Violet
Giaoan

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Giáo án

Lý thuyết Dinh Học HSG

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Mạnh
Ngày gửi: 20h:50' 18-01-2025
Dung lượng: 4.7 MB
Số lượt tải: 78
Số lượt thích: 0 người
DINH DƯỠNG VÀ HỆ TIÊU HÓA
A. HỆ THỐNG KIẾN THỨC
I. Dinh dưỡng và chế độ dinh dưỡng hợp