Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

NHỮNG ANH HÙNG ĐẶC CÔNG HẢI QUÂN LỮ ĐOÀN 126

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: thuvienpdf.com
Người gửi: Nguyễn Thị Minh Châu
Ngày gửi: 15h:36' 24-01-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
HỘI ĐỒNG CHỈ ĐẠO XUẤT BẢN
Chủ tịch Hội đồng
PGS.TS. PHẠM VĂN LINH
Phó Chủ tịch Hội đồng
PHẠM CHÍ THÀNH
Thành viên
TRẦN QUỐC DÂN
TS. NGUYỄN ĐỨC TÀI
TS. NGUYỄN AN TIÊM
NGUYỄN VŨ THANH HẢO

LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Sau khi thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt”, nhằm duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới để
thống trị miền Nam và chia cắt lâu dài nước ta, đế quốc
Mỹ đã không ngừng đổ quân vào miền Nam, dùng
không quân và hải quân đánh phá miền Bắc, mở rộng
chiến tranh. Trước tình hình đó, quân đội Việt Nam
buộc phải đẩy mạnh tiến công trên các chiến trường,
không ngừng phát triển các lực lượng chủ lực, đặc biệt
là lực lượng đặc công, trong đó có đặc công hải quân.
Ngày 13 tháng 4 năm 1966, Bộ Quốc phòng ra
quyết định thành lập Đoàn huấn luyện trinh sát đặc
công mang phiên hiệu Đoàn 126 trực thuộc Bộ Tư lệnh
hải quân (gọi là Đoàn Đặc công hải quân 126 - tiền
thân của Lữ đoàn Đặc công hải quân 126 hiện nay).
Trong những năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm
lược, Đoàn đã lập nên nhiều kỳ tích hiếm có trong lịch
sử quân sự: Chỉ trong gần bảy năm, từ một đơn vị cấp
trung, Đoàn đã tiêu diệt hơn 370 tàu chiến, tàu vận tải
quân sự và nhiều phương tiện khác của địch, góp phần
đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam
hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, cùng quân và dân cả

5

nước làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Có được
thành tích vẻ vang như vậy phải kể đến công lao to lớn
của các chiến sĩ đã chiến đấu anh dũng, mưu trí, đoàn
kết, khắc phục khó khăn, bảo vệ vững chắc vùng biển,
vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc.
Nhằm góp phần giáo dục truyền thống cách mạng,
tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Những anh
hùng Đặc công hải quân Lữ đoàn 126. Cuốn sách
ghi lại chiến công thầm lặng của các cán bộ, chiến sĩ
đặc công hải quân trong cuộc kháng chiến chống đế
quốc Mỹ, cứu nước, thông qua những câu chuyện hết
sức chân thực, xúc động thắm tình đồng đội, tình quân
dân của những anh hùng thuộc Lữ đoàn Đặc công hải
quân 126.
Xuất bản cuốn sách này, chúng tôi mong muốn
cung cấp thêm thông tin, tư liệu lịch sử, những câu
chuyện đời thường của các anh hùng trong chiến đấu
cũng như trong thời bình.
Xin giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 6 năm 2016
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT

6

SÁNG MÃI TÊN ANH
Cho đến hôm nay, trong tất cả các tài liệu lịch
sử và cả trong câu chuyện của các thế hệ cán bộ,
chiến sĩ của Lữ đoàn Đặc công hải quân 126, Mai
Năng là cái tên thường được nhắc đến nhiều nhất,
thường xuyên nhất, với sự trân trọng và yêu mến
của mọi người. Sở dĩ có chuyện như vậy là bởi
cách đây hơn 50 năm, ông chính là một trong
những người đã đặt những viên gạch đầu tiên để
xây dựng lực lượng đặc công nước nói chung và
Đặc công hải quân 126 nói riêng.
Mai Năng tên thật là Tạ Văn Thiều, sinh năm
1930, người xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành
phố Hải Phòng. Bí danh Mai Năng, theo ông giải
thích, có nghĩa là: sự năng động, sáng tạo để đi
đến ngày mai. Cái tên ấy đã gắn với ông ngay từ
những năm tháng hoạt động quân báo ở Hải
Phòng trong thời kỳ kháng chiến chống thực
dân Pháp.
Ông kể, hồi nhỏ, cha mẹ mất sớm, Hải Phòng
khi ấy là một trong những thành phố lớn bị địch
chiếm đóng, cuộc mưu sinh tự lập của những đứa
7

trẻ mồ côi khiến ông sớm có dịp chứng kiến nhiều
tội ác tày trời của quân giặc đối với nhân dân ta.
Chứng kiến, rồi ghét, rồi căm thù,... để đến lúc
ngọn lửa căm hận ấy bỗng trở thành hoài bão của
cả một thế hệ thanh niên khi đó. Vậy là chàng
thanh niên Tạ Văn Thiều trở thành người lính
quân báo Mai Năng, hoạt động trên địa bàn
thành phố Hải Phòng và các vùng lân cận.
Tháng 6 năm 1950, bước vào tuổi 20, Mai
Năng chính thức tham gia lực lượng chính quy,
làm nhiệm vụ thông tin, rồi hoạt động hậu cứ,
làm nhiệm vụ nắm tình hình, tạo điều kiện cho
bộ đội đánh địch. Chính những kỹ năng và kinh
nghiệm thời kỳ hoạt động quân báo đã giúp ông
hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ phức tạp ở vị trí
này. Ông là một trong số những chiến sĩ tham
gia trận đánh vào huyện Kiến An năm 1953, bắt
sống tên tỉnh trưởng, khiến quân địch vô cùng
hoang mang. Trận đánh lớn đầu tiên mà Mai
Năng tham gia phải kể đến là trận đánh sân bay
Cát Bi năm 1954, sân bay lớn nhất khu vực Bắc
Đông Dương, được địch tăng cường canh phòng
hết sức cẩn mật, chúng sử dụng đến bảy tiểu
đoàn để bảo vệ, do một thiếu tướng chỉ huy. Trận
đánh diễn ra trong thời điểm vô cùng khó khăn,
cơ sở xung quanh đều bị trắng. Phải mất cả
tháng trời, Mai Năng và các chiến sĩ trinh sát
mới tiếp cận được dân để xây dựng lại và ba
8

