Ôn tập Lịch sử Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Long
Ngày gửi: 17h:34' 21-06-2008
Dung lượng: 283.5 KB
Số lượt tải: 209
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Đức Long
Ngày gửi: 17h:34' 21-06-2008
Dung lượng: 283.5 KB
Số lượt tải: 209
Số lượt thích:
0 người
Phần I: lịch sử Việt Nam
giai đoạn 1919 -1930
Câu 1: Tình hình phân hoá xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất như thế nào?
1. Hoàn cảnh lịch sử
+ Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) nền kinh tế của nước Pháp bị tàn phá nặng nề. Để bù đắp những thiệt hại to lớn do chiến tranh Pháp đã ra sức tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước, đồng thời tăng cường đầu tư khai thác các thuộc địa đặc biệt là ở Việt Nam và Đông Dương.
+ Chính sách khai thác thuộc địa sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất của thực dân Pháp đã đưa tới những biến đổi về kinh tế và xã hội Việt Nam. Biến đổi về mặt xã hội là làm cho sự phân hoá giai cấp ở Việt Nam thêm nhanh chóng và sâu sắc hơn. Địa chủ phong kiến tăng lên về số lượng, nông dân thêm bần cùng hoá, công nhân đông hơn về số lượng, tư sản và tiểu tư sản ra đời.
2. Tình hình phân hoá xã hội
+ Đối với giai cấp địa chủ
Sau chiến tranh, giai cấp địa chủ tăng thêm về số lượng. Trước sau Pháp vẫn áp dụng chính sách dung dưỡng đối với địa chủ để làm chỗ dựa cho nền thống trị của chúng. Phần lớn địa chủ trở thành kẻ thù của cách mạng.
Tuy vậy cũng có một bộ phận, nhất là địa chủ vừa và nhỏ, có tinh thần yêu nước, tham gia các phong trào yêu nước khi có điều kiện.
+ Đối với giai cấp tư sản Việt Nam
Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam lần lượt có mặt ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau mà phần lớn là các ngành dịch vụ, chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ.... Đáng kể có: Công ty Tiên Long thương đoàn (Huế), Hưng hiệp hội xã (Hà Nội), Công ty rượu Nam Đồng ích (Thanh Hoá), xưởng nấu xà phòng của Trương Văn Bền ở Sài Gòn..... Cũng có người bỏ vốn vào khai thác mỏ (Bạch Thái Bưởi), trồng cao su (Lê Phát Vĩnh). Phát triển đến một mức nào đó thì họ phân hoá thành hai bộ phận:
- Tầng lớp tiểu tư sản mại bản bao gồm những người làm đại lý thương mại cho Pháp những nhà thầu khoán có quan hệ với đế quốc, có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng, trở thành kẻ thù của cách mạng.
- Tầng lớp tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập. Do bị đế quốc, tư bản nước ngoài chèn ép về kinh tế, chính trị, tư sản dân tộc có mâu thuẫn nhất định với đế quốc và phong kiến, có khuynh hướng dân tộc dân chủ.
+ Giai cấp tiểu tư sản :
Giai cấp tiểu tư sản ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Họ bao gồm giáo viên, học sinh, sinh viên, viên chức, dân nghèo thành thị, những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công và những người làm nghề tự do.
Họ bị đế quốc, phong kiến chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, đời sống bấp bênh, dễ bị xô đẩy vào con đường thất nghiệp. Trong tình trạng đó, tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên lại có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng văn hoá tiến bộ ben ngoài nên có tinh thần hăng hái cách mạng. Đây là tầng lớp nhạy cảm về chính trị, yêu nước, gần gũi với công nông, nên họ là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng Việt Nam.
+ Nông dân
Giai cấp nông dân là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội, khoảng 90% dân số.
Nông dân là nạn nhân chủ yếu của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, gánh chịu hậu quả nặng nề của chính sách cướp đoạt ruộng đất, sưu cao thế nặng. Họ bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn, họ sẵn sàng vùng dậy khi được tổ chức, lãnh đạo của một đường lối đúng đắn và trở thành lực lượng quan trọng đặc biệt hết sức to lớn của các mạng Việt Nam, người bạn đồng minh của giai cấp công nhân.
+ Giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân ra đời sớm, lúc này có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Trước chiến tranh số lượng chỉ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, số công nhân làm việc thường xuyên cho tư bản Pháp lên tới 22 vạn người, sông tập trung tại các trung tâm kinh tế quan trọng của thực dân Pháp.
Giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ những đức tính, phẩm chất của giai cấp vô sản quốc tế (đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, điều kiện lao động và sinh sống tập trung...)
Giai cấp công nhân nước ta có những đặc điểm riêng:
- Chịu 3 tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, tư sản bản xứ nên có tinh thần triệt để cách mạnh nhất và đại diện cho quyền lợi của cả dân tộc.
- Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, có điều kiện thuận lợi vươn lên giành quyền lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc.
- Không có sự khác biệt lớn về ngôn ngữ, thành phần dân tộc và không có tầng lớp công nhân quý tộc, là một giai cấp thuần nhất do đó không có sự phân biệt về tư tưởng, tổ chức.
- Phần lớn xuất thân từ nông dân và có mọi liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với nông dân, có điều kiện xây dựng mối liên minh bền vững với lực lượng xã hội đông đảo này.
- Ra đời trong lòng một dân tộc giàu truyền thống yêu nước nên kế thừa được những di sản tinh thần tốt đẹp để bồi đắp tinh thần cách mạng.
- Sớm tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc truyền bá vì vật nhanh chóng chuyển hoá từ giai cấp tự phát thành giai cấp tự giác.
Do những đặc điểm trên đã góp phần tạo nên phẩm chất chính trị và năng lực cách mạng, giúp giai cấp công nhân có đủ điều kiện trở thành giai cấp duy nhất lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.
Câu 2: Trình bày phong trào dân chủ công khai (1919 - 1926)
a. Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản dân tộc
+ Trong quá trình hình thành và phát triển, tư sản dân tộc Việt Nam luôn bị tư sản nước ngoài cạnh tranh, chèn ép. Vì vậy họ đã tham gia các phong trào dân tộc dân chủ sau chiến tranh. Giai cấp tư sản dân tộc muốn nhân đà làm ăn thuận lợi vươn lên giành lấy vị trí khá hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
+ Đấu tranh kinh tế:
- Để chống lại sự cạnh tranh của tư sản Hoa Kiều, họ đã phát động những phong trào chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá (1919). Họ nêu ra khẩu hiệu: "Người An Nam không gánh vàng đi đổ sông Ngô", "Người An Nam mua bán với người An Nam".
- Đấu tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn và độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kỳ của tư sản Pháp (1923).....
+ Đấu tranh chính trị:
- Cùng với những hoạt động kinh tế, giai cấp tư sản cũng đã dùng báo chí để bênh vực quyền lợi của mình.
- Một số nhà tư sản và địa chủ lớn trong Nam (đại biểu là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long....) tổ chức Đảng Lập hiến để tập hợp lực lượng, rồi đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng làm áp lực đối với Pháp. Nhưng khi được thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi (như được tham gia Hội đồng quản hạt Nam kỳ, hoặc Viện dân biểu Bắc Kỳ) thì họ lại sẵn sàng thoả hiệp, vì vậy đã bị phong trào quần chúng vượt qua.
b. Phong trào đấu tranh của tầng lớp tiểu tư sản:
+ Các tầng lớp tiểu tư sản trí thức (gồm sinh viên trường Cao đẳng Hà Nội, học sinh, giáo viên, nhà văn, nhà báo...), bị đế quốc phong kiến khinh rẻ, bạc đãi, họ căm thù đế quốc phong kiến nên đã tham gia các phong trào đấu tranh đòi những quyền tự do dân chủ hăng hái chống lại cường quyền áp bức.
Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị
Họ được tập hợp trong những tổ chức chính trị, như Việt Nam nghĩa đoàn, hội Phục Việt, hội Hưng Nam, đảng Thanh Niên...(đại biểu là Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Nguyễn An Ninh....)
Họ có nhiều hoạt động phong phú và sôi nổi (mít tinh, biểu tình, bãi khoá...) nhằm đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ.
