Tuần 10. Người lái đò Sông Đà (Trích - Nguyễn Tuân)

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Nguyễn Phương Hiếu
Ngày gửi: 11h:49' 07-08-2022
Dung lượng: 245.1 KB
Số lượt tải: 21
Nguồn:
Người gửi: Trần Nguyễn Phương Hiếu
Ngày gửi: 11h:49' 07-08-2022
Dung lượng: 245.1 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích:
0 người
Nhà phê bình văn học nổi tiếng Belinsky đã khẳng định: “Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật, đó là một định lý”. Trên hành trình khám phá và sáng tác nghệ thuật, sứ mệnh của mỗi nhà văn là phát hiện cái đẹp ở mọi khía cạnh của cuộc sống. Ngòi bút tài hoa của nhà văn Nguyễn Tuân đã tìm kiếm, khám phá và khắc hoạ thành công cái đẹp ấy qua nhân vật người lái đò sông Đà trong tác phẩm cùng tên ”Người lái đò sông Đà”. Thông qua những nét đẹp ở đứa con tinh thần của mình ở đoạn trích: ”Không một phút nghỉ tay… dữ quân tợn vừa rồi”, ta nhìn thấy được những nét đặc trưng trong cách khám phá con người của tác giả.
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn lớn mở đường, đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX. Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định ông là một cây bút luôn khát khao những cảm giác, cảm xúc mới lạ, nồng nàn, say đắm. Và quả thật là vậy khi Nguyễn Tuân luôn khát khao được “xê dịch” để săn tìm cái đẹp, những cảnh vật đẹp một cách tuyệt đỉnh hoặc dữ dội, mãnh liệt như đèo cao, vực sâu, thác nước,... và ông cũng không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng làm lay động lòng người đọc nhất. Cái tôi “ngông” của người nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, độc đáo bậc nhất” của văn học Việt Nam ấy được thể hiện rõ qua những tác phẩm của ông, tiêu biểu là “Người lái đò sông Đà", được rút ra từ tập tùy bút "Sông Đà" (1960). Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc trong thời kỳ miền Bắc bước vào con đường xây dựng cuộc sống mới, xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Qua bài văn, ta cảm nhận được hình tượng nghệ thuật đặc sắc của con sông Đà và “chất vàng mười đã qua thử lửa” của người lao động trên trang văn của Nguyễn Tuân. Đoạn trích được nêu ra nằm ở phần giữa của bút kí và đã thể hiện những nét độc đáo trong cách phát hiện, nhìn nhận con người của tác giả qua việc thành công xây dựng hình tượng người lái đò với nét đẹp.
Dẫu chỉ xuất hiện trong một phân cảnh ngắn nhưng người lái đò sông Đà là nhân vật trung tâm của toàn bộ tác phẩm mà qua đó, tác giả muốn thể hiện quan niệm về con người cũng như nghệ thuật của ông: “đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”. Thiên nhiên dù có dung lượng lớn hơn nhưng cũng chỉ làm phông nền để tô bật vẻ đẹp của người lao động. Ông lái đò tuy đã gần 70 tuổi, tóc bạc trắng, nhưng “vẫn đẹp như pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch” khi thân hình “cao to gọn quánh như chất sừng, chất mun” cùng cặp mực tinh anh và nhãn lực nhìn xa vời vợi, bởi hoàn cảnh sống khắc nghiệt nơi sông Đà đã tôi luyện ông. Đặc biệt ở ông còn toát lên vẻ trí dũng, tài hoa đáng ngưỡng mộ. Người lái đò chính là người có đầy đủ những đặc điểm đạo đức mà Nguyễn Tuân tìm kiếm, người anh hùng trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trước đó, ta đã thấy được nét đẹp trí dũng của người lao động qua cuộc chiến đấu với sông Đà ở trùng vi thạch trận lần thứ nhất. Đứng trước sự dữ tợn, hiểm ác của con sông, ông vẫn bình tĩnh “giữ chặt mái chèo”, tự tin, hiên ngang, không hề nao núng, rung sợ. Và dù có bị thương, ông vẫn cố nén đau, “kẹp chặt cuốn lái”. ông không bỏ cuộc, thay vào đó tinh thần ý chị, sự nghị lực của ông nay càng vững vàng hơn bao giờ hết. Nhờ đó mà con người bé nhỏ đã chiến thắng được thiên nhiên to lớn, hùng mạnh và bước đến cuộc chiến thứ hai.