tháng sau, đến tháng 10 năm 1953 mới vào được
sân bay để trinh sát. Đến tháng 3 năm 1954, đơn
vị tấn công sân bay. Trận đó chỉ với 32 chiến sĩ,
bằng chiến thuật chiến đấu đặc công: “Chuột
nhắt chui kho, vào nhỏ ra to”, ta đã phá hủy
được 59 máy bay của địch, góp phần chặn đứng
con đường chi viện cho tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ của chúng, góp phần làm nên chiến
thắng Điện Biên Phủ. Các chiến sĩ tham gia trận
đánh lẫy lừng này sau đó được Bác Hồ gọi là
Dũng sĩ Cát Bi và Mai Năng được bầu là Dũng sĩ
số 1, được tặng Huân chương Quân công hạng Ba
và một khẩu súng cạcbin, món quà hết sức giá trị
đối với người lính khi ấy.
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 kết
thúc chín năm trường kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp của dân tộc. Mai Năng được đơn
vị cử đi học văn hóa ở Lạng Sơn. Sau khi hoàn
thành chương trình, ông là một trong số những
người được chọn đi đào tạo ở Liên Xô, nhưng do
những biến động chính trị bên nước bạn thời
gian này nên việc đi học không thành. Ông ở lại
đơn vị cho đến năm 1961 thì chuyển sang lực
lượng hải quân. Sau này nhớ lại, Mai Năng bảo
có lẽ việc đi học Liên Xô không thành lại là định
mệnh chăng? Bởi nếu ngày ấy ông đi học thì
biết đâu câu chuyện về đặc công nước của ta sẽ
khác đi.
9

*
Chuyển sang hải quân, Mai Năng được điều
về làm chính trị viên trên tàu săn ngầm thuộc
Đoàn 200 Hải quân Việt Nam đóng tại Hải Phòng.
Làm công tác chính trị, nhưng cái “máu” quân báo
lâu nay vẫn âm thầm chảy trong con người ông,
cộng với tính tình hóm hỉnh, hài hước của tuổi trẻ,
nên chỉ một thời gian ngắn sau đó, Mai Năng đã
làm một chuyện “động trời”, “tiếng tăm” lên đến
tận Bộ Tư lệnh (khi đó là Cục Hải quân), đưa sự
nghiệp của ông chuyển sang hướng khác.
Số là sau khi về đơn vị một thời gian, nhận
thấy công tác canh phòng của ta tại tất cả các tàu
nói riêng và toàn đoàn nói chung còn chểnh mảng,
chính trị viên Mai Năng bèn tổ chức một đội gồm
các chiến sĩ trẻ, thạo bơi lội để lặng lẽ huấn luyện.
Sau đó, ông cho đội của mình bí mật tiếp cận các
tàu của ta, buộc gạch vào chân vịt rồi phát lệnh
báo động,... Cả đơn vị rối như gà mắc tóc vì không
di chuyển được. Tiếng vang của “trận đánh đó”
lên đến tận Cục Hải quân. Một đoàn cán bộ chủ
chốt của Cục tức tốc xuống đơn vị để xem xét.
Người làm ra việc này có công hay có tội lúc đó rất
khó kết luận. Nói là tội thì cũng đúng, vì tự ý
hành động làm giảm sức chiến đấu của đơn vị đâu
phải là chuyện nhỏ. Nhưng nói có công thì cũng
không hẳn là sai, khi anh ta đã chỉ ra những yếu
10

kém trong công tác phòng thủ của ta. Mỗi người
trong đoàn đang theo đuổi một suy nghĩ, một
quan điểm khác nhau. Trong lúc đó, đồng chí
Nguyễn Kim Sang, Trưởng ban Quân báo của Cục
Hải quân nhận ra Mai Năng vốn là một “của quý”
của ngành quân báo. Trưởng ban Kim Sang ngay
lập tức ra lệnh:
- Ngồi yên đây, tuyệt đối không được đi đâu...
Thời điểm những năm 1961-1962, trên chiến
trường miền Nam, cuộc kháng chiến chống đế
quốc Mỹ của quân và dân ta đang diễn biến phức
tạp. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ
trương xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang
ba thứ quân trên ba vùng chiến lược, trong đó có
nhiệm vụ tổ chức các đội đặc công chiến đấu trên
cả đường thủy lẫn đường bộ. Thực hiện chủ
trương đó, với nhiệm vụ sẵn sàng chi viện cho
chiến trường miền Nam khi có yêu cầu, trên cơ sở
kế thừa và phát huy truyền thống đánh giặc nơi
sông biển của ông cha và kinh nghiệm của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, đầu năm 1961,
Đảng ủy Cục Hải quân đã đặt vấn đề tổ chức xây
dựng lực lượng đặc công nước với quy mô hợp lý
và thích hợp. Sau “sự kiện” ở Đoàn 200, đồng chí
Kim Sang đã lập tức xin ý kiến của lãnh đạo Cục.
Đến cuối năm 1961, Phòng Tham mưu Cục Hải
quân có quyết định rút Mai Năng về Ban Quân
11