Đấu tranh báo chí:
Họ đã ra những tờ báo tiến bộ "Chuông rè", "An Nam trẻ", "Người nhà quê".... lập ra các nhà xuất bản tiến bộ: "Nam Đồng thư xã" (Hà Nội), "Cường học thư xã" (Sài Gòn)... để phản ánh các nguyện vọng về tự do dân chủ của quần chúng, tuyên truyền tư tưởng văn hoá tiến bộ.
Tổ chức các hoạt động dân chủ công khai:
Họ có nhiều hoạt động phong phú và sôi nổi (mít tinh, biểu tình, bãi khoá...) nhằm đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ. Trong cao trào yêu nước dân chủ công khai hồi đó có sự kiện nổi bật là cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925), tổ chức đám tang Phan Châu Trinh (1926).
Câu 3: Vai trò của Nguyễn ái Quốc đối với việc thành lập Đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam.
1. Hành trình tìm đường cứu nước:
+ Người sinh ngày 19/5/1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An trong gia đình nhà nho yêu nước. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước và cũng sớm nhận thấy những hạn chế trong chủ trương cứu nước của các vị tiền bối nên đã quyết định sang Phương Tây tìm con đường cứu nước mới.
+ Ngày 5 - 6 - 1911 Người đi tìm đường cứu nước từ cảng Nhà Rồng (Sài Gòn nay là TP. HCM). Người lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp cho tầu vận tải Latusơ Tơrêvin sang Pháp cấp bến cảng Mac Xây ngày 6/7/1911. Trên đường đi, Người có ghé qua cảng Colôngbô (Xâylan), cảng Poxait (Ai Cập)....Sau những năm bôn ba qua nhiều nước TBCN và thuộc địa, và làm nhiều nghề khác nhau, Người đã nhận thấy kẻ thù của cách mạng là bọn đê
giai đoạn 1919 -1930
Câu 1: Tình hình phân hoá xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất như thế nào?
1. Hoàn cảnh lịch sử
+ Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) nền kinh tế của nước Pháp bị tàn phá nặng nề. Để bù đắp những thiệt hại to lớn do chiến tranh Pháp đã ra sức tăng cường bóc lột nhân dân lao động trong nước, đồng thời tăng cường đầu tư khai thác các thuộc địa đặc biệt là ở Việt Nam và Đông Dương.
+ Chính sách khai thác thuộc địa sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất của thực dân Pháp đã đưa tới những biến đổi về kinh tế và xã hội Việt Nam. Biến đổi về mặt xã hội là làm cho sự phân hoá giai cấp ở Việt Nam thêm nhanh chóng và sâu sắc hơn. Địa chủ phong kiến tăng lên về số lượng, nông dân thêm bần cùng hoá, công nhân đông hơn về số lượng, tư sản và tiểu tư sản ra đời.
2. Tình hình phân hoá xã hội
+ Đối với giai cấp địa chủ
Sau chiến tranh, giai cấp địa chủ tăng thêm về số lượng. Trước sau Pháp vẫn áp dụng chính sách dung dưỡng đối với địa chủ để làm chỗ dựa cho nền thống trị của chúng. Phần lớn địa chủ trở thành kẻ thù của cách mạng.
Tuy vậy cũng có một bộ phận, nhất là địa chủ vừa và nhỏ, có tinh thần yêu nước, tham gia các phong trào yêu nước khi có điều kiện.
+ Đối với giai cấp tư sản Việt Nam
Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam lần lượt có mặt ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau mà phần lớn là các ngành dịch vụ, chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ.... Đáng kể có: Công ty Tiên Long thương đoàn (Huế), Hưng hiệp hội xã (Hà Nội), Công ty rượu Nam Đồng ích (Thanh Hoá), xưởng nấu xà phòng của Trương Văn Bền ở Sài Gòn..... Cũng có người bỏ vốn vào khai thác mỏ (Bạch Thái Bưởi), trồng cao su (Lê Phát Vĩnh). Phát triển đến một mức nào đó thì họ phân hoá thành hai bộ phận:
- Tầng lớp tiểu tư sản mại bản bao gồm những người làm đại lý thương mại cho Pháp những nhà thầu khoán có quan hệ với đế quốc, có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kết chặt chẽ về chính trị với chúng, trở thành kẻ thù của cách mạng.