Ở cuộc trùng vi thứ hai này, người lái đò tiếp tục tỏa sáng với phẩm chất tài hoa, quả cảm. Trước sự thất bại đầu tiên, con sông Đà không dừng lại âm mưu nuốt chửng người lái đò mà lại càng thêm ranh ma, quyết thay đổi chiến thuật để đạt được mục đích. Nó cho “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”. Những chiến lược của con sông được tác giả ví như là “binh pháp của thần sông thần đá”. Với biện pháp nhân cách hóa, tác giả đã nâng sự khôn ngoan, xảo trá của con sông lên hàng thần thánh, đối lập với hình ảnh những con người không có phép màu, vũ khí trên thuyền. Thêm vào đó, bằng cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”, Nguyễn Tuân đã thành công khiến người đọc mường tượng ra được con mãnh thú sông Đà đang lồng lộn, đe dọa, uy hiếp, đòi nuốt chửng con người như thế nào.
Đứng trước thế hung tợn, độc hiểm của con sông, con người vẫn xuất hiện với vẻ bình thản, ung dung, không hề hoảng loạn, “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”. Sự bình tĩnh, tự tin, kiên định đó của ông được xây dựng nên từ niềm tin vào kinh nghiệm dày dặn của ông khi đã dành cả đời gắn bó với chốn sông nước nơi đây. Ông am hiểu tường tận con sông, nắm chắc, và “thuộc quy luật phục kích của lũ đá”. Để đánh bại được nó, ông quyết định dũng cảm đối mặt chế ngự con mãnh thú đang gầm thét, “cưỡi lên thác sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Quả là con người mưu trí, thông thái, giàu kinh nghiệm. Ông hiện thực hóa chiến thuật đó bằng hành động “nắm được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”. Nhà văn đã xuất sắc khắc họa tư thế dũng mãnh, lẫm liệt, ngang tàng của một dũng tướng tài ba đang thuần phục, điều khiển con ngựa bất kham, con mãnh thú hung tợn, hòng khiến nó phải khuất phục. Hình tượng oai phong, xông pha của người lái đò có thể liên hệ với người anh hùng Võ Tòng tay không đả hổ trong giai thoại xưa.
Dẫu vậy, sông Đà vẫn cứng đầu không chịu thua cái thuyền, cố chấp không chịu từ bỏ: “xô ra định níu thuyền vào tập đoàn của tử”. Nhưng như thế chỉ tạo cơ hội cho người lái đò thể hiện sự tài ba, điêu luyện, điệu nghệ của mình khi ông phòng tránh và đánh trả bằng chuỗi những động tác tả xung hữu đột mạnh mẽ, dứt khoát, chính xác “bám chắc lấy luồng nước đúng”, “phóng nhanh vào cửa sinh”, “lái miết”, “rảo bơi”, “đè sấn”, “chặt đôi”. Con người đã phô diễn tài nghệ, trí thông minh, lòng quả cảm để rồi giành được chiến thắng trong trận chiến không cân sức với thần sông thần đá, khiến cho nó phải “tiu nghiu cái mặt xanh lè thất vọng”.
Bằng ngôn ngữ sinh động, giàu chất tạo hình, biến hóa linh hoạt cùng trí tưởng tượng phong phú, Nguyễn Tuân đã tái hiện không khí cuộc chiến căng thẳng, kịch tính để từ đó tôn vinh vẻ đẹp con người: tài hoa và quả cảm.
Bước ra khỏi trận đấu, người lái đò không kịp lấy sức đã lại phải bước tiếp vào trận trùng vi thứ ba, cuộc chiến đã giúp cho người đọc phải ấn tượng với vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của người lái đò. Dẫu đã thất bại ê chề hai vòng, nhưng lòng dạ hiểm độc cùng sự quỷ quyệt của sông Đà chỉ tăng chứ không giảm khi nó lại bày bố trận mới: “bên phải bên trái đều là luồng chết”, “luồng sống” “ở ngay giữa bọn đá hậu vệ”. Với hình ảnh ẩn dụ “cổng đá cánh mở cánh khép”, người đọc hình dung được một mặt trận đá trùng trùng điệp điệp với những hàng phòng ngự vững chắc cùng sự tấn công ào ạt của thác đá sông Đà.