báo làm nhiệm vụ nghiên cứu, tìm hiểu, lập đề án
tổ chức, xây dựng lực lượng, huấn luyện, bảo đảm
vũ khí, trang bị cho lực lượng đặc công hải quân
để đưa vào chiến trường đánh tàu địch.
Sau một thời gian nghiên cứu, Mai Năng đã
trình lên Đảng ủy và Phòng Tham mưu hải quân
đề án xây dựng lực lượng đặc công hải quân phát
triển chiến đấu trên chiến trường sông biển. Ban
đầu, Mai Năng chỉ đề nghị thành lập một trung
đội, nhưng người đứng đầu Cục Hải quân khi ấy
là đồng chí Nguyễn Bá Phát muốn xây dựng một
lực lượng lớn hơn. Cuối cùng, sau khi bàn bạc, cân
nhắc, lãnh đạo Cục Hải quân thống nhất thành
lập một đơn vị cấp đại đội. Ngày 15 tháng 10 năm
1962, Chính ủy Cục Hải quân đã ký quyết định
thành lập Đại đội Đặc công hải quân. Đơn vị do
Mai Năng làm đại đội trưởng, gồm 57 chiến sĩ
được tuyển chọn từ các đơn vị trong lực lượng hải
quân, có nhiệm vụ nghiên cứu cách đánh địch ở
dưới nước. Đây có thể coi là lực lượng tiền thân
của Đặc công hải quân nhân dân Việt Nam.
Gọi là đặc công nước, nhưng ngày đó, những
bài tập đầu tiên của người lính mới chỉ là tập sức
bền và các hình thức di chuyển dưới nước. Mai
Năng nhớ lại:
- Chặng đường tập bơi của chúng tôi khi đó là
từ Hải Phòng ra Đồ Sơn, rồi từ Đồ Sơn ra Cát Bà,
12

mỗi chặng bơi chừng sáu tiếng liên tục. Thế nhưng
tập bơi mới chỉ là một phần. Với đặc công nước, để
chiến đấu được dưới nước thì phải biết đi ngầm.
Nói đến đây, ông làm động tác thị phạm “đi
ngầm” cho tôi xem. Với người lính đặc công nước
nay đã ở vào cái tuổi ngoại bát tuần ấy, thì cho
đến giờ có lẽ những động tác ấy vẫn chẳng có gì là
khó khăn, nhưng với người bình thường thì làm
được động tác đi thẳng, nhưng mặt phải ngửa lên
trên mặt nước, lại vừa phải nhẹ nhàng để không
gây ra tiếng động, không gây ra sóng phía trên,
quả không phải dễ dàng gì.
Thị phạm xong ông bảo:
- Với động tác đi ngầm này, chiếc ống thở là
rất quan trọng. Phải mất khá nhiều thời gian
chúng tôi mới tìm ra được loại ống thở thích hợp.
Ban đầu dùng ống thủy tinh tưởng là tốt, nhưng
đã có người bị vỡ ống, mảnh thủy tinh cắm vào
miệng, rất nguy hiểm. Chiếc ống nhựa ngày nay
cũng là kết quả của cả một quá trình cải tiến rất
nhiều. Rồi cách đi thế nào cho hiệu quả nữa. Tốt
nhất là dựa vào thủy triều...
Cứ thế vừa mày mò nghiên cứu, vừa thực
hành huấn luyện, từ tháng 10 năm 1962 đến giữa
năm 1963, đơn vị tiến hành diễn tập báo cáo. Nội
dung diễn tập là cho quân bí mật tiếp cận các tàu
của ta đang đậu ngoài cảng mà không ai phát
13

hiện được, chương trình được coi là hoàn thành.
Ngày 23 tháng 10 năm 1963, Cục Hải quân ra
quyết định thành lập Đội 1 - Đặc công hải quân,
gồm 80 cán bộ, chiến sĩ được tuyển chọn từ các
đơn vị trong Cục Hải quân. Đồng chí Mai Năng
được cử làm đội trưởng.
Nhiệm vụ của Đội 1 - Đặc công hải quân lúc
này là: nghiên cứu nội dung huấn luyện, phương
pháp tổ chức xây dựng lực lượng, nghiên cứu cách
đánh và các vấn đề trang bị đánh tàu mặt nước
của địch,... để tham mưu cho Cục Hải quân và Bộ
Quốc phòng trong chỉ đạo xây dựng lực lượng, từ
đó xây dựng Đặc công hải quân thành một lực
lượng tinh nhuệ, thiện chiến. Sau những lần tiễn
những người lính của mình lên đường, Mai Năng
lại bước vào những tháng ngày huấn luyện mới.
Đến tháng 6 năm 1964, Bộ Tổng Tham mưu
ra Quyết định số 262/TM-QĐ thành lập Đoàn 8
Đặc công nước trực thuộc Bộ Tư lệnh hải quân, có
nhiệm vụ huấn luyện cán bộ, chiến sĩ đặc công
nước bổ sung cho chiến trường miền Nam, lực
lượng của Đoàn bao gồm số cán bộ, chiến sĩ của
Đội 1 và một số cán bộ, chiến sĩ được tuyển chọn
từ các đơn vị trong Quân chủng với tổng số 189
đồng chí. Biên chế gồm cơ quan đoàn bộ và 3 đội
huấn luyện. Cơ quan đoàn bộ có 25 người. Đội 1 có
87 cán bộ, chiến sĩ chuyên huấn luyện kỹ thuật
14

