NHẬN THỨC VỀ QUÁ KHỨ TRONG " DI CẢO" THƠ CỦA CHẾ LAN VIÊN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:33' 14-05-2009
Dung lượng: 71.5 KB
Số lượt tải: 30
Nguồn:
Người gửi: Hang Nga (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:33' 14-05-2009
Dung lượng: 71.5 KB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích:
0 người
Nhận thức về quá khứ trong "Di cảo thơ" của Chế Lan Viên Ths. Nguyễn Diệu Linh Khoa Khoa học xã hội và tự nhiên, ĐHTN
Trong Di cảo thơ có trên dưới năm chục bài viết trực tiếp hoặc có hình ảnh về cuộc sống đã đi qua. Trong đó, có 23 bài viết trong hai năm 1987-1988 (hai năm đầu khi đất nước và văn học tiến hành công cuộc đổi mới) hoặc viết trước đó nhưng hoàn thành vào hai năm này. Nhận thức về quá khứ là một vấn đề lớn, nhiều khi lại vượt sang những lĩnh vực khác mà người làm văn nghệ khó am tường hết nên có thể chưa nói đúng, nói trúng tất cả những gì đã diễn ra trong lịch sử. Bởi vậy, qua khảo sát Di cảo thơ, bài viết này tập trung vào những vấn đề xuất hiện nhiều và rõ nét nhất mà Chế Lan Viên đề cập đến để rút ra những cảm nghĩ về tác giả về vấn đề phức tạp này.
1. Trước hết về vấn đề truyền thống lịch sử. Số bài, số câu viết về chủ đề này không nhiều song lại giúp người đọc nhìn nhận khá cụ thể thông điệp của tác giả.
Nhận thức về đặc điểm lịch sử của nước ta đã có nhiều người đề cập đến, nhưng các ý kiến đó thường nghiêng về những thuận lợi. Ở Chế Lan Viên lại khác, ông cho rằng từ lúc sinh ra, dân tộc ta đã phải chống chọi với giặc giã, với những âm mưu… Mà tuổi thơ thường chưa nhận thức hết được những âm mưu. Giặc ngoại xâm tràn đến đồng loã với nạn lũ lụt, hạn hán hoành hành. Cái vòng xoáy dữ dằn đó luôn chụp xuống đầu dân tộc ta suốt mấy ngàn năm: “Đất nước gì mà tuổi trong nôi đã phải nhảy lên mình ngựa thép đi đánh giặc/ Đang cưỡi trâu, chơi cờ lau cũng phải bỏ chơi mà đánh giặc/ Chiếc gối lông nga cũng có âm mưu của giặc trộn vào/ Yêu mà bị chém rơi đầu vì Mị Châu hoá giặc!/ Cho đến cùng phải hoá Sơn Tinh, Thuỷ Tinh/ Đánh giặc cùng nhau huy động núi non, lũ lụt vào vòng chiến tình yêu/ Mà cướp một cô Nàng” (Đất nước ta)(1).
Trong một lần khác, Chế Lan Viên lại khắc sâu thêm đặc điểm này nhưng không phải như một số người chỉ nghiêng về ý chúng ta có truyền thống chống giặc từ lúc mới lập nước mà với ý nghĩa là từ lúc sinh ra dân tộc ta đã phải đối phó với giặc ngoại xâm: “Ở đất nước ba tuổi đã rời nôi lên ngựa sắt/ Tuổi trẻ chơi lau đã chơi trò đánh giặc/ Kiếm làm cho con rùa không thể yên thân trong cuộc sống thường…” (Sử)(2).
Câu chuyện Mị Châu – Trọng Thuỷ đã được Tố Hữu đề cập đến trong bài thơ Tâm sự để gửi gắm suy nghĩ về bài học cảnh giác của lịch sử. Trong Di cảo thơ, Chế Lan Viên cũng vài lần nhắc đến bi tình này. Một mặt, để nói về tình yêu bị những âm mưu chính trị lừa dối. Một mặt khác, để nói đến nỗi oan vượt ra ngoài nỗi oan riêng của Mị Châu mà chúng ta cần cảnh giác, đừng để tái diễn. Cái mới của thơ Chế Lan Viên là ở chỗ đó: “Còn cái lông nga ấy bây giờ đâu?/ Ai biết?!/ Có lẽ nó bay trên đầu những người oan khuất/ Đang chờ người yêu và vết chém sau lưng” (Lông nga máu)(3).
Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ sau khi có một trăm người con đã phải chia tay nhau, kẻ lên rừng, người xuống biển phải được nhìn nhận ly hôn là để tồn tại, để mưu sinh. Có ý kiến cho rằng giống Rồng và giống Tiên không hợp nhau nên phải chia tay là không thoả đáng. Sự chia tay ở đây đồng nghĩa với sự tồn tại và phát triển của giống nòi. Cuộc chia tay được Chế Lan Viên diễn tả xoắn lòng như vòng xoắn của Loa Thành. Khi nhớ đến những người con ra bể, mẹ Âu Cơ vô cùng đau xót nghĩ đến những đứa chịu rủi ro. Với nhận thức giàu tính nhân văn như thế, thơ Chế Lan Viên đã thực sự làm mới hơn truyền thống lịch sử của cha ông: “Chúng ta là con của mây cha ta và sóng bể mẹ ta từng ly biệt/ Xoắn lòng ta như Loa Thành tự buổi An Dương Vương/ Mẹ Âu Cơ nghe lòng trong bể động và bể im không tiếng sóng/ Trăm trứng hồng của mẹ kia, trứng nào sẽ thoát khỏi đau thương?” (Sử)(4).
