NGÀY XUÂN ĐỌC TƯƠNG TƯ CỦA NGUYỄN BÍNH

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Phượng
Người gửi: Vũ Trung Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:40' 11-02-2009
Dung lượng: 43.0 KB
Số lượt tải: 48
Nguồn: Nguyễn Phượng
Người gửi: Vũ Trung Kiên (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:40' 11-02-2009
Dung lượng: 43.0 KB
Số lượt tải: 48
Số lượt thích:
0 người
Ngày xuân đọc lại Tương tư của Nguyễn Bính
Nguyễn Bính (1918-1966 ) tên thật là Nguyễn Trọng Bính sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội ( nay là xã Cộng Hoà ) huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Mồ côi mẹ từ nhỏ, hơn mười tuổi, Nguyễn Bính đã phải theo anh lên Hà Đông kiếm sống. Ông biết làm thơ rất sớm, 13 tuổi đã sáng tác được hàng trăm bài. Đến năm 19 tuổi được Ban giải thưởng văn chương đầy uy tín của Tự lực văn đoàn khen tặng về tập thơ Tâm hồn tôi. Liền trong 3 năm từ 1940-1942, Nguyễn Bính nổi danh trên thi đàn bởi đã xuất bản liên tục 6 tập thơ ( Lỡ bước sang ngang, 1940; Hương cố nhân, 1941; Một nghìn cửa sổ, 1941; Người con gái ở lầu hoa, 1942; Mười hai bến nước, 1942; Mây tần, 1942 ) vạch ra một hướng đi riêng trong sáng tạo và thu hút một lượng công chúng thơ đông đảo vào bậc nhất lúc bấy giờ. Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Bính chủ yếu ở những ảo mộng thành thực đẹp và buồn được dệt từ một tâm hồn chân quê đằm thắm, duyên dáng vốn (theo Hoài Thanh) gắn bó rất sâu với “ hồn xưa của đất nước”.
Do hoàn cảnh riêng, tuổi thanh niên của Nguyễn Bính trải qua nhiều sóng gió, phiêu bạt và ông từng đi đây đi đó nhiều nơi. Phần trải nghiệm này in dấu lên mảng thơ diễn tả nỗi hoài hương khắc khoải, da diết, bi phẫn nhiều khi đượm vị chua chát, đắng cay mà vẫn đầy hấp dẫn bởi phong thái của một khách giang hồ lãng tử ngông nghênh, phóng túng, tài hoa...
Năm 1943, ông trở lại Nam bộ, sống cuộc đời phóng túng, tự do trong bần hàn rồi ở đó tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến 1954 thì tập kết ra Bắc tham gia công tác báo chí và văn học ở Hà Nội, Nam Định. Ông mất đột ngột vào đúng ngày 30 Tết trước khi bước vào năm mới tại nhà một người bạn ở Hà Nam.
Về hành trình học vấn, khác với nhiều người cùng thế hệ, Nguyễn Bính không đi học trường công của nhà nước mà chỉ học ở nhà với cha và cậu. Có thể do điểm đặc biệt này trong cuộc đời mà Nguyễn Bính ít chịu ảnh hưởng thơ phương Tây như một số thi sĩ cùng thời xuất thân Tây học. Bài Tương tư được viết năm 1939, in trong tập Lỡ bước sang ngang, 1940, được coi là một trong những sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ chân quê của Nguyễn Bính.
Nỗi nhớ mong trong bài thơ đích thực là nỗi nhớ mong của tình yêu, nhưng không phải là nỗi nhớ từ một tình yêu song phương mà là nỗi nhớ của một tình yêu đơn phương. Nỗi nhớ này được diễn tả theo hình thức tăng cấp. Lúc đầu chỉ được gợi lên bằng một từ “ nhớ” ( câu thơ đầu ) đến câu thơ tiếp theo đã chuyển hoá thành hai trạng thái “ nhớ” và “ mong”. Đối tượng của nỗi nhớ thường là những hình ảnh đã qua, thuộc về quá khứ. Đối tượng của niềm mong thường là những hình ảnh thuộc về hiện tại hoặc tương lai, là sự chờ đợi những điều có thể sẽ tới xoa dịu nỗi nhớ mặc dù, trên thực tế, có khi những điều đó không bao giờ tới. Dù thế nào, hai cung bậc của cảm xúc nhớ và mong cũng sẽ đưa nhân vật trữ tình vào một không gian của đợi chờ khắc khoải, da diết. Ở đây nỗi nhớ mong trên không phải nỗi nhớ mong bình thường mà là nỗi mong nhớ được diễn tả với một cường độ thật lớn: chín nhớ, mười mong! Cách dùng các số từ trong câu thơ: Một người chín nhớ mười mong...là học theo lối cường điệu dân gian, ngoa ngôn mà thành thực. Chưa kể, nó vừa diễn tả tính chất cao độ của một trạng thái tâm lý, vừa miêu tả tính chất tăng tiến không ngừng của trạng thái tâm lý đó. Một nỗi nhớ như thế sớm muộn sẽ đưa chủ thể của nó vào một trạng huống không bình thường của đời sống nội tâm. Ta chỉ có thể gọi đích danh là “ bệnh tương tư” và, nhân vật trữ tình cũng đã tự nhận như thế. Bệnh, dù bất cứ là bệnh gì, đều gây đau đớn.
Bệnh tương tư thì không chỉ gây đau đớn mà còn giày vò, thiêu đốt trái tim “ con bệnh” khiến cho anh chàng ( trong bài thơ ) hết sức khốn khổ vì yêu.