đánh tàu địch bằng phương thức áp mạn. Tháng
12 năm 1964, khóa huấn luyện kết thúc. 150 cán
bộ, chiến sĩ phấn khởi nhận nhiệm vụ lên đường
ra mặt trận. Đây là những cán bộ, chiến sĩ đặc
công hải quân đầu tiên vào chiến trường trực tiếp
cùng quân, dân miền Nam chiến đấu; lúc này
phiên hiệu Đoàn 8 Đặc công nước không còn nữa.
39 cán bộ, chiến sĩ còn lại được biên chế thành
một đội, vẫn gọi là Đội 1 do đồng chí Mai Năng
phụ trách, được Bộ Tư lệnh hải quân 1 điều vào
hoạt động ở các cửa sông thuộc phía nam Quân
khu 3 và Quân khu 4.
Từ năm 1963 đến năm 1966, liên tiếp những
chiến công vang dội của Đặc công hải quân từ
chiến trường báo về, khiến cho không khí của
toàn Bộ Tư lệnh nói chung (lúc này Bộ Quốc
phòng đã có Quyết định số 01/QP thành lập Bộ Tư
lệnh hải quân, thay cho Cục Hải quân trước đây)
và cán bộ, chiến sĩ Đội 1 nói riêng, vô cùng náo
nức. Nào là những trận đánh tàu có trọng tải trên
10.000 tấn thắng lợi, mà trận đánh vang dội nhất
thời kỳ này là trận đánh chìm tàu chở máy bay
U.S. Cadơ tại cảng Sài Gòn ngày 2 tháng 5 năm
1964 của Đội biệt động 65. Tàu Cadơ có trọng tải
15.000 tấn, chở máy bay HU-lA, L.19, AD-6.
Tiếng nổ đánh chìm con tàu Cadơ tại bến cảng Sài
Gòn không chỉ tiêu diệt một số lượng lớn phương
15

tiện chiến tranh của địch, mà còn làm chấn động
dư luận nước Mỹ. Những thành tích đánh cầu đã
trở thành “thương hiệu” của đặc công nước Bắc
Việt, khiến cho quân địch ăn không ngon, ngủ
không yên, cùng những trận đánh kinh điển của
đặc công Rừng Sác mà tiếng vang đến tận bên kia
bán cầu, đã góp phần thay đổi cục diện chiến
trường giữa ta và địch. Tư lệnh Hải quân Nguyễn
Bá Phát hồ hởi báo cáo lên Quân ủy Trung ương
và Bộ Quốc phòng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp
sau khi nghe đã chỉ đạo Bộ Tư lệnh nhanh chóng
thành lập một đơn vị đặc công trinh sát hải quân
để tăng cường lực lượng cho chiến trường, phát
huy tối đa hiệu quả của cách đánh táo bạo này.
Đến ngày 13 tháng 4 năm 1966, Bộ Quốc phòng
đã có quyết định thành lập Đoàn huấn luyện
trinh sát đặc công hải quân 126, trực thuộc Bộ Tư
lệnh hải quân. Đoàn gồm có 39 đồng chí ở Đội 1
đã từng được huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật
đánh đặc công ở Đoàn 8 trước đây và 74 đồng chí
ở đại đội đặc công đánh biển thuộc Cục Nghiên
cứu Bộ Tổng Tham mưu làm nòng cốt. Khi mới
thành lập, Đoàn huấn luyện trinh sát đặc công
hải quân 126 do đồng chí Nguyễn Kim Sang làm
đoàn trưởng, đồng chí Phạm Điệng làm chính ủy.
Đến tháng 5 năm 1966, Bộ Tư lệnh hải quân điều
thêm 721 cán bộ, chiến sĩ, tuyển chọn từ các đơn vị
16

trong quân chủng về Đoàn 126. Mai Năng lúc này
vẫn giữ cương vị là đội trưởng Đội 1, đơn vị nòng
cốt của Đoàn.
Đoàn 126 huấn luyện đến tháng 10 năm 1966
thì được lệnh lên đường vào Nam chiến đấu.
Nhằm thực nghiệm công tác huấn luyện và rút
kinh nghiệm về cách đánh, về chiến thuật, trang
bị vũ khí, công tác xây dựng cơ sở,... để tiếp tục
huấn luyện với chất lượng tốt hơn, Đoàn 126 đã
đưa Đội 1 vào chiến đấu ở chiến trường Quảng
Trị. Trong số các thành viên lên đường trong năm
đó có mặt Mai Năng. Ông lên đường với cương vị
là thành viên Ban Chỉ huy tiền phương của Đoàn,
và một số cán bộ do đồng chí Phan Ưng làm
trưởng đoàn, đồng chí Lý Thảo phụ trách công tác
quân sự, đồng chí Phạm Trung Toan phụ trách
công tác chính trị, Mai Năng làm công tác tham
mưu. Người thay ông làm đội trưởng Đội 1 là đồng
chí Bùi Lý.
Vào chiến trường từ tháng 10 đến tháng 12
năm 1966 vẫn chưa thấy đặc công có hoạt động
gì, Bộ Tư lệnh gọi điện hỏi, sau khi nghe báo cáo
tình hình, lãnh đạo Bộ Tư lệnh cho rằng Đoàn bố
trí Mai Năng làm công tác tham mưu là không
hợp lý. Người như ông là con người của hoạt
động, là linh hồn của những trận đánh thực tế,
nên đã yêu cầu trao lại vị trí đội trưởng Đội 1 cho
17