- Tầng lớp tư sản dân tộc có khuynh hướng kinh doanh độc lập. Do bị đế quốc, tư bản nước ngoài chèn ép về kinh tế, chính trị, tư sản dân tộc có mâu thuẫn nhất định với đế quốc và phong kiến, có khuynh hướng dân tộc dân chủ.
+ Giai cấp tiểu tư sản :
Giai cấp tiểu tư sản ra đời sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Họ bao gồm giáo viên, học sinh, sinh viên, viên chức, dân nghèo thành thị, những người buôn bán nhỏ, thợ thủ công và những người làm nghề tự do.
Họ bị đế quốc, phong kiến chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, đời sống bấp bênh, dễ bị xô đẩy vào con đường thất nghiệp. Trong tình trạng đó, tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên lại có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng văn hoá tiến bộ ben ngoài nên có tinh thần hăng hái cách mạng. Đây là tầng lớp nhạy cảm về chính trị, yêu nước, gần gũi với công nông, nên họ là một bộ phận quan trọng trong lực lượng cách mạng Việt Nam.
+ Nông dân
Giai cấp nông dân là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội, khoảng 90% dân số.
Nông dân là nạn nhân chủ yếu của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, gánh chịu hậu quả nặng nề của chính sách cướp đoạt ruộng đất, sưu cao thế nặng. Họ bị bần cùng hoá và phá sản trên quy mô lớn, họ sẵn sàng vùng dậy khi được tổ chức, lãnh đạo của một đường lối đúng đắn và trở thành lực lượng quan trọng đặc biệt hết sức to lớn của các mạng Việt Nam, người bạn đồng minh của giai cấp công nhân.
+ Giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân ra đời sớm, lúc này có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Trước chiến tranh số lượng chỉ có khoảng 10 vạn người. Đến năm 1929, số công nhân làm việc thường xuyên cho tư bản Pháp lên tới 22 vạn người, sông tập trung tại các trung tâm kinh tế quan trọng của thực dân Pháp.
Giai cấp công nhân Việt Nam có đầy đủ những đức tính, phẩm chất của giai cấp vô sản quốc tế (đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, điều kiện lao động và sinh sống tập trung...)
Giai cấp công nhân nước ta có những đặc điểm riêng:
- Chịu 3 tầng áp bức bóc lột của đế quốc, phong kiến, tư sản bản xứ nên có tinh thần triệt để cách mạnh nhất và đại diện cho quyền lợi của cả dân tộc.
- Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, có điều kiện thuận lợi vươn lên giành quyền lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc.
- Không có sự khác biệt lớn về ngôn ngữ, thành phần dân tộc và không có tầng lớp công nhân quý tộc, là một giai cấp thuần nhất do đó không có sự phân biệt về tư tưởng, tổ chức.
- Phần lớn xuất thân từ nông dân và có mọi liên hệ thường xuyên, chặt chẽ với nông dân, có điều kiện xây dựng mối liên minh bền vững với lực lượng xã hội đông đảo này.
- Ra đời trong lòng một dân tộc giàu truyền thống yêu nước nên kế thừa được những di sản tinh thần tốt đẹp để bồi đắp tinh thần cách mạng.
- Sớm tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm của phong trào công nhân quốc tế do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc truyền bá vì vật nhanh chóng chuyển hoá từ giai cấp tự phát thành giai cấp tự giác.
Do những đặc điểm trên đã góp phần tạo nên phẩm chất chính trị và năng lực cách mạng, giúp giai cấp công nhân có đủ điều kiện trở thành giai cấp duy nhất lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.
Câu 2: Trình bày phong trào dân chủ công khai (1919 - 1926)
a. Phong trào đấu tranh của giai cấp tư sản dân tộc
+ Trong quá trình hình thành và phát triển, tư sản dân tộc Việt Nam luôn bị tư sản nước ngoài cạnh tranh, chèn ép. Vì vậy họ đã tham gia các phong trào dân tộc dân chủ sau chiến tranh. Giai cấp tư sản dân tộc muốn nhân đà làm ăn thuận lợi vươn lên giành lấy vị trí khá hơn trong nền kinh tế Việt Nam.
+ Đấu tranh kinh tế:
- Để chống lại sự cạnh tranh của tư sản Hoa Kiều, họ đã phát động những phong trào chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá (1919). Họ nêu ra khẩu hiệu: "Người An Nam không gánh vàng đi đổ sông Ngô", "Người An Nam mua bán với người An Nam".
- Đấu tranh chống độc quyền thương cảng Sài Gòn và độc quyền xuất cảng lúa gạo Nam Kỳ của tư sản Pháp (1923).....
+ Đấu tranh chính trị:
- Cùng với những hoạt động kinh tế, giai cấp tư sản cũng đã dùng báo chí để bênh vực quyền lợi của mình.
- Một số nhà tư sản và địa chủ lớn trong Nam (đại biểu là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long....) tổ chức Đảng Lập hiến để tập hợp lực lượng, rồi đưa ra một số khẩu hiệu đòi tự do dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng làm áp lực đối với Pháp. Nhưng khi được thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi (như được tham gia Hội đồng quản hạt Nam kỳ, hoặc Viện dân biểu Bắc Kỳ) thì họ lại sẵn sàng thoả hiệp, vì vậy đã bị phong trào quần chúng vượt qua.
b. Phong trào đấu tranh của tầng lớp tiểu tư sản:
+ Các tầng lớp tiểu tư sản trí thức (gồm sinh viên trường Cao đẳng Hà Nội, học sinh, giáo viên, nhà văn, nhà báo...), bị đế quốc phong kiến khinh rẻ, bạc đãi, họ căm thù đế quốc phong kiến nên đã tham gia các phong trào đấu tranh đòi những quyền tự do dân chủ hăng hái chống lại cường quyền áp bức.
Đấu tranh trên lĩnh vực chính trị
Họ được tập hợp trong những tổ chức chính trị, như Việt Nam nghĩa đoàn, hội Phục Việt, hội Hưng Nam, đảng Thanh Niên...(đại biểu là Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Nguyễn An Ninh....)
Họ có nhiều hoạt động phong phú và sôi nổi (mít tinh, biểu tình, bãi khoá...) nhằm đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ.
Đấu tranh báo chí:
Họ đã ra những tờ báo tiến bộ "Chuông rè", "An Nam trẻ", "Người nhà quê".... lập ra các nhà xuất bản tiến bộ: "Nam Đồng thư xã" (Hà Nội), "Cường học thư xã" (Sài Gòn)... để phản ánh các nguyện vọng về tự do dân chủ của quần chúng, tuyên truyền tư tưởng văn hoá tiến bộ.
Tổ chức các hoạt động dân chủ công khai:
Họ có nhiều hoạt động phong phú và sôi nổi (mít tinh, biểu tình, bãi khoá...) nhằm đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ. Trong cao trào yêu nước dân chủ công khai hồi đó có sự kiện nổi bật là cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp thả Phan Bội Châu (1925), tổ chức đám tang Phan Châu Trinh (1926).
Câu 3: Vai trò của Nguyễn ái Quốc đối với việc thành lập Đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam.
1. Hành trình tìm đường cứu nước:
+ Người sinh ngày 19/5/1890 tại Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An trong gia đình nhà nho yêu nước. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm có lòng yêu nước và cũng sớm nhận thấy những hạn chế trong chủ trương cứu nước của các vị tiền bối nên đã quyết định sang Phương Tây tìm con đường cứu nước mới.
+ Ngày 5 - 6 - 1911 Người đi tìm đường cứu nước từ cảng Nhà Rồng (Sài Gòn nay là TP. HCM). Người lấy tên là Văn Ba, làm phụ bếp cho tầu vận tải Latusơ Tơrêvin sang Pháp cấp bến cảng Mac Xây ngày 6/7/1911. Trên đường đi, Người có ghé qua cảng Colôngbô (Xâylan), cảng Poxait (Ai Cập)....Sau những năm bôn ba qua nhiều nước TBCN và thuộc địa, và làm nhiều nghề khác nhau, Người đã nhận thấy kẻ thù của cách mạng là bọn đê
 








Các ý kiến mới nhất