên hệ, gắn bó với cuộc sống bên ngoài.
- Khổ thơ huy động tối đa thính giác và trí tưởng tượng đã dựng được bức tranh người tù cách mạng mặc dù bị giam hãm những vẫn yêu tha thiết cuộc sống. Vì vậy khổ thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Kết bài: Đoạn thơ trên cùng với cả bài thơ Tâm tư trong tù thể hiện khát vọng tự do và sự gắn bó máu thịt với cuộc sống, không thoát ly ủy mị, không bi quan chán nản. Tố Hữu đã khẳng định vị trí của mình trong thơ ca cách mạng. Những vần thơ tuổi trẻ với những cảm xúc tinh tế đã để lại ấn tượng sâu sắc trong người đọc.
ĐỀ 3
Câu1(3đ): Anh(chị) hãy trình bày ngắn gọn sự nghiệp văn học của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh
Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh
Mộ ( chieàu toái)
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không; Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Dịch thơ:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
Gợi ý:
Câu1(3đ): Sự nghiệp văn học của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh:
- Văn chính luận: có khối lượng lớn và mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ xáx đáng, chứng cứ hùng hồn, ngôn ngữ giản dị trong sáng, có sức thuyết phục cao.
Các tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ Thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến...vv..
- Truyên và kí: Sáng tác chủ yếu từ 1922 đến 1925. Truyện của Người cô đọng, ngôn ngữ sáng tạo, kết cấu độc đáo, phong cách hiện đại.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Vừa đi đường vừa kể chuyện....
- Thơ ca Đây là lĩnh vực sáng tạo nổi bật trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh. Thơ của người thể hiện một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, tài hoa, một tấm gương nghị lực phi thường. Người sáng tác trên 250 bài thơ được in trong 3 tập: Nhật kí trong tù, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Thơ Hồ Chí Minh.
Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh:
Mở bài: “Mộ” (Chiều tối) bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 31. Hồ Chí Minh viết bài thơ này đang trên đường bị giải tới nhà lao Thiên Bảo. Sau một ngày dài bị giải đi, trời tối dần.
Thân bài: Hai câu đầu tả cảnh bầu trời lúc chiều tối. Cánh chim mỏi (quyện điểu) về rừng tìm cây trú ẩn. Áng mây lẻ loi, cô đơn (cô vân) trôi lững lờ trên tầng không. Cảnh vật thoáng buồn. Hai nét vẽ chấm phá (chim và mây), lấy cái nhỏ bé, cá
Câu 2 (7 đ): Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.
Gợi ý:
Câu 1:
Hoàn cảnh ra đời NKTT: Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943. Người bị giải qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng tây – Trung Quốc trong hoàn cảnh Cách mạng Việt Nam đang từng giờ, từng phút cần đến Người.
Hình tượng HCM trong NKTT:
+ Vừa kiên cường bất khuất vừa mềm mại tinh tế
+ Vừa ung dung tự tại vừa khắc khoải ngóng trông.
+ Vừa lo âu trằn trọc vừavừa lạc quan tin tưởng
Tất cả bắt nguồn từ lòng yêu nước ênh mông, một tấm lòng nhân đạo lớn, cốt cách một Đại Trí, Đại nhân, đại dũng
Phong cách nghệ thuật thơ HCM trong NKTT:
+ Giản dị trong sáng, hồn nhiên
+Hòa hợp bút pháp cổ điển và hiện đại
+ Bản chất chiến sĩ thường được thể hiện qua hình tượng thi sĩ
+ Một nụ cười hài hước tự trào lấp lánh.
Câu 2: Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc.
Mở bài: Tên truyện Vi Hành được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp: “Incognito”, in trên báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, ngày 19-2-1923. Phạm Huy Thông dịch là “Vi hành” in trong tập “Truyện và ký” của Nguyễn Ái Quốc (1974). Cùng với vở kịch “Con rồng tre”, truyện “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”, truyện ngắn “Vi hành” này nhằm châm biếm sâu cay tên vua bù nhìn Khải Định khi hắn sang Pháp năm 1922. Truyện đã Vạch trần bộ mặt xấu xa, thối nát của tên vua bù nhìn, đồng thời châm biếm chế giễu chế độ thực dân Pháp.