Mai Năng và đưa đồng chí Bùi Lý về làm công
tác tham mưu. Nhận nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy
đơn vị chiến đấu, sau ba tháng tổ chức xây dựng
cơ sở, trinh sát nắm tình hình địch, đến ngày 31
tháng 3 năm 1967, Mai Năng và các chiến sĩ
Đội 1 đã ra quân đánh thắng trận đầu. Trận
đánh này ông là người trực tiếp chỉ huy. Mục
tiêu của Đội 1 trong lần đầu ra quân này là vừa
đánh tàu, vừa tiếp tục quan sát, nắm bắt quy
luật hoạt động của tàu địch trên sông, trong cảng
để phục vụ nhiệm vụ chiến đấu tiếp theo của đơn
vị. Lực lượng chiến đấu chính gồm có hai tổ đánh
tàu, một tổ do hai đồng chí Đỗ Khắc và Nguyễn
Văn Kiểm, có nhiệm vụ đánh chiếc tàu tuần tiễu
Nam Triều Tiên1 đang đậu ở cửa sông. Còn
nhiệm vụ quan sát quy luật hoạt động của địch
trong cảng và đánh chiếc tàu LST của Mỹ, có
trọng tải 5.000 tấn đang neo bốc hàng trong cảng
được giao cho hai đồng chí Tống Duy Kiên và
Nguyễn Văn Tình đảm nhiệm. Do một trục trặc
bất khả kháng trong khi đặt mìn, quả mìn đánh
chiếc tàu cuốc do Đỗ Khắc và Nguyễn Văn Kiểm
thực hiện bị nổ trước, mặc dù tiêu diệt được mục
tiêu, nhưng đã đánh động quân địch trong toàn
khu vực, khiến cho nhiệm vụ đánh tàu do
_____________
1. Tức Hàn Quốc (BT).

18

Nguyễn Văn Tình và Tống Duy Kiên không hoàn
thành được. Tuy nhiên, nhân cơ hội địch báo
động và triển khai lực lượng phản ứng trong toàn
khu vực này, hai chiến sĩ đã kịp thời nắm bắt
được quy luật hoạt động và bố phòng của địch,
làm cơ sở cho những trận đánh sau này. Bắt đầu
từ đây, Đoàn Đặc công hải quân 126 nói chung
và Đội 1 nói riêng bước vào một giai đoạn mới,
giai đoạn chiến đấu hào hùng, sáng tạo, mưu trí
và dũng cảm, đánh chìm, đánh hỏng nhiều tàu
chiến của Mỹ - ngụy, góp phần làm nên chiến
công chung của dân tộc trong cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
Mai Năng kể:
- Trên chiến trường Quảng Trị lúc ấy có hai
đầu mối chính là cảng Cửa Việt và cảng Đông Hà,
cách nhau mấy chục cây số. Nếu như dùng
phương pháp đánh trên toàn tuyến thì ta không
có đủ lực lượng nên buộc lòng phải sử dụng
phương pháp đánh phân tán, với phương châm
“Bí mật bất ngờ, luồn sâu ém sát, đánh hiểm
thắng lớn”. Các chiến sĩ đặc công của ta khi ấy đã
chia thành các tổ đánh tàu, bám sát hai cảng
chính, còn lại chia thành các tổ hoạt động dọc
theo bờ sông, vừa trinh sát nắm tình hình, vừa
sẵn sàng chiến đấu khi gặp địch. Tất cả tạo thành
một mạng lưới nắm thông tin của địch liên tục.
19

Chính vì thế mà chỉ trong một thời gian ngắn ta
đã đánh được nhiều trận thành công.
*
Ra quân trận đầu, tuy chưa giành được thắng
lợi như ý muốn, nhưng với một lực lượng nhỏ, với
chiến thuật luồn sâu đánh hiểm, bí mật phá hủy
bằng vũ khí thô sơ, các chiến sĩ Đoàn Đặc công
hải quân 126 đã đánh chìm chiếc tàu có trọng tải
70 tấn của địch. Thêm vào đó là những bài học
kinh nghiệm về kỹ năng tác chiến, về địa điểm
xuất phát, thời điểm xuống nước; vấn đề thủy
triều và những tác động ngoại cảnh khác có khả
năng ảnh hưởng đến kết quả trận đánh,... Nhưng
quan trọng nhất vẫn là khả năng ứng biến và tính
quyết đoán của người chỉ huy cũng như của mỗi
chiến sĩ trên chiến trường. Liên quan đến vấn đề
này, về sau, khi đã trở thành một vị tướng dày
dạn kinh nghiệm chiến trường, giữ trọng trách là
Tư lệnh binh chủng Đặc công, trong một lần trò
chuyện với một người bạn cũng đang là tư lệnh
một quân khu, Mai Năng bảo: “Ngày ấy, cứ vào
chiến trường là thực tế sẽ dạy mình tất cả, chứ
chẳng có ai dạy được hết mọi điều”. Quả đúng
vậy. Thực tế đem đến cho người lính những bài
học, cả thành công lẫn thất bại ngay trên chiến
trường, nhưng nếu biết vận dụng, biết ứng biến
20