Những bài thơ viết về Nguyễn Trãi và nhất là về Nguyễn Du trong Di cảo thơ cho thấy sự trăn trở của Chế Lan Viên về di sản văn hoá, văn học của dân tộc. Viết về Nguyễn Trãi, nhà thơ thấm thía nỗi đau và oan khuất của thi hào. Mỗi dòng thơ có một từ “máu”, từ “máu thấm” cho đến “máu
Trong Di cảo thơ có trên dưới năm chục bài viết trực tiếp hoặc có hình ảnh về cuộc sống đã đi qua. Trong đó, có 23 bài viết trong hai năm 1987-1988 (hai năm đầu khi đất nước và văn học tiến hành công cuộc đổi mới) hoặc viết trước đó nhưng hoàn thành vào hai năm này. Nhận thức về quá khứ là một vấn đề lớn, nhiều khi lại vượt sang những lĩnh vực khác mà người làm văn nghệ khó am tường hết nên có thể chưa nói đúng, nói trúng tất cả những gì đã diễn ra trong lịch sử. Bởi vậy, qua khảo sát Di cảo thơ, bài viết này tập trung vào những vấn đề xuất hiện nhiều và rõ nét nhất mà Chế Lan Viên đề cập đến để rút ra những cảm nghĩ về tác giả về vấn đề phức tạp này.
1. Trước hết về vấn đề truyền thống lịch sử. Số bài, số câu viết về chủ đề này không nhiều song lại giúp người đọc nhìn nhận khá cụ thể thông điệp của tác giả.
Nhận thức về đặc điểm lịch sử của nước ta đã có nhiều người đề cập đến, nhưng các ý kiến đó thường nghiêng về những thuận lợi. Ở Chế Lan Viên lại khác, ông cho rằng từ lúc sinh ra, dân tộc ta đã phải chống chọi với giặc giã, với những âm mưu… Mà tuổi thơ thường chưa nhận thức hết được những âm mưu. Giặc ngoại xâm tràn đến đồng loã với nạn lũ lụt, hạn hán hoành hành. Cái vòng xoáy dữ dằn đó luôn chụp xuống đầu dân tộc ta suốt mấy ngàn năm: “Đất nước gì mà tuổi trong nôi đã phải nhảy lên mình ngựa thép đi đánh giặc/ Đang cưỡi trâu, chơi cờ lau cũng phải bỏ chơi mà đánh giặc/ Chiếc gối lông nga cũng có âm mưu của giặc trộn vào/ Yêu mà bị chém rơi đầu vì Mị Châu hoá giặc!/ Cho đến cùng phải hoá Sơn Tinh, Thuỷ Tinh/ Đánh giặc cùng nhau huy động núi non, lũ lụt vào vòng chiến tình yêu/ Mà cướp một cô Nàng” (Đất nước ta)(1).
Trong một lần khác, Chế Lan Viên lại khắc sâu thêm đặc điểm này nhưng không phải như một số người chỉ nghiêng về ý chúng ta có truyền thống chống giặc từ lúc mới lập nước mà với ý nghĩa là từ lúc sinh ra dân tộc ta đã phải đối phó với giặc ngoại xâm: “Ở đất nước ba tuổi đã rời nôi lên ngựa sắt/ Tuổi trẻ chơi lau đã chơi trò đánh giặc/ Kiếm làm cho con rùa không thể yên thân trong cuộc sống thường…” (Sử)(2).
Câu chuyện Mị Châu – Trọng Thuỷ đã được Tố Hữu đề cập đến trong bài thơ Tâm sự để gửi gắm suy nghĩ về bài học cảnh giác của lịch sử. Trong Di cảo thơ, Chế Lan Viên cũng vài lần nhắc đến bi tình này. Một mặt, để nói về tình yêu bị những âm mưu chính trị lừa dối. Một mặt khác, để nói đến nỗi oan vượt ra ngoài nỗi oan riêng của Mị Châu mà chúng ta cần cảnh giác, đừng để tái diễn. Cái mới của thơ Chế Lan Viên là ở chỗ đó: “Còn cái lông nga ấy bây giờ đâu?/ Ai biết?!/ Có lẽ nó bay trên đầu những người oan khuất/ Đang chờ người yêu và vết chém sau lưng” (Lông nga máu)(3).
Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ sau khi có một trăm người con đã phải chia tay nhau, kẻ lên rừng, người xuống biển phải được nhìn nhận ly hôn là để tồn tại, để mưu sinh. Có ý kiến cho rằng giống Rồng và giống Tiên không hợp nhau nên phải chia tay là không thoả đáng. Sự chia tay ở đây đồng nghĩa với sự tồn tại và phát triển của giống nòi. Cuộc chia tay được Chế Lan Viên diễn tả xoắn lòng như vòng xoắn của Loa Thành. Khi nhớ đến những người con ra bể, mẹ Âu Cơ vô cùng đau xót nghĩ đến những đứa chịu rủi ro. Với nhận thức giàu tính nhân văn như thế, thơ Chế Lan Viên đã thực sự làm mới hơn truyền thống lịch sử của cha ông: “Chúng ta là con của mây cha ta và sóng bể mẹ ta từng ly biệt/ Xoắn lòng ta như Loa Thành tự buổi An Dương Vương/ Mẹ Âu Cơ nghe lòng trong bể động và bể im không tiếng sóng/ Trăm trứng hồng của mẹ kia, trứng nào sẽ thoát khỏi đau thương?” (Sử)(4).
Những bài thơ viết về Nguyễn Trãi và nhất là về Nguyễn Du trong Di cảo thơ cho thấy sự trăn trở của Chế Lan Viên về di sản văn hoá, văn học của dân tộc. Viết về Nguyễn Trãi, nhà thơ thấm thía nỗi đau và oan khuất của thi hào. Mỗi dòng thơ có một từ “máu”, từ “máu thấm” cho đến “máu
 









Các ý kiến mới nhất