Nghiên cứu khoa học

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:07' 20-05-2008
Dung lượng: 244.0 KB
Số lượt tải: 59
Nguồn:
Người gửi: Lê Văn Điệp (trang riêng)
Ngày gửi: 23h:07' 20-05-2008
Dung lượng: 244.0 KB
Số lượt tải: 59
Số lượt thích:
0 người
SỬ DỤNG NHỮNG CÂU CHUYỆN VUI NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIỞI TÍNH VÀ SỨC KHOẺ SINH SẢN
CHO HỌC SINH THCS
Người thực hiện: Lª v¨n §iÖp - THPT T©n Trµo, Tuyªn Quang.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản( GT-SKSS) cho học sinh là một công việc hết sức cần thiết, đặc biệt đối với học sinh Trung học cơ sở (THCS) - lứa tuổi có những biến đổi nhanh mạnh về tâm sinh lý, nhằm giúp các em có cuộc sống an toàn, lành mạnh Ở nhà trường THCS chương trình học GT-SKSS thường được lồng ghép vào các môn Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lý hoặc những tiết học ngoại khoá. Hiện nay việc giáo dục này gặp phỉ những khó khăn nhất định như nội dung giảng dạy thường khô khan và trừu tượng, phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình và diễn giảng, bài giảng không tự nhiên và sinh động. Đặc biệt ở một số lớp học, giáo viên còn lúng túng, ngại ngùng khi đề cập đến giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản cho học sinh. Những trở ngại đó khiến học sinh khó tiếp cận vấn đề, các em gặp nhiếu khó khăn trong việc ghi nhớ, nhận thức.... Nhận thức đúng về giới tính và sức khoẻ sinh sản, các em không chỉ có suy nghĩ đúng, hành vi đúng mà còn có thái độ đúng mực với các hiện tượng xấu, hành vi không phù hợp.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng những câu chuyện vui nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản cho học sinh THCS”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc sử dụng các câu chuyện vui để nâng cao hiệu quả giáo dục, mà trực tiếp là nâng cao kiến thức giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát ,phương pháp vấn đáp, phương pháp toán thống kê
1.Cơ sở lý luận của đề tài:
Ý nghĩa của việc nâng cao nhận thức cho học sinh THCS về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản.
* Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản nâng cao chất lượng nòi giống
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản nâng cao chất lượng cuộc sống
* Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản có vai trò trong việc phát triển nhân cách toàn diện
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản đáp ứng nhu cầu phát triển tâm lý, sinh lý cơ thể
* Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản là phương tiện hữu hiệu ngăn ngừa bệnh tình dục
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục dân số
Nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS
Giáo dục giới tính:
Giới tính và sự khác biệt tâm sinh lí giới tính
Vai trò của giới tính trong gia đình và ngoài xã hội.
Những giai đoạn phát triển quan trọng trong cơ thể con người. Những biến đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì - hiện tượng và nguyên nhân, kinh nguyệt và vệ sinh kinh nguyệt.
Giáo dục sức khỏe sinh sản (Hội sản phụ khoa quốc tế - FIGO đã đưa ra 10 nội dung của sức khỏe sinh sản):
Thông tin giáo dục truyền thong rộng rãi về sức khỏe sinh sản.
Làm mẹ an toàn.
Kế hoạch hóa gia đình.
Nạo, hút thai an toàn.
Sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản.
Các bệnh lan truyền qua đường tình dục.
Các bệnh ung thư sinh sản, ung thư vú.
Giáo dục tình dục học.
Vô sinh
Nguyên tắc giáo dục
Nguyên tắc chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của đối tượng giáo dục.
Nguyên tắc tôn trọng sự thật và trong trắng trong giáo dục
Nguyên tắc thức tỉnh trách nhiệm cá nhân
Nguyên tắc tính liên tục và sự ôn lại
Nguyên tắc thống nhất tính khoa học và tính giáo dục
2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn
2.1. Các nguồn thông tin về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản
Các em đã được tìm hiểu về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản. Qua các nguồn thông tin sau:
Các nguồn thông tin:
STT
Các nguồn
Tần số
Tỉ lệ
Xếp loại
1
Nhà trường
51
85%
1
2
Sách báo, phim ảnh, Internet
30
50%
2
3
Cha mẹ
16
27%
3,5
4
Anh, chị, em
5
8%
7
5
Bạn bè
14
23%
5
6
Cán bộ tư vấn
5
27%
3,5
7
Bác sĩ
8
13%
6
8
Các nguồn khác
2
3%
8
Các nguồn thông tin về giáo dục giới tính
và sức khỏe sinh sản
2.2. Các nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của học sinh khi tiếp thu bài giảng giáo dục giới tính
Kết quả cho thấy 100% các em học sinh lớp 9 đã được tìm hiểu về vấn đề giáo dục GT- SKSS, chủ yếu ở trường bằng hình thức lên lên lớp của thầy cô với phương pháp diễn giảng những tri thức khoa học trong sách vở. Mặc dù phần lớn các em nhận thấy giáo dục GT-SKSS có vai trò hết sức cần thiết cho bản thân các em, tuy nhiên mức độ hiểu biết của các em về vấn đề này còn hạn chế,sự ghi nhớ kiến thức của các em còn gặp nhiều khó khăn... Chúng tôi cũng tìm hiểu và thấy rằng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó chủ yếu là các nguyên nhân:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
Xếp hạng
1
Bài giảng không tự nhiên sinh động
19
32
4
2
Không cò thời gian quan tâm
11
18
6
3
Tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng
36
60
1
4
kiến thức trừu tượng, khó ghi nhớ
20
34
3
5
nội dung không hay
5
8
7
6
Do tài liệu ít và không sâu
18
30
5
7
Do cách giảng dạy của giáo viên không hấp dẫn
24
40
2
8
Các nguyên nhân khác( ghi rõ)...
0
0
8
Thái độ e ngại của các em học sinh:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ (%)
1
Rất e ngại
5
8
2
E ngại
24
240
3
Lưỡng lự
9
15
4
Không e ngại
22
37
Tìm hiểu thái độ e ngại của các em đối với nội dung giáo dục GT-SKSS, kết quả ở bảng trên cho thấy: Có đến 40% các em e ngại, đặc biệt có 85% các em rất e ngại. Bên cạnh đó cũng có 37% các em không e ngại khi tiếp cận nội dung giáo dục GT-SKSS. Như thế ta thấy có rất nhiều học sinh e ngại và e ngại khi học vấn đề này. Đây là điều cần phải khắc phục. Rõ ràng khi các em e ngại thì sẽ khó có thể tích cực và hăng say học tập.
Đánh giá thái độ học tập và nghiên cứu của học sinh về Giáo dục GT-SKSS
Đánh giá thái độ học tập và nghiên cứu của học sinh về Giáo dục GT-SKSS:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
Tập trung chú ý và say sưa
30
50
2
Chú ý bình thường
30
50
3
Không chú ý, không hứng thú
0
0
Theo kết quả cho thấy, một nửa số em rất tập trung chú ý học tập nội dung giào dục GT-SKSS, bên cạnh đó một nửa chỉ chú ý với mức độ bình thường. Vì vậy người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao thái độ cho các em.
Nguyên nhân làm hạn chế sự tiếp cận của học sinh về vấn đề giáo dục GT-SKSS.
Các nguyên nhân làm hạn chế:
Số TT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
Xếp hạng
1
Bài giảng không tự nhiên sinh động
19
32
4
2
Không cò thời gian quan tâm
11
18
6
3
Tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng
36
60
1
4
kiến thức trừu tuợng, khó ghi nhớ
20
34
3
5
nội dung không hay
5
8
7
6
Do tài liệu ít và không sâu
18
30
5
7
Do cách giảng dạy của giáo viên không hấp dẫn
24
40
2
8
Các nguyên nhân khác( ghi rõ)...
0
0
8
Theo số liệu trên ta thấy nguyên nhân hạn chế sự tiếp cận của các em về vấn đề GT-SKSS, thì có rất nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân gây hạn chế nhiều nhất vẫn là tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng (chiếm 60%). Tiếp đó là do cách dạy của giáo viên chưa hấp hẫn (40%), kiến thức trừu tượng khó ghi nhớ (34%), bài giảng không tự nhiên sinh động (32%). Bên cạnh đó còn một số nguyên nhân nữa như là tài liệu ít và không sâu, không có thời gian quan tâm, kiến thức không hay... Từ sự tìm hiểu các nguyên nhân trên chúng ta thấy rằng để khắc phục những nguyên nhân làm hạn chế sự tiếp cận của các em về vấn đề GT-SKSS, thì chúng ta phải có sự đổi mới trong phương pháp giáo dục để làm sao có thể xoá bỏ được tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng, phương pháp đó tạo nên được phong cách giảng dạy hấp dẫn của người giáo viên, đặc biệt bài giảng phải cụ thể hoá kiến thức làm cho các em có thể dễ nhớ và giảng nội dung phải tự nhiên sinh động gây hứng thú học tập cho các em!
3.2.2 Kết quả thực nghiệm
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sử dụng những câu chuyện vui để giáo dục GT-SKSS nhằm khắc phục những khó khăn trong quá trình học tập và nâng cao hứng thú, khả năng ghi nhớ...cho các em góp phần nâng cao nhận thức của học sinh THCS về vấn đề giáo dục GT-SKSS.
Sau khi đưa những câu chuyện vui vào nội dung giáo dục GT - SKSS, Nhận thức của học sinh về nội dung kiến thức:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
kiến thức nhiều, mới mẻ
49
82
2
Kiến thức nhiều không mới mẻ
6
10
3
Kiến thức ít, mới mẻ
5
8
4
Kiến thức sơ sài, cũ
0
0
Mức độ khó khăn của học sinh trong việc ghi nhớ:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
Rất khó khăn
0
0
2
Khó khăn
5
8
3
Ít khó khăn
16
27
4
Dễ nhớ
39
65
Sự tán thành của học sinh về phương pháp sử dụng những câu chuyện vui:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
Rất tán thành
25
42
2
Tán thành
33
55
3
Lưỡng lự
2
3
4
Không tán thành
0
0
Sự tán thành của học sinh về phương pháp sử dụng những câu chuyện vui
Hầu hết các em có ý kiến cho rằng: “Dạy học bằng phương pháp này rất bổ ích cho chúng em, giúp chúng em hiểu thêm về GT-SKSS, em mong rằng sẽ có nhiều tiết ngoại khoá hơn nữa”. Các em cũng đưa kiến nghị :
-Với giáo viên: “Cần biết nhiều câu chuyện vui để kể cho chúng em”.
-Với nhà trường: “Tăng cường mở lớp dạy về giáo dục GT-SKSS để nâng cao kiến thức cho chúng em, nhất là bằng những câu chuyện vui này rất hay”.
-Với bộ giáo dục: Cần có thêm môn học giáo dục GT-SKSS cho học sinh lớp 8-9.
Qua kiến nghị của các em, chúng tôi thấy rằng để phát huy hiệu quả phương pháp giáo dục GT-SKSS thông qua những câu chuyện vui thì chúng ta nên đưa nó vào giáo dục trong nhà trường theo một hệ thống nhất định.
Tổng kết phiếu số 2, chúng tôi thấy rằng so với phương pháp giáo dục trước thì phương pháp sử dụng nhũng câu chuyện vui vào giáo dục GT-SKSS có rất nhiều ưu điểm, nó không những gây hứng thú học tập, tạo được khả năng ghi nhớ tốt, mà còn nâng cao được nhận thức cho các em. Vì thế mà phương pháp này được các em học sinh rất tán thành.
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIỞI TÍNH VÀ SỨC KHOẺ SINH SẢN
CHO HỌC SINH THCS
Người thực hiện: Lª v¨n §iÖp - THPT T©n Trµo, Tuyªn Quang.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản( GT-SKSS) cho học sinh là một công việc hết sức cần thiết, đặc biệt đối với học sinh Trung học cơ sở (THCS) - lứa tuổi có những biến đổi nhanh mạnh về tâm sinh lý, nhằm giúp các em có cuộc sống an toàn, lành mạnh Ở nhà trường THCS chương trình học GT-SKSS thường được lồng ghép vào các môn Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lý hoặc những tiết học ngoại khoá. Hiện nay việc giáo dục này gặp phỉ những khó khăn nhất định như nội dung giảng dạy thường khô khan và trừu tượng, phương pháp giảng dạy chủ yếu là thuyết trình và diễn giảng, bài giảng không tự nhiên và sinh động. Đặc biệt ở một số lớp học, giáo viên còn lúng túng, ngại ngùng khi đề cập đến giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản cho học sinh. Những trở ngại đó khiến học sinh khó tiếp cận vấn đề, các em gặp nhiếu khó khăn trong việc ghi nhớ, nhận thức.... Nhận thức đúng về giới tính và sức khoẻ sinh sản, các em không chỉ có suy nghĩ đúng, hành vi đúng mà còn có thái độ đúng mực với các hiện tượng xấu, hành vi không phù hợp.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng những câu chuyện vui nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản cho học sinh THCS”
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc sử dụng các câu chuyện vui để nâng cao hiệu quả giáo dục, mà trực tiếp là nâng cao kiến thức giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh Trung học cơ sở.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu lí luận, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát ,phương pháp vấn đáp, phương pháp toán thống kê
1.Cơ sở lý luận của đề tài:
Ý nghĩa của việc nâng cao nhận thức cho học sinh THCS về giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản.
* Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản nâng cao chất lượng nòi giống
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản nâng cao chất lượng cuộc sống
* Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản có vai trò trong việc phát triển nhân cách toàn diện
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản đáp ứng nhu cầu phát triển tâm lý, sinh lý cơ thể
* Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản là phương tiện hữu hiệu ngăn ngừa bệnh tình dục
Giáo dục giới tính và sức khoẻ sinh sản ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục dân số
Nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho học sinh THCS
Giáo dục giới tính:
Giới tính và sự khác biệt tâm sinh lí giới tính
Vai trò của giới tính trong gia đình và ngoài xã hội.
Những giai đoạn phát triển quan trọng trong cơ thể con người. Những biến đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì - hiện tượng và nguyên nhân, kinh nguyệt và vệ sinh kinh nguyệt.
Giáo dục sức khỏe sinh sản (Hội sản phụ khoa quốc tế - FIGO đã đưa ra 10 nội dung của sức khỏe sinh sản):
Thông tin giáo dục truyền thong rộng rãi về sức khỏe sinh sản.
Làm mẹ an toàn.
Kế hoạch hóa gia đình.
Nạo, hút thai an toàn.
Sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản.
Các bệnh lan truyền qua đường tình dục.
Các bệnh ung thư sinh sản, ung thư vú.
Giáo dục tình dục học.
Vô sinh
Nguyên tắc giáo dục
Nguyên tắc chuẩn bị tích cực cho sự phát triển của đối tượng giáo dục.
Nguyên tắc tôn trọng sự thật và trong trắng trong giáo dục
Nguyên tắc thức tỉnh trách nhiệm cá nhân
Nguyên tắc tính liên tục và sự ôn lại
Nguyên tắc thống nhất tính khoa học và tính giáo dục
2. Kết quả nghiên cứu thực tiễn
2.1. Các nguồn thông tin về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản
Các em đã được tìm hiểu về giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản. Qua các nguồn thông tin sau:
Các nguồn thông tin:
STT
Các nguồn
Tần số
Tỉ lệ
Xếp loại
1
Nhà trường
51
85%
1
2
Sách báo, phim ảnh, Internet
30
50%
2
3
Cha mẹ
16
27%
3,5
4
Anh, chị, em
5
8%
7
5
Bạn bè
14
23%
5
6
Cán bộ tư vấn
5
27%
3,5
7
Bác sĩ
8
13%
6
8
Các nguồn khác
2
3%
8
Các nguồn thông tin về giáo dục giới tính
và sức khỏe sinh sản
2.2. Các nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của học sinh khi tiếp thu bài giảng giáo dục giới tính
Kết quả cho thấy 100% các em học sinh lớp 9 đã được tìm hiểu về vấn đề giáo dục GT- SKSS, chủ yếu ở trường bằng hình thức lên lên lớp của thầy cô với phương pháp diễn giảng những tri thức khoa học trong sách vở. Mặc dù phần lớn các em nhận thấy giáo dục GT-SKSS có vai trò hết sức cần thiết cho bản thân các em, tuy nhiên mức độ hiểu biết của các em về vấn đề này còn hạn chế,sự ghi nhớ kiến thức của các em còn gặp nhiều khó khăn... Chúng tôi cũng tìm hiểu và thấy rằng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó chủ yếu là các nguyên nhân:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
Xếp hạng
1
Bài giảng không tự nhiên sinh động
19
32
4
2
Không cò thời gian quan tâm
11
18
6
3
Tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng
36
60
1
4
kiến thức trừu tượng, khó ghi nhớ
20
34
3
5
nội dung không hay
5
8
7
6
Do tài liệu ít và không sâu
18
30
5
7
Do cách giảng dạy của giáo viên không hấp dẫn
24
40
2
8
Các nguyên nhân khác( ghi rõ)...
0
0
8
Thái độ e ngại của các em học sinh:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ (%)
1
Rất e ngại
5
8
2
E ngại
24
240
3
Lưỡng lự
9
15
4
Không e ngại
22
37
Tìm hiểu thái độ e ngại của các em đối với nội dung giáo dục GT-SKSS, kết quả ở bảng trên cho thấy: Có đến 40% các em e ngại, đặc biệt có 85% các em rất e ngại. Bên cạnh đó cũng có 37% các em không e ngại khi tiếp cận nội dung giáo dục GT-SKSS. Như thế ta thấy có rất nhiều học sinh e ngại và e ngại khi học vấn đề này. Đây là điều cần phải khắc phục. Rõ ràng khi các em e ngại thì sẽ khó có thể tích cực và hăng say học tập.
Đánh giá thái độ học tập và nghiên cứu của học sinh về Giáo dục GT-SKSS
Đánh giá thái độ học tập và nghiên cứu của học sinh về Giáo dục GT-SKSS:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
Tập trung chú ý và say sưa
30
50
2
Chú ý bình thường
30
50
3
Không chú ý, không hứng thú
0
0
Theo kết quả cho thấy, một nửa số em rất tập trung chú ý học tập nội dung giào dục GT-SKSS, bên cạnh đó một nửa chỉ chú ý với mức độ bình thường. Vì vậy người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao thái độ cho các em.
Nguyên nhân làm hạn chế sự tiếp cận của học sinh về vấn đề giáo dục GT-SKSS.
Các nguyên nhân làm hạn chế:
Số TT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
Xếp hạng
1
Bài giảng không tự nhiên sinh động
19
32
4
2
Không cò thời gian quan tâm
11
18
6
3
Tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng
36
60
1
4
kiến thức trừu tuợng, khó ghi nhớ
20
34
3
5
nội dung không hay
5
8
7
6
Do tài liệu ít và không sâu
18
30
5
7
Do cách giảng dạy của giáo viên không hấp dẫn
24
40
2
8
Các nguyên nhân khác( ghi rõ)...
0
0
8
Theo số liệu trên ta thấy nguyên nhân hạn chế sự tiếp cận của các em về vấn đề GT-SKSS, thì có rất nhiều nguyên nhân trong đó nguyên nhân gây hạn chế nhiều nhất vẫn là tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng (chiếm 60%). Tiếp đó là do cách dạy của giáo viên chưa hấp hẫn (40%), kiến thức trừu tượng khó ghi nhớ (34%), bài giảng không tự nhiên sinh động (32%). Bên cạnh đó còn một số nguyên nhân nữa như là tài liệu ít và không sâu, không có thời gian quan tâm, kiến thức không hay... Từ sự tìm hiểu các nguyên nhân trên chúng ta thấy rằng để khắc phục những nguyên nhân làm hạn chế sự tiếp cận của các em về vấn đề GT-SKSS, thì chúng ta phải có sự đổi mới trong phương pháp giáo dục để làm sao có thể xoá bỏ được tâm lý ngại ngùng khi nghe giảng, phương pháp đó tạo nên được phong cách giảng dạy hấp dẫn của người giáo viên, đặc biệt bài giảng phải cụ thể hoá kiến thức làm cho các em có thể dễ nhớ và giảng nội dung phải tự nhiên sinh động gây hứng thú học tập cho các em!
3.2.2 Kết quả thực nghiệm
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm sử dụng những câu chuyện vui để giáo dục GT-SKSS nhằm khắc phục những khó khăn trong quá trình học tập và nâng cao hứng thú, khả năng ghi nhớ...cho các em góp phần nâng cao nhận thức của học sinh THCS về vấn đề giáo dục GT-SKSS.
Sau khi đưa những câu chuyện vui vào nội dung giáo dục GT - SKSS, Nhận thức của học sinh về nội dung kiến thức:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
kiến thức nhiều, mới mẻ
49
82
2
Kiến thức nhiều không mới mẻ
6
10
3
Kiến thức ít, mới mẻ
5
8
4
Kiến thức sơ sài, cũ
0
0
Mức độ khó khăn của học sinh trong việc ghi nhớ:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
Rất khó khăn
0
0
2
Khó khăn
5
8
3
Ít khó khăn
16
27
4
Dễ nhớ
39
65
Sự tán thành của học sinh về phương pháp sử dụng những câu chuyện vui:
STT
Các lựa chọn
Tần số
Tỷ lệ(%)
1
Rất tán thành
25
42
2
Tán thành
33
55
3
Lưỡng lự
2
3
4
Không tán thành
0
0
Sự tán thành của học sinh về phương pháp sử dụng những câu chuyện vui
Hầu hết các em có ý kiến cho rằng: “Dạy học bằng phương pháp này rất bổ ích cho chúng em, giúp chúng em hiểu thêm về GT-SKSS, em mong rằng sẽ có nhiều tiết ngoại khoá hơn nữa”. Các em cũng đưa kiến nghị :
-Với giáo viên: “Cần biết nhiều câu chuyện vui để kể cho chúng em”.
-Với nhà trường: “Tăng cường mở lớp dạy về giáo dục GT-SKSS để nâng cao kiến thức cho chúng em, nhất là bằng những câu chuyện vui này rất hay”.
-Với bộ giáo dục: Cần có thêm môn học giáo dục GT-SKSS cho học sinh lớp 8-9.
Qua kiến nghị của các em, chúng tôi thấy rằng để phát huy hiệu quả phương pháp giáo dục GT-SKSS thông qua những câu chuyện vui thì chúng ta nên đưa nó vào giáo dục trong nhà trường theo một hệ thống nhất định.
Tổng kết phiếu số 2, chúng tôi thấy rằng so với phương pháp giáo dục trước thì phương pháp sử dụng nhũng câu chuyện vui vào giáo dục GT-SKSS có rất nhiều ưu điểm, nó không những gây hứng thú học tập, tạo được khả năng ghi nhớ tốt, mà còn nâng cao được nhận thức cho các em. Vì thế mà phương pháp này được các em học sinh rất tán thành.
 








Các ý kiến mới nhất