Đứng trước dã tâm bừng bừng của con sông, người lái đò vẫn không hề nao núng mà cứ ung dung, bình thản “cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa”. Ông biết mình đang làm gì và mình cần làm gì để đối phó với con quái vật đó bởi ông thông minh lại dày dạn kinh nghiệm. Với điệp từ “vút”, tác giả đã diễn tả thành công sự nhanh, sự thần tốc trong binh pháp của con người. Người lái đò giữ vững tốc độ ấy để vượt qua những trận địa liên tiếp nhau “cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng”. Sự điêu luyện, khéo léo, biến pháp kì diệu, linh hoạt của một “tay lái ra hoa” đã khiến cho chiếc thuyền như đang lướt, đang bay trên mặt nước với những nét uốn lượn phóng khoáng, bay bổng và khiến tác giả phải sử dụng lối so sánh độc đáo để khắc họa “thuyền như một mũi tên tre”, “vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”. Và ta cũng bắt gặp hình ảnh người nghệ sĩ thực thụ ấy trên mặt trận sông nước qua những người chài lưới miệt mài trong “Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận”.
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Con người đã giành chiến thắng tuyệt đối trước đối thủ to lớn bằng sự quả cảm, mưu trí, tài nghệ vô song. Bằng cách sử dụng vốn tri thức phong phú, uyên bác từ nhiều lĩnh vực như võ thuật, quân sự, thể thao…, đồng thời biết biến hóa câu văn linh hoạt cùng giọng văn sôi nổi, hào hứng để ngợi ca vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của con người. Trong người anh hùng luôn tồn tại chất nghệ sĩ tài hoa, và người lái đò cũng như vậy. Ông là kết tinh của trí tuệ, kinh nghiệm sông nước, tay lái trác tuyệt và sức mạnh ý chí, nghị lực. Cái đẹp lao động ở con người đã đạt tới mức phi thường, kì diệu.
Sau trận chiến, khi “sông nước lại thanh bình”, “chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”. Người lái đò coi những trắc trở, thử thách ấy như chuyện thường tình, không đáng để bàn luận và luôn giữ bình thản, ung dung, tự tại trước mọi nguy nan của cuộc sống. Trong lúc đó, họ chỉ “đốt lửa”, “nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô”. Thế mới thấy, bên trong những con người lao động luôn chứa đựng tâm hồn tinh tế, biết thưởng thức cái đẹp giản dị của cuộc sống, nghề nghiệp. Làm cái nghề nguy hiểm này, chẳng ai biết tương lai sẽ ra sao, thế nên họ cứ trân trọng những cái đẹp mà họ còn nhìn thấy được và cảm nhận được, bỏ qua những gai góc, sần sùi mà việc lái đò sông Đà mang lại. Đó là vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng. Tác giả đã nâng tầm vóc lớn lao của người anh hùng bình dị trong cuộc sống đời thường.
Bằng cách tạo tình huống gay cấn, kịch tính, khốc liệt, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, Nguyễn Tuân đã thành công khám phá và khắc họa được chất vàng mười của người lao động. Đồng thời, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh sinh động cùng câu văn biến hóa linh hoạt và giàu chất tạo hình và tận dụng kiến thức quân sự kết hợp với thể thao để có thể diễn tả cuộc chiến giữa con người và thiên nhiên một cách gần gũi, sống động và chân thực nhất. Thêm vào đó, giọng điệu câu văn thay đổi linh hoạt: khi hồi hộp căng thẳng, khi dồn dập, khi thì điềm tĩnh góp phần lôi cuốn người đọc chú tâm theo từng diễn biến của câu chuyện. Tất cả những điểm nghệ thuật độc đáo đó đã khiến cho cảnh vượt thác trở thành một cảnh “xưa nay chưa từng có”.
Đoạn trích đã cho chúng ta thấy được sự ngợi ca, ngưỡng mộ cùng lòng tôn vinh của nhà văn dành cho vẻ đẹp của người lái đò trên sông Đà. Bằng cách lấy danh từ chung đặt cho nhân vật, người lái đò đã trở thành hình ảnh tiêu biểu đại diện cho vẻ đẹp của những con người lao động đang ngày đêm hăng say làm chủ thiên nhiên, đất nước, cuộc sống với những phẩm chất tốt đẹp: dũng cảm, thông minh, tài hoa, nghệ sĩ. Nguyễn Tuân đã phát hiện được cái phi thường trong những con người lao động bình thường. Ông lái đò dễ dàng khiến người đọc gợi nhớ tới hình ảnh ông lão đánh cá Santiago đối đầu với con cá kiếm trong tiểu thuyết “Ông già và biển cả”.