Thân bài:
Nội dung
Một trường hợp nhầm lẫn hiếm có. Trong toa điện ngầm Paris, đôi nam nữ thanh niên Pháp tò mò, ma mãnh nhầm lẫn nhân vật “tôi” là hoàng đế An Nam. Ăn mặc, trang sức kệch cỡm: “mũi tẹt, da vàng, nhút nhát, lúng ta lúng túng. Có cái chụp đèn chụp lên đầu quấn khăn. Ngón tay đeo đầy những nhẫn”. Vua An Nam đã vi hành, mọi thứ quý giá đã gửi tuốt ở kho hành lí nhà ga, hay đem đến tiệm cầm đồ. Trong lúc xem đem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô phải trả nghìn rưởi phrăng nhưng xem vua An Nam ngồi cạnh chẳng mất một tí tiền nào. Hắn là một tên vua bù nhìn, một tên hề mạt hạng, mà ông bầu Nhà hát múa rối định ký giao kèo thuê đấy.
Một bức thư gửi cô em họ rất hóm hỉnh để bàn về vi hành của các bậc vua chúa. Vua Thuấn cải trang làm dân cày đi dò la khắp xứ. Vua Pie cải trang làm thợ đến làm việc ở công trường nước Anh. Họ là “những bậc cải trang vĩ đại”. Còn tên vua bù nhìn An Nam đi vi hành là để xem dân Pháp có được uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam. Hay vì chán cảnh làm một ông vua to ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của công tử bé để ăn chơi trác táng.
Tác giả đã châm biếm sâu cay bọn quan thầy thực dân. Mọi người da vàng mũi tẹt đều trở thành hoàng đế ở Pháp, tất cả những ai da trắng ở Đông Dương đều là những bậc khai hóa. Quần chúng Pháp hễ thấy một đồng bào ta thì lầm tưởng là hoàng đế An Nam mà tò mò chỉ trỏ: “Hắn đấy”, hoặc “xem hắn kìa!”. Nhân vật “tôi” đi đâu một bước thì được bọn mật thám “bám lấy đế giày dính chặt… như hình với bóng” để theo dõi. Nghệ thuật
Viết dưới hình thức một bức thư, kết hợp tả, kể nêu giả định và bàn luận. Những giả định, so sánh đầy ý vị để châm biếm sâu cay. Một sự nhầm lẫn “chết người” đã vạch trần chân tướng kẻ đang vi hành trên đất Pháp. Giọng văn châm biếm khinh bỉ. Cả quan thầy lẫn tên vua bù nhìn bị vạch trần chân tướng: xấu xa, đê mạt và ghê tởm:
“Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế!”
Kết bài : Giọng văn hóm hỉnh và giễu cợt, dựngtình huống nhầm lẫn và giả định, cùng với lối viết ngắn mang màu sắc văn xuôi hiện đại phương Tây, đã tạo nên tính chiến đấu của truyện “Vi hành”. “Vi hành” thể hiện sâu sắc tư tưởng chống chế độ thực dân Pháp và bọn bù nhìn tay sai. Nó tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật giản dị mà sắc bén, tính hiện đại và chất trí tuệ trong truyện ký của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp
ĐỀ 2
Câu1(2đ): Anh(chị) trình bày hoàn cảnh ra đời bài thơ “ Tây tiến” của Quang Dũng.
Câu 2(2 đ): Trình bày ngắn gọn quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh
Câu 3 ( 6 đ) Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “ Tâm tư trong Tù” của Tố Hữu:
Cô đơn thay là cảnh thân tù
Tai mở rộng và lòng sôi náo nức
Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!
Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều
Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh
Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về
Gợi ý trả lời:
Câu 1 (4 ý):
-Tây tiến là 1 đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947, địa bàn hoạt động ở Tây Bắc Bộ việt Nam và biên giới Việt –Lào
- Chiến sĩ tây tiến phần đông là học sinh, thanh niên Hà Nội. Quang Dũng là đại đội trưởng.
- Đơn vị Tây tiến chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng.
- Khi viết bài thơ này, tác giả đã chuyển dơn vị, đang xa đoàn quân Tây tiến. Nhớ đồng độicũ, ông viết bài thơ “Tây tiến” năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh.
Câu 2(3 ý):
- Hồ Chí Minh xem sáng tác văn nghệ là 1 hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng.
- Người đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức. Người cho rằng văn chương thời đại cách mạng, phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ.
- Người luôn quan niệm tác phẩm văn chương phải có tính chân thật.
