Bài 18. Nhớ rừng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Xuân Đông (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:04' 14-03-2016
Dung lượng: 268.5 KB
Số lượt tải: 80
Nguồn:
Người gửi: Vũ Xuân Đông (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:04' 14-03-2016
Dung lượng: 268.5 KB
Số lượt tải: 80
Số lượt thích:
0 người
Ngày soạn: 04/01/2016
Ngày dạy: 12/01/2016
Tiết 73
NHỚ RỪNG
Thế Lữ
A. Mục tiêu bài giảng: Giúp HS:
- Cảm nhận được niềm khát khao tự do mãnh liệt, nỗi chán ghét sâu sắc cái thực tại tù túng, tầm thường, giả dối được thể hiện trong bài thơ qua lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú.
- Thấy được bút pháp lãng mạn đầy truyền cảm của nhà thơ.
- Rèn kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích thơ tự do.
B. Kỹ năng cần được giáo dục trong bài
- Tự nhận thức: Nhận thức về hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
- Giao tiếp: Trình bày những hiểu biết của mình về hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX và những nhận thức khác
C. Phương pháp, phương tiện-kỹ thuật dạy học thực hiện:
- Phương pháp: Vấn đáp, gợi tìm
- Phương tiện: SGK, SGV, TLTK (Thi nhân Việt Nam, …. )
- Kỹ thuật: Trình bày 1 phút
D. Tiến trình lên lớp:
1, Tổ chức: 8A
2, Kiểm tra bài cũ: Những bài thơ đầu thế kỷ XX đã được học trong Ngữ văn 8 T1?
3, Bài mới:
* Hoạt động 1: Khởi đông:
- Thơ mới:
+ Lúc đầu gọi tên một thể thơ (thơ tự do): khoảng sau 1930, một loạt thi sĩ trẻ xuất thân “Tây học” lên án “Thơ cũ” (thơ Đường luật) khuôn sáo, trói buộc và đòi đổi mới thơ ca và sáng tác những bài thơ khá tự do, số chữ, số câu không hạn định gọi là thơ mới.
+ Sau: dùng gọi một phong trào thơ có tính chất lãng mạn tiểu tư sản bột phát năm 1932, kết thúc năm 1945, gắn liền với những tên tuổi: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính... ra đời và phát triển mạnh mẽ đi vào bế tắc trong vòng 15 năm.
- Trong thơ mới: thơ tự do không nhiều, chủ yếu là thơ: 7 chữ, 8 chữ, lục bát; so với thơ cũ (Đường luật), thơ mới tự do, phóng khoáng, linh hoạt hơn, không bị ràng buộc bởi quy tắc nghiệt ngã của thi pháp cổ điển.
- Thơ mới mở đầu bằng cuộc tranh luận “thơ mới” – “thơ cũ” sôi nổi, gay gắt từ Bắc vào Nam
-> Thơ mới chiến thắng, không phải bằng lí lẽ mà bằng một loạt các bài thơ hay, trước hết là của Thế Lữ “Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết. Thế Lữ chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ. Bởi vì không gì khiến người ta tin thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay”.
+ Thế Lữ là người cắm ngọn cờ chiến thắng cho thơ mới, là tác giả tiêu biểu nhất cho phong trào thơ mới chặng đầu.
+ Bút bút danh: Vừa là sự chơi chữ vừa: ngụ ý tự nhận là người lữ khách trên trần thế, chỉ biết đi tìm cái đẹp; song vẫn mang nặng tâm sự thời thế, đất nước.
- “Nhớ rừng” là bài thơ tiêu biểu nhất của ông và cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho phong trào thơ mới 1932- 1945.
* Hoạt động 2:Khám phá và kết nối:
- GV gọi HS đọc chú thích * SGK.
- Nêu những nét chính về tác giả, tác phẩm.
- GV đọc mẫu 1 đoạn, gọi HS đọc tiếp.
- Nhận xét và uốn nắn cách đọc.
- HS đọc mục chú thích SGK.
- Bài thơ được chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung từng đoạn?
- Bài thơ có hai cảnh đầy ấn tượng, đó là những cảnh nào?
- GV gọi hs đọc đoạn 1.
- Từ chỗ là chúa sơn lâm, nay con hổ thấy mình ra sao?
- Tìm những từ ngữ nói lên cảnh đó? Nhận xét?
- Trong hoàn cảnh ấy, tâm trạng con hổ được bộc lộ ntn?
- Nhận xét giọng thơ, từ ngữ?
- Đó là tâm trạng gì?
- ở đoạn 4, cảnh vườn bách thú hiện lên ntn?
- Em có nhận xét gì về giọng điệu thơ ở đoạn này?
Ngày dạy: 12/01/2016
Tiết 73
NHỚ RỪNG
Thế Lữ
A. Mục tiêu bài giảng: Giúp HS:
- Cảm nhận được niềm khát khao tự do mãnh liệt, nỗi chán ghét sâu sắc cái thực tại tù túng, tầm thường, giả dối được thể hiện trong bài thơ qua lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú.
- Thấy được bút pháp lãng mạn đầy truyền cảm của nhà thơ.
- Rèn kĩ năng đọc diễn cảm và phân tích thơ tự do.
B. Kỹ năng cần được giáo dục trong bài
- Tự nhận thức: Nhận thức về hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.
- Giao tiếp: Trình bày những hiểu biết của mình về hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX và những nhận thức khác
C. Phương pháp, phương tiện-kỹ thuật dạy học thực hiện:
- Phương pháp: Vấn đáp, gợi tìm
- Phương tiện: SGK, SGV, TLTK (Thi nhân Việt Nam, …. )
- Kỹ thuật: Trình bày 1 phút
D. Tiến trình lên lớp:
1, Tổ chức: 8A
2, Kiểm tra bài cũ: Những bài thơ đầu thế kỷ XX đã được học trong Ngữ văn 8 T1?
3, Bài mới:
* Hoạt động 1: Khởi đông:
- Thơ mới:
+ Lúc đầu gọi tên một thể thơ (thơ tự do): khoảng sau 1930, một loạt thi sĩ trẻ xuất thân “Tây học” lên án “Thơ cũ” (thơ Đường luật) khuôn sáo, trói buộc và đòi đổi mới thơ ca và sáng tác những bài thơ khá tự do, số chữ, số câu không hạn định gọi là thơ mới.
+ Sau: dùng gọi một phong trào thơ có tính chất lãng mạn tiểu tư sản bột phát năm 1932, kết thúc năm 1945, gắn liền với những tên tuổi: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính... ra đời và phát triển mạnh mẽ đi vào bế tắc trong vòng 15 năm.
- Trong thơ mới: thơ tự do không nhiều, chủ yếu là thơ: 7 chữ, 8 chữ, lục bát; so với thơ cũ (Đường luật), thơ mới tự do, phóng khoáng, linh hoạt hơn, không bị ràng buộc bởi quy tắc nghiệt ngã của thi pháp cổ điển.
- Thơ mới mở đầu bằng cuộc tranh luận “thơ mới” – “thơ cũ” sôi nổi, gay gắt từ Bắc vào Nam
-> Thơ mới chiến thắng, không phải bằng lí lẽ mà bằng một loạt các bài thơ hay, trước hết là của Thế Lữ “Thế Lữ không bàn về thơ mới, không bênh vực thơ mới, không bút chiến, không diễn thuyết. Thế Lữ chỉ điềm nhiên bước những bước vững vàng mà trong khoảnh khắc cả hàng ngũ thơ xưa phải tan vỡ. Bởi vì không gì khiến người ta tin thơ mới hơn là đọc những bài thơ mới hay”.
+ Thế Lữ là người cắm ngọn cờ chiến thắng cho thơ mới, là tác giả tiêu biểu nhất cho phong trào thơ mới chặng đầu.
+ Bút bút danh: Vừa là sự chơi chữ vừa: ngụ ý tự nhận là người lữ khách trên trần thế, chỉ biết đi tìm cái đẹp; song vẫn mang nặng tâm sự thời thế, đất nước.
- “Nhớ rừng” là bài thơ tiêu biểu nhất của ông và cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho phong trào thơ mới 1932- 1945.
* Hoạt động 2:Khám phá và kết nối:
- GV gọi HS đọc chú thích * SGK.
- Nêu những nét chính về tác giả, tác phẩm.
- GV đọc mẫu 1 đoạn, gọi HS đọc tiếp.
- Nhận xét và uốn nắn cách đọc.
- HS đọc mục chú thích SGK.
- Bài thơ được chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung từng đoạn?
- Bài thơ có hai cảnh đầy ấn tượng, đó là những cảnh nào?
- GV gọi hs đọc đoạn 1.
- Từ chỗ là chúa sơn lâm, nay con hổ thấy mình ra sao?
- Tìm những từ ngữ nói lên cảnh đó? Nhận xét?
- Trong hoàn cảnh ấy, tâm trạng con hổ được bộc lộ ntn?
- Nhận xét giọng thơ, từ ngữ?
- Đó là tâm trạng gì?
- ở đoạn 4, cảnh vườn bách thú hiện lên ntn?
- Em có nhận xét gì về giọng điệu thơ ở đoạn này?
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓








Các ý kiến mới nhất