Mặt khác, đoạn trích còn cho ta thấy quan niệm nghệ thuật về con người đầy mới mẻ của Nguyễn Tuân. Trước cách mạng tháng Tám, tác phẩm của ông chỉ thể hiện cái đẹp ở những con người tài hoa xuất chúng trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật nhưng tất cả hào quang của họ chỉ dừng lại ở quá khứ bởi họ không còn có chỗ đứng trong xã hội hiện tại, cái đẹp anh hùng và tài hoa nay bị coi là đối nghịch, không còn phù hợp với xã hội, bị coi rẻ. Những điều này được thể hiện rõ qua nhân vật tiêu biểu - Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”. Nhưng sau 1945, cái đẹp mà ông khắc họa hiện hữu ngay ở những dân cư lao động vô danh bình dị, chẳng hạn như người lái đò sông Đà, những người điêu luyện trong nghề nghiệp của mình và chủ nghĩa anh hùng không chỉ có trong chiến trận mà bộc lộ ngay trong cuộc sống lao động chinh phục thiên nhiên, đầy thử thách. Đồng thời, những con người anh hùng, tài hoa hiện diện ngay giữa cuộc đời và họ đều được tôn vinh, trân trọng như nhau. Dẫu có khác nhau về cách khám phá con người giữa hai thời kì nhưng Nguyễn Tuân vẫn luôn có một quan điểm thống nhất được ông trung thành áp dụng vào lăng kính văn học của mình, đó chính là khám phá con người ở những khía cạnh: cái đẹp, chất tài hoa, nghệ sĩ, đồng thời tôn vinh “chất vàng mười” của con người. Điều đó khiến cho văn chương của ông trở thành “loại đáng thờ”, “loại chuyên chú ở con người”.
Đoạn trích đã tái diễn lại cho ta những thước phim sống động, gay cấn, hồi hộp về trận chiến sống còn giữa người lái đò trí dũng, tài hoa và con sông Đà xảo quyệt, hung tợn. “Một tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả của tình yêu” (L. Tôn-xtôi). Qua hình tượng người lái đò, văn Nguyễn Tuân đã chứng minh được rằng nó được chưng cất từ tình yêu con người sâu đậm của tác giả. Đoạn văn đã khơi gợi vẻ đẹp của văn chương, nghệ thuật và cũng đã góp phần đưa “Người lái đò sông Đà” tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm văn xuôi đặc sắc nhất giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám.
Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn lớn mở đường, đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX. Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh đã nhận định ông là một cây bút luôn khát khao những cảm giác, cảm xúc mới lạ, nồng nàn, say đắm. Và quả thật là vậy khi Nguyễn Tuân luôn khát khao được “xê dịch” để săn tìm cái đẹp, những cảnh vật đẹp một cách tuyệt đỉnh hoặc dữ dội, mãnh liệt như đèo cao, vực sâu, thác nước,... và ông cũng không quản nhọc nhằn để cố gắng khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú, bộn bề, nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa xác đáng nhất, có khả năng làm lay động lòng người đọc nhất. Cái tôi “ngông” của người nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, độc đáo bậc nhất” của văn học Việt Nam ấy được thể hiện rõ qua những tác phẩm của ông, tiêu biểu là “Người lái đò sông Đà", được rút ra từ tập tùy bút "Sông Đà" (1960). Tác phẩm là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc trong thời kỳ miền Bắc bước vào con đường xây dựng cuộc sống mới, xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa. Qua bài văn, ta cảm nhận được hình tượng nghệ thuật đặc sắc của con sông Đà và “chất vàng mười đã qua thử lửa” của người lao động trên trang văn của Nguyễn Tuân. Đoạn trích được nêu ra nằm ở phần giữa của bút kí và đã thể hiện những nét độc đáo trong cách phát hiện, nhìn nhận con người của tác giả qua việc thành công xây dựng hình tượng người lái đò với nét đẹp.