Câu3:
mở bài: Giới thiệu Tố Hữu và bài thơ Tâm tư trong tù , giới thiệu vị trí đoạn thơ
- Tháng 4- 1939, giữa lúc đang hoạt động cách mạng sôi nổi, Tố Hữu bị địch bắt giam. trong bốn bức tường lạnh lẽo của nhà giam, ông đã viết Tâm tư trong tù .
-Bài thơ là tiếng lòng khát khaotự do của một chàng trai trẻ tuổi lần đầu tiên bị tù đày và cũng là lời tự dặn lòng của người chiến sĩ trên con đường cách mạng đầy chông gai.
- Đoạn hai khổ 1 được coi là đoạn hay nhất chiếm được tình cảm người đọc.
Thân bài:
- Đoạn thơ miêu tả cuộc sống bên ngoài với bao âm thanh sôi động cuộc sống
+ Nhà thơ lắng nghe được tiếng đời lăn náo nức , tiếng cuộc đời bên ngoài giục giã, đối lập với cuộc sống nhà tù lạnh lẽo, âm u.
+ Âm thanh cuộc sống bên ngoàivang lên rộn ràng
+ kết hợp thính giác và tưởng tượng, tác giả như thấy tất cả cuộc sống bên ngoài thật tươi tắn, rộn rã
Tiếng chim hót , tiếng dơi chiều đạp cánh..trong bầu trời rộng rãi, tiếng lạc ngựa, tiếng guốc dưới đường xa thật gợi cảm.
Đó chính là những âm thanh bình dị của cuộc sống, những hình ảnh quen thuộc của đời là tiếng gọi thiết tha và cảm động
câu thơ kết thúc khổ thơ vang vọng trong tâm tưởng, đánh thức khao khát tự do.
- Đoạn thơ là cuộc vượt ngục về tinh thần:
Mặc dù trong cô đơn, trong nhà giam, bị tách biệt với cuộc sống bên ngoài, nhà thơ vẫn giữ mối liên hệ, gắn bó với cuộc sống bên ngoài.
- Khổ thơ huy động tối đa thính giác và trí tưởng tượng đã dựng được bức tranh người tù cách mạng mặc dù bị giam hãm những vẫn yêu tha thiết cuộc sống. Vì vậy khổ thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Kết bài: Đoạn thơ trên cùng với cả bài thơ Tâm tư trong tù thể hiện khát vọng tự do và sự gắn bó máu thịt với cuộc sống, không thoát ly ủy mị, không bi quan chán nản. Tố Hữu đã khẳng định vị trí của mình trong thơ ca cách mạng. Những vần thơ tuổi trẻ với những cảm xúc tinh tế đã để lại ấn tượng sâu sắc trong người đọc.
ĐỀ 3
Câu1(3đ): Anh(chị) hãy trình bày ngắn gọn sự nghiệp văn học của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh
Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh
Mộ ( chieàu toái)
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không; Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.
Dịch thơ:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
Gợi ý:
Câu1(3đ): Sự nghiệp văn học của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh:
- Văn chính luận: có khối lượng lớn và mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ xáx đáng, chứng cứ hùng hồn, ngôn ngữ giản dị trong sáng, có sức thuyết phục cao.
Các tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ Thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến...vv..
- Truyên và kí: Sáng tác chủ yếu từ 1922 đến 1925. Truyện của Người cô đọng, ngôn ngữ sáng tạo, kết cấu độc đáo, phong cách hiện đại.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Vừa đi đường vừa kể chuyện....
- Thơ ca Đây là lĩnh vực sáng tạo nổi bật trong sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh. Thơ của người thể hiện một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, tài hoa, một tấm gương nghị lực phi thường. Người sáng tác trên 250 bài thơ được in trong 3 tập: Nhật kí trong tù, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Thơ Hồ Chí Minh.
Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh:
Mở bài: “Mộ” (Chiều tối) bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 31. Hồ Chí Minh viết bài thơ này đang trên đường bị giải tới nhà lao Thiên Bảo. Sau một ngày dài bị giải đi, trời tối dần.
Thân bài: Hai câu đầu tả cảnh bầu trời lúc chiều tối. Cánh chim mỏi (quyện điểu) về rừng tìm cây trú ẩn. Áng mây lẻ loi, cô đơn (cô vân) trôi lững lờ trên tầng không. Cảnh vật thoáng buồn. Hai nét vẽ chấm phá (chim và mây), lấy cái nhỏ bé, cá
 








Các ý kiến mới nhất