thì nhiều khi thất bại này lại trở thành cơ hội tốt
cho những thành công tiếp theo. Ấy là trường hợp
một trận đánh cầu do chính ông trực tiếp chỉ huy.
Lần ấy, khi các chiến sĩ đặc công đang tìm cách
tiếp cận mục tiêu thì bị địch phát hiện, Mai Năng
quyết định rút lui để bảo toàn lực lượng. Khối
thuốc nổ nặng hơn trăm cân chuẩn bị dùng đánh
cầu được chia nhỏ ra để vận chuyển cho dễ dàng.
Trên đường về, gặp một đoàn tàu vận tải của địch
đang buông neo trên sông, như một “món quà”
của sự may mắn. Vậy là mục tiêu được chuyển
hướng. Trận đó diễn ra vào cuối năm 1968, khiến
hơn 10 chiếc tàu của địch bị tiêu diệt cùng một lúc
trên sông Thạch Hãn, giữa lúc chiến dịch Mậu
Thân đang rực lửa trên khắp chiến trường.
Sau hàng loạt những chiến thắng vang dội
trên chiến trường Quảng Trị từ đầu năm 1967
đến cuối năm 1968, tiếng tăm của Đặc công hải
quân 126 càng trở nên lừng lẫy. Quân địch đã
nhiều lần tổ chức những cuộc hành quân càn
quét, tăng cường tối đa khả năng phòng vệ bằng
nhiều biện pháp, thay đổi quy luật hoạt động,...
song vẫn không ngăn cản được hoạt động của các
chiến sĩ đặc công trên chiến trường. Nhiều loại vũ
khí mới, cách đánh mới được ta đưa vào sử dụng
trên chiến trường, khiến địch luôn rơi vào tình
trạng bất ngờ và lúng túng. Quân địch ở cảng 21

cái yết hầu trên chiến trường mà lúng túng thì
đương nhiên trên toàn bộ chiến trường khu vực
Bắc Quảng Trị, Đường 9 - Nam Lào - cái dạ dày
của chúng, sẽ vô cùng bi đát. Vậy nên, bằng mọi
giá, bất chấp những thiệt hại, những thất bại vẫn
thường xuyên diễn ra, địch vẫn phải cố sống cố
chết đưa tàu vào cảng và những trận đánh, cùng
với những chiến công của các chiến sĩ đặc công
cũng ngày càng được nhân lên.
Đến giữa năm 1969, Đại úy Tạ Văn Thiều (tức
Mai Năng), đội trưởng Đội 1 - Đoàn Đặc công hải
quân 126 và Thiếu úy Nguyễn Văn Tình - Phân
đội trưởng Đặc công Đội 1 được ra miền Bắc để
báo cáo thành tích và tham dự Đại hội tuyên
dương Anh hùng Chiến sĩ thi đua. Đây là hai
Anh hùng Lực lượng vũ trang đầu tiên của đặc
công hải quân nói chung và Đoàn 126 nói riêng.
Sau khi được tuyên dương anh hùng, Nguyễn
Văn Tình ở lại miền Bắc nhận nhiệm vụ mới, còn
Mai Năng trở lại chiến trường tiếp tục chỉ huy
đơn vị chiến đấu. Cũng trong thời gian này, lực
lượng đặc công của ta liên tục được tung vào
chiến trường, tổng cộng đến sáu đội. Mai Năng
được cử làm đoàn phó Đoàn 1A. Lực lượng đặc
công hải quân dưới sự chỉ huy của Mai Năng thời
gian này đã tham gia các trận đánh lớn và hiệu
quả, như trận đánh cầu Đông Hà năm 1971,
22

ngăn chặn đường hành quân và chi viện của địch
trên quốc lộ 1 suốt 42 ngày đêm trong chiến dịch
Đường 9 - Nam Lào.
Sang năm 1972, tình hình chiến trường trở
nên ác liệt hơn, lực lượng đặc công được giao
nhiệm vụ phối hợp chiến đấu với các lực lượng
khác, bao gồm bộ binh và quân địa phương. Do
thay đổi hình thức chiến đấu nên thời gian này,
lực lượng của ta thương vong khá nhiều. Mai
Năng kể, chỉ trong vòng chưa đầy một năm mà
quân số thương vong của đặc công đã bằng con số
của cả bảy năm chiến đấu trên chiến trường
Quảng Trị cộng lại, trong đó có cả đoàn trưởng
Đoàn 1A là đồng chí Mai Xoa. Mai Năng được cử
làm đoàn trưởng Đoàn 1A thay thế Mai Xoa vào
đầu năm 1973. Sau đó, các chiến sĩ Đặc công 126
tiếp tục bám trụ chiến trường cho đến giữa năm
1973, thì được lệnh rút về miền Bắc để củng cố
và tiếp tục huấn luyện, chuẩn bị cho những
nhiệm vụ tiếp theo.
Tổng kết bảy năm hoạt động trên chiến
trường Quảng Trị, Anh hùng Lực lượng vũ trang
nhân dân Mai Năng - Tạ Văn Thiều, người đặt
nền móng đầu tiên cho lực lượng đặc công hải
quân Việt Nam, đã tiến hành chỉ đạo, chỉ huy và
trực tiếp chiến đấu trên 300 trận, phá hủy 362
tàu chiến và tàu vận tải của địch, trong đó có tàu
23

trọng tải 15.000 tấn. Trận đánh này sau đó đã đi
vào lịch sử truyền thống của lực lượng đặc công
hải quân nhân dân Việt Nam, bởi đó là trận
đánh lập công đền ơn Bác. Đến tận hôm nay, kể
về trận đánh này, vị tướng già Mai Năng vẫn
rưng rưng:
- Đầu tháng 9 năm 1969, tin Bác Hồ mất đến
với cán bộ, chiến sĩ đặc công và nhân dân Quảng
Trị đem theo một nỗi đau đến thắt lòng. Trong lúc
toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đau thương
vô hạn trước sự ra đi của vị lãnh tụ kính yêu, thì
Mỹ - ngụy lợi dụng những ngày đó, liên tiếp mở
những cuộc tấn công, đánh phá trên toàn chiến
trường miền Nam, trong đó có vùng Tây Cam Lộ
và phía đông Gio Linh - Quảng Trị. Thực hiện lời
kêu gọi “Biến đau thương thành hành động” của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng và thực hiện
phong trào thi đua Chiến đấu giỏi, huấn luyện,
công tác, lao động tốt của Bộ Tư lệnh hải quân,
Đảng ủy và Chỉ huy Đoàn 126 phát động phong
trào thi đua Tìm diệt nhiều tàu địch, lập công đền
ơn Bác...
Trận đánh được bắt đầu từ ngày 5 tháng 9
năm 1969, khi cơ sở và trinh sát báo về, có một
tàu chở dầu lớn đỗ ngoài khơi, cách Cửa Việt 2 km
về hướng đông nam. Lập tức Đảng ủy và Chỉ huy
Đoàn 126 lên kế hoạch đánh chiếc tàu này.
24

Trước đó, do thường xuyên bị đặc công nước
của ta đánh chìm, đánh hỏng nhiều tàu vận tải
trên khúc sông Cửa Việt - Đông Hà, địch buộc
phải thay đổi phương thức vận tải. Để tránh thiệt
hại, Bộ Chỉ huy hải quân Mỹ - ngụy đã ra lệnh
cho các đơn vị vận tải của chúng chỉ được sử dụng
tàu dưới 4.000 tấn vào cảng Cửa Việt dỡ hàng.
Các tàu có trọng tải lớn hơn phải neo đậu ngoài
biển, cách bờ từ 1 đến 5 hải lý, chờ xà lan và tàu
nhỏ ra lấy hàng. Tuyệt đối không được vào cảng.
Tổ trực tiếp đánh trận đó có ba người: Bùi
Văn Hy làm tổ trưởng, hai chiến sĩ là Trần Quang
Khải và Trần Văn Hỗ. Sau khi nghiên cứu lập
phương án chiến đấu, đến sáng 6 tháng 9, toàn
đội nhận lệnh xuất phát. Sau hơn hai ngày hành
quân, tiếp cận, vượt qua những tuyến phòng thủ
của địch, đến tối 8 tháng 9, hai chiến sĩ đặc công
Trần Quang Khải và Trần Văn Hỗ đã gắn được
mìn vào thân tàu thì bị địch phát hiện, tấn công,
làm bị thương. Các chiến sĩ vừa đánh địch vừa rút
lui. Đến 22 giờ ngày 8 tháng 9, khi còn chưa về
đến vị trí tập kết thì hai tiếng nổ phát ra, kế đó là
một quầng lửa trùm xuống biển,... Chiếc tàu chở
dầu trọng tải lớn của Mỹ, có trang thiết bị hiện
đại, trong đó có cả thiết bị chống người nhái,
chống đặc công nước và được canh gác rất nghiêm
ngặt đã bị đánh chìm trên biển Cửa Việt. Sự kiện
25

trên không chỉ khiến Mỹ - ngụy hoang mang, mà
dư luận thế giới cũng cho là “ngoài sức tưởng
tượng”. Tất cả các báo ở Sài Gòn và hơn 70 tờ báo
của các nước khác thời gian đó đã đưa tin và bình
luận về sự kiện “kinh hoàng” này.
Chiến công đánh chìm chiếc tàu dầu trọng tải
15.000 tấn trên biển trong đêm 8 tháng 9 năm
1969 trước hết là thắng lợi của quyết tâm tích cực
chủ động tiêu diệt địch, là thắng lợi của tinh thần
quyết đánh và quyết thắng. Đồng thời là thắng lợi
của lòng dũng cảm, kiên trì, mưu trí và biết khắc
phục khó khăn của cán bộ, chiến sĩ Đoàn Đặc
công hải quân 126 để đền ơn Bác.
*
Rút quân ra Bắc làm nhiệm vụ củng cố lực
lượng và tiếp tục huấn luyện sẵn sàng chiến đấu,
đến đầu năm 1975, chiến trường miền Nam có
những biến động lớn, cần sử dụng đến lực lượng
đặc biệt và tinh nhuệ này. Tháng 3 năm 1975, Bộ
Quốc phòng, mà trực tiếp là Đại tướng Tổng Tư
lệnh Võ Nguyên Giáp đã gặp gỡ và giao nhiệm vụ
cho lực lượng hải quân bằng mọi biện pháp đánh
chiếm và giải phóng các đảo do quân ngụy đang
chiếm giữ trên quần đảo Trường Sa. Đồng chí Mai
Năng lúc này tuy đang điều trị vết thương, song
26

vẫn được Bộ Tư lệnh tín nhiệm giao nhiệm vụ chỉ
huy 200 quân lên đường làm nhiệm vụ giải phóng
Trường Sa.
Nhận lệnh, dẫn quân lên đường từ đầu tháng
3 năm 1975, hành quân từ Quảng Ninh vào đến
Đà Nẵng là ngày 28 tháng 3, trong khí thế hừng
hực của những đoàn quân đang rầm rập tiến vào
Nam. Tại đây, Mai Năng gặp đồng chí Thái thuộc
Bộ Tư lệnh hải quân đang phụ trách lực lượng hải
quân đóng ở khu vực Đà Nẵng để cùng bàn
phương án tác chiến. Thực tế lúc này, ta chưa
nắm rõ được tình hình địch cũng như địa bàn tác
chiến. Tất cả trong tay chỉ có tấm bản đồ và ba
chiếc tàu chiến của Đoàn 125 để chuyển quân ra
Trường Sa và một lực lượng phối thuộc của Quân
khu 5.
Với điều kiện như vậy thì việc dàn quân để
đánh chiếm tất cả các đảo cùng một lúc là điều
không thể. Mặt khác, hình thức tác chiến của đặc
công xưa nay vẫn là phải có thời gian trinh sát để
nắm tình hình, từ đó xây dựng phương án tác
chiến. Lần ra biển này hoàn toàn khác. Đặc công,
nhưng lại phải chiến đấu theo cách của trinh sát
vũ trang, nghĩa là đi đến đâu chiến đấu đến đó.
Mai Năng đề xuất phương án đánh thí điểm để
rút kinh nghiệm. Toàn đội sẽ tập trung đánh
chiếm đảo Song Tử Tây trước.
27

Vậy là hành quân. Rời cảng Đà Nẵng từ lúc
0 giờ ngày 11 tháng 4, lênh đênh trên tàu, vượt
hơn 200 hải lý, đến ngày 14 tháng 4 thì tới vùng
biển cách đảo Song Tử Tây khoảng 5 km. Ba
chiếc tàu giả làm tàu cá của Philíppin để tìm
cách tiếp cận đảo.
Có một điều không lường trước được, ấy là
đặc công nước bơi thì giỏi, nhưng khi lên tàu thì
lại say sóng, nhất là lại phải ém dưới khoang cả
mấy ngày trời. Toàn đội có những người không
ăn uống gì nổi, chứ đừng nói gì đến chuyện chiến
đấu... Tình thế khá nan giải. Thế nhưng, khi vừa
phát lệnh chuẩn bị chiến đấu thì lại một điều
cũng không lường trước, tất cả hơn 200 con người
đang mệt nhoài vì sóng kia bỗng đứng dậy như
chưa từng mệt mỏi. Mai Năng kể lại tinh thần
anh em lúc ấy: “Vui như chưa từng có, phấn khởi
chưa từng thấy, xa mấy cũng đi, khó mấy cũng
đến. Đã đến là đánh. Quyết đánh thắng ngay từ
trận đầu...”.
Và thế là hơn 200 chiến sĩ lặng lẽ lao mình
xuống nước.
Thế rồi những tiếng súng bộ binh, B40, B41,
DKZ, những tiếng thủ pháo, lựu đạn, súng tiểu
liên AK nổi lên từng chặp, dập tan những tiếng
súng chống cự yếu ớt từ trên đảo.
Thế rồi im lặng!
28

Rồi cờ đỏ sao vàng bay tung trên cột cờ đảo
Song Tử Tây...
Về sau, trong một cuộc hỏi cung tù binh, tên
chỉ huy trên đảo hôm đó nói thật: “Lúc đầu cũng
định chống cự vì chưa biết lực lượng tấn công là lực
lượng nào, nhưng về sau nghe thấy quân ta nói
giọng miền Bắc, biết là gặp phải quân chủ lực, bèn
bảo nhau chỉ có hàng thì mới sống, còn chống cự
thì chắc chỉ có chết. Vậy là nhất loạt đầu hàng...”.
Sau khi rút kinh nghiệm trận đánh trên đảo
Song Tử Tây, các chiến sĩ đặc công hải quân tiếp
tục vận động đánh chiến các đảo khác như Sơn
Ca, Sinh Tồn, An Bang, Trường Sa Lớn,... Đến
ngày 29 tháng 4 năm 1975, ta đã làm chủ hoàn
toàn các đảo do quân ngụy đang chiếm giữ trên
quần đảo Trường Sa. Đặc công bàn giao lại cho
các đơn vị bộ binh tiếp quản, lên tàu rút về Sài
Gòn, khi ấy cũng vừa được giải phóng.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng
Trường Sa, người chỉ huy Mai Năng được Đảng,
Nhà nước và Quân đội tặng Huân chương Quân
công hạng Ba.
*
Trường Sa được giải phóng, chiến dịch Hồ Chí
Minh kết thúc thắng lợi, giang sơn thu về một
29

mối. Những người lính nói chung và đặc công hải
quân nói riêng trở lại với nhiệm vụ huấn luyện và
sẵn sàng chiến đấu. Mai Năng được cấp trên cử đi
đào tạo chương trình quân sự cao cấp ở Liên Xô từ
năm 1975 đến năm 1977. Về nước với quân hàm
thượng tá, ông được điều về làm lữ ...
 
Gửi ý kiến