Dẫu chỉ xuất hiện trong một phân cảnh ngắn nhưng người lái đò sông Đà là nhân vật trung tâm của toàn bộ tác phẩm mà qua đó, tác giả muốn thể hiện quan niệm về con người cũng như nghệ thuật của ông: “đẹp vậy thay, tiếng hát trên dòng sông”. Thiên nhiên dù có dung lượng lớn hơn nhưng cũng chỉ làm phông nền để tô bật vẻ đẹp của người lao động. Ông lái đò tuy đã gần 70 tuổi, tóc bạc trắng, nhưng “vẫn đẹp như pho tượng tạc bằng đá cẩm thạch” khi thân hình “cao to gọn quánh như chất sừng, chất mun” cùng cặp mực tinh anh và nhãn lực nhìn xa vời vợi, bởi hoàn cảnh sống khắc nghiệt nơi sông Đà đã tôi luyện ông. Đặc biệt ở ông còn toát lên vẻ trí dũng, tài hoa đáng ngưỡng mộ. Người lái đò chính là người có đầy đủ những đặc điểm đạo đức mà Nguyễn Tuân tìm kiếm, người anh hùng trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trước đó, ta đã thấy được nét đẹp trí dũng của người lao động qua cuộc chiến đấu với sông Đà ở trùng vi thạch trận lần thứ nhất. Đứng trước sự dữ tợn, hiểm ác của con sông, ông vẫn bình tĩnh “giữ chặt mái chèo”, tự tin, hiên ngang, không hề nao núng, rung sợ. Và dù có bị thương, ông vẫn cố nén đau, “kẹp chặt cuốn lái”. ông không bỏ cuộc, thay vào đó tinh thần ý chị, sự nghị lực của ông nay càng vững vàng hơn bao giờ hết. Nhờ đó mà con người bé nhỏ đã chiến thắng được thiên nhiên to lớn, hùng mạnh và bước đến cuộc chiến thứ hai.
Ở cuộc trùng vi thứ hai này, người lái đò tiếp tục tỏa sáng với phẩm chất tài hoa, quả cảm. Trước sự thất bại đầu tiên, con sông Đà không dừng lại âm mưu nuốt chửng người lái đò mà lại càng thêm ranh ma, quyết thay đổi chiến thuật để đạt được mục đích. Nó cho “tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn”. Những chiến lược của con sông được tác giả ví như là “binh pháp của thần sông thần đá”. Với biện pháp nhân cách hóa, tác giả đã nâng sự khôn ngoan, xảo trá của con sông lên hàng thần thánh, đối lập với hình ảnh những con người không có phép màu, vũ khí trên thuyền. Thêm vào đó, bằng cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”, Nguyễn Tuân đã thành công khiến người đọc mường tượng ra được con mãnh thú sông Đà đang lồng lộn, đe dọa, uy hiếp, đòi nuốt chửng con người như thế nào.
Đứng trước thế hung tợn, độc hiểm của con sông, con người vẫn xuất hiện với vẻ bình thản, ung dung, không hề hoảng loạn, “không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật”. Sự bình tĩnh, tự tin, kiên định đó của ông được xây dựng nên từ niềm tin vào kinh nghiệm dày dặn của ông khi đã dành cả đời gắn bó với chốn sông nước nơi đây. Ông am hiểu tường tận con sông, nắm chắc, và “thuộc quy luật phục kích của lũ đá”. Để đánh bại được nó, ông quyết định dũng cảm đối mặt chế ngự con mãnh thú đang gầm thét, “cưỡi lên thác sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ”. Quả là con người mưu trí, thông thái, giàu kinh nghiệm. Ông hiện thực hóa chiến thuật đó bằng hành động “nắm được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái”. Nhà văn đã xuất sắc khắc họa tư thế dũng mãnh, lẫm liệt, ngang tàng của một dũng tướng tài ba đang thuần phục, điều khiển con ngựa bất kham, con mãnh thú hung tợn, hòng khiến nó phải khuất phục. Hình tượng oai phong, xông pha của người lái đò có thể liên hệ với người anh hùng Võ Tòng tay không đả hổ trong giai thoại xưa.
Dẫu vậy, sông Đà vẫn cứng đầu không chịu thua cái thuyền, cố chấp không chịu từ bỏ: “xô ra định níu thuyền vào tập đoàn của tử”. Nhưng như thế chỉ tạo cơ hội cho người lái đò thể hiện sự tài ba, điêu luyện, điệu nghệ của mình khi ông phòng tránh và đánh trả bằng chuỗi những động tác tả xung hữu đột mạnh mẽ, dứt khoát, chính xác “bám chắc lấy luồng nước đúng”, “phóng nhanh vào cửa sinh”, “lái miết”, “rảo bơi”, “đè sấn”, “chặt đôi”. Con người đã phô diễn tài nghệ, trí thông minh, lòng quả cảm để rồi giành được chiến thắng trong trận chiến không cân sức với thần sông thần đá, khiến cho nó phải “tiu nghiu cái mặt xanh lè thất vọng”.
Bằng ngôn ngữ sinh động, giàu chất tạo hình, biến hóa linh hoạt cùng trí tưởng tượng phong phú, Nguyễn Tuân đã tái hiện không khí cuộc chiến căng thẳng, kịch tính để từ đó tôn vinh vẻ đẹp con người: tài hoa và quả cảm.
Bước ra khỏi trận đấu, người lái đò không kịp lấy sức đã lại phải bước tiếp vào trận trùng vi thứ ba, cuộc chiến đã giúp cho người đọc phải ấn tượng với vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của người lái đò. Dẫu đã thất bại ê chề hai vòng, nhưng lòng dạ hiểm độc cùng sự quỷ quyệt của sông Đà chỉ tăng chứ không giảm khi nó lại bày bố trận mới: “bên phải bên trái đều là luồng chết”, “luồng sống” “ở ngay giữa bọn đá hậu vệ”. Với hình ảnh ẩn dụ “cổng đá cánh mở cánh khép”, người đọc hình dung được một mặt trận đá trùng trùng điệp điệp với những hàng phòng ngự vững chắc cùng sự tấn công ào ạt của thác đá sông Đà.
Đứng trước dã tâm bừng bừng của con sông, người lái đò vẫn không hề nao núng mà cứ ung dung, bình thản “cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa”. Ông biết mình đang làm gì và mình cần làm gì để đối phó với con quái vật đó bởi ông thông minh lại dày dạn kinh nghiệm. Với điệp từ “vút”, tác giả đã diễn tả thành công sự nhanh, sự thần tốc trong binh pháp của con người. Người lái đò giữ vững tốc độ ấy để vượt qua những trận địa liên tiếp nhau “cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng”. Sự điêu luyện, khéo léo, biến pháp kì diệu, linh hoạt của một “tay lái ra hoa” đã khiến cho chiếc thuyền như đang lướt, đang bay trên mặt nước với những nét uốn lượn phóng khoáng, bay bổng và khiến tác giả phải sử dụng lối so sánh độc đáo để khắc họa “thuyền như một mũi tên tre”, “vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được”. Và ta cũng bắt gặp hình ảnh người nghệ sĩ thực thụ ấy trên mặt trận sông nước qua những người chài lưới miệt mài trong “Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận”.
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng
Con người đã giành chiến thắng tuyệt đối trước đối thủ to lớn bằng sự quả cảm, mưu trí, tài nghệ vô song. Bằng cách sử dụng vốn tri thức phong phú, uyên bác từ nhiều lĩnh vực như võ thuật, quân sự, thể thao…, đồng thời biết biến hóa câu văn linh hoạt cùng giọng văn sôi nổi, hào hứng để ngợi ca vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ của con người. Trong người anh hùng luôn tồn tại chất nghệ sĩ tài hoa, và người lái đò cũng như vậy. Ông là kết tinh của trí tuệ, kinh nghiệm sông nước, tay lái trác tuyệt và sức mạnh ý chí, nghị lực. Cái đẹp lao động ở con người đã đạt tới mức phi thường, kì diệu.
Sau trận chiến, khi “sông nước lại thanh bình”, “chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi”. Người lái đò coi những trắc trở, thử thách ấy như chuyện thường tình, không đáng để bàn luận và luôn giữ bình thản, ung dung, tự tại trước mọi nguy nan của cuộc sống. Trong lúc đó, họ chỉ “đốt lửa”, “nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô”. Thế mới thấy, bên trong những con người lao động luôn chứa đựng tâm hồn tinh tế, biết thưởng thức cái đẹp giản dị của cuộc sống, nghề nghiệp. Làm cái nghề nguy hiểm này, chẳng ai biết tương lai sẽ ra sao, thế nên họ cứ trân trọng những cái đẹp mà họ còn nhìn thấy được và cảm nhận được, bỏ qua những gai góc, sần sùi mà việc lái đò sông Đà mang lại. Đó là vẻ đẹp tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng. Tác giả đã nâng tầm vóc lớn lao của người anh hùng bình dị trong cuộc sống đời thường.
Bằng cách tạo tình huống gay cấn, kịch tính, khốc liệt, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, Nguyễn Tuân đã thành công khám phá và khắc họa được chất vàng mười của người lao động. Đồng thời, tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, so sánh sinh động cùng câu văn biến hóa linh hoạt và giàu chất tạo hình và tận dụng kiến thức quân sự kết hợp với thể thao để có thể diễn tả cuộc chiến giữa con người và thiên nhiên một cách gần gũi, sống động và chân thực nhất. Thêm vào đó, giọng điệu câu văn thay đổi linh hoạt: khi hồi hộp căng thẳng, khi dồn dập, khi thì điềm tĩnh góp phần lôi cuốn người đọc chú tâm theo từng diễn biến của câu chuyện. Tất cả những điểm nghệ thuật độc đáo đó đã khiến cho cảnh vượt thác trở thành một cảnh “xưa nay chưa từng có”.
Đoạn trích đã cho chúng ta thấy được sự ngợi ca, ngưỡng mộ cùng lòng tôn vinh của nhà văn dành cho vẻ đẹp của người lái đò trên sông Đà. Bằng cách lấy danh từ chung đặt cho nhân vật, người lái đò đã trở thành hình ảnh tiêu biểu đại diện cho vẻ đẹp của những con người lao động đang ngày đêm hăng say làm chủ thiên nhiên, đất nước, cuộc sống với những phẩm chất tốt đẹp: dũng cảm, thông minh, tài hoa, nghệ sĩ. Nguyễn Tuân đã phát hiện được cái phi thường trong những con người lao động bình thường. Ông lái đò dễ dàng khiến người đọc gợi nhớ tới hình ảnh ông lão đánh cá Santiago đối đầu với con cá kiếm trong tiểu thuyết “Ông già và biển cả”.
Mặt khác, đoạn trích còn cho ta thấy quan niệm nghệ thuật về con người đầy mới mẻ của Nguyễn Tuân. Trước cách mạng tháng Tám, tác phẩm của ông chỉ thể hiện cái đẹp ở những con người tài hoa xuất chúng trong lĩnh vực văn chương nghệ thuật nhưng tất cả hào quang của họ chỉ dừng lại ở quá khứ bởi họ không còn có chỗ đứng trong xã hội hiện tại, cái đẹp anh hùng và tài hoa nay bị coi là đối nghịch, không còn phù hợp với xã hội, bị coi rẻ. Những điều này được thể hiện rõ qua nhân vật tiêu biểu - Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”. Nhưng sau 1945, cái đẹp mà ông khắc họa hiện hữu ngay ở những dân cư lao động vô danh bình dị, chẳng hạn như người lái đò sông Đà, những người điêu luyện trong nghề nghiệp của mình và chủ nghĩa anh hùng không chỉ có trong chiến trận mà bộc lộ ngay trong cuộc sống lao động chinh phục thiên nhiên, đầy thử thách. Đồng thời, những con người anh hùng, tài hoa hiện diện ngay giữa cuộc đời và họ đều được tôn vinh, trân trọng như nhau. Dẫu có khác nhau về cách khám phá con người giữa hai thời kì nhưng Nguyễn Tuân vẫn luôn có một quan điểm thống nhất được ông trung thành áp dụng vào lăng kính văn học của mình, đó chính là khám phá con người ở những khía cạnh: cái đẹp, chất tài hoa, nghệ sĩ, đồng thời tôn vinh “chất vàng mười” của con người. Điều đó khiến cho văn chương của ông trở thành “loại đáng thờ”, “loại chuyên chú ở con người”.
Đoạn trích đã tái diễn lại cho ta những thước phim sống động, gay cấn, hồi hộp về trận chiến sống còn giữa người lái đò trí dũng, tài hoa và con sông Đà xảo quyệt, hung tợn. “Một tác phẩm nghệ thuật phải là kết quả của tình yêu” (L. Tôn-xtôi). Qua hình tượng người lái đò, văn Nguyễn Tuân đã chứng minh được rằng nó được chưng cất từ tình yêu con người sâu đậm của tác giả. Đoạn văn đã khơi gợi vẻ đẹp của văn chương, nghệ thuật và cũng đã góp phần đưa “Người lái đò sông Đà” tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm văn xuôi đặc sắc nhất giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám.
 








Các ý kiến mới nhất