Tuy nhiên, con bệnh của tình yêu thì khác các con bệnh thông thường. Đó là người ta vừa cảm thấy khổ sở, thậm chí khổ sở đến mức không chịu đựng nổi vì nỗi nhớ nhung của tình yêu giày vò lại vừa có cái sở thích oái ăm là vẫn cứ mong được sống
Nguyễn Bính (1918-1966 ) tên thật là Nguyễn Trọng Bính sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo ở làng Thiện Vịnh, xã Đồng Đội ( nay là xã Cộng Hoà ) huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Mồ côi mẹ từ nhỏ, hơn mười tuổi, Nguyễn Bính đã phải theo anh lên Hà Đông kiếm sống. Ông biết làm thơ rất sớm, 13 tuổi đã sáng tác được hàng trăm bài. Đến năm 19 tuổi được Ban giải thưởng văn chương đầy uy tín của Tự lực văn đoàn khen tặng về tập thơ Tâm hồn tôi. Liền trong 3 năm từ 1940-1942, Nguyễn Bính nổi danh trên thi đàn bởi đã xuất bản liên tục 6 tập thơ ( Lỡ bước sang ngang, 1940; Hương cố nhân, 1941; Một nghìn cửa sổ, 1941; Người con gái ở lầu hoa, 1942; Mười hai bến nước, 1942; Mây tần, 1942 ) vạch ra một hướng đi riêng trong sáng tạo và thu hút một lượng công chúng thơ đông đảo vào bậc nhất lúc bấy giờ. Sức hấp dẫn của thơ Nguyễn Bính chủ yếu ở những ảo mộng thành thực đẹp và buồn được dệt từ một tâm hồn chân quê đằm thắm, duyên dáng vốn (theo Hoài Thanh) gắn bó rất sâu với “ hồn xưa của đất nước”.
Do hoàn cảnh riêng, tuổi thanh niên của Nguyễn Bính trải qua nhiều sóng gió, phiêu bạt và ông từng đi đây đi đó nhiều nơi. Phần trải nghiệm này in dấu lên mảng thơ diễn tả nỗi hoài hương khắc khoải, da diết, bi phẫn nhiều khi đượm vị chua chát, đắng cay mà vẫn đầy hấp dẫn bởi phong thái của một khách giang hồ lãng tử ngông nghênh, phóng túng, tài hoa...
Năm 1943, ông trở lại Nam bộ, sống cuộc đời phóng túng, tự do trong bần hàn rồi ở đó tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến 1954 thì tập kết ra Bắc tham gia công tác báo chí và văn học ở Hà Nội, Nam Định. Ông mất đột ngột vào đúng ngày 30 Tết trước khi bước vào năm mới tại nhà một người bạn ở Hà Nam.
Về hành trình học vấn, khác với nhiều người cùng thế hệ, Nguyễn Bính không đi học trường công của nhà nước mà chỉ học ở nhà với cha và cậu. Có thể do điểm đặc biệt này trong cuộc đời mà Nguyễn Bính ít chịu ảnh hưởng thơ phương Tây như một số thi sĩ cùng thời xuất thân Tây học. Bài Tương tư được viết năm 1939, in trong tập Lỡ bước sang ngang, 1940, được coi là một trong những sáng tác tiêu biểu cho phong cách thơ chân quê của Nguyễn Bính.
Nỗi nhớ mong trong bài thơ đích thực là nỗi nhớ mong của tình yêu, nhưng không phải là nỗi nhớ từ một tình yêu song phương mà là nỗi nhớ của một tình yêu đơn phương. Nỗi nhớ này được diễn tả theo hình thức tăng cấp. Lúc đầu chỉ được gợi lên bằng một từ “ nhớ” ( câu thơ đầu ) đến câu thơ tiếp theo đã chuyển hoá thành hai trạng thái “ nhớ” và “ mong”. Đối tượng của nỗi nhớ thường là những hình ảnh đã qua, thuộc về quá khứ. Đối tượng của niềm mong thường là những hình ảnh thuộc về hiện tại hoặc tương lai, là sự chờ đợi những điều có thể sẽ tới xoa dịu nỗi nhớ mặc dù, trên thực tế, có khi những điều đó không bao giờ tới. Dù thế nào, hai cung bậc của cảm xúc nhớ và mong cũng sẽ đưa nhân vật trữ tình vào một không gian của đợi chờ khắc khoải, da diết. Ở đây nỗi nhớ mong trên không phải nỗi nhớ mong bình thường mà là nỗi mong nhớ được diễn tả với một cường độ thật lớn: chín nhớ, mười mong! Cách dùng các số từ trong câu thơ: Một người chín nhớ mười mong...là học theo lối cường điệu dân gian, ngoa ngôn mà thành thực. Chưa kể, nó vừa diễn tả tính chất cao độ của một trạng thái tâm lý, vừa miêu tả tính chất tăng tiến không ngừng của trạng thái tâm lý đó. Một nỗi nhớ như thế sớm muộn sẽ đưa chủ thể của nó vào một trạng huống không bình thường của đời sống nội tâm. Ta chỉ có thể gọi đích danh là “ bệnh tương tư” và, nhân vật trữ tình cũng đã tự nhận như thế. Bệnh, dù bất cứ là bệnh gì, đều gây đau đớn.
Bệnh tương tư thì không chỉ gây đau đớn mà còn giày vò, thiêu đốt trái tim “ con bệnh” khiến cho anh chàng ( trong bài thơ ) hết sức khốn khổ vì yêu.
Tuy nhiên, con bệnh của tình yêu thì khác các con bệnh thông thường. Đó là người ta vừa cảm thấy khổ sở, thậm chí khổ sở đến mức không chịu đựng nổi vì nỗi nhớ nhung của tình yêu giày vò lại vừa có cái sở thích oái ăm là vẫn cứ mong được sống
 








Các ý kiến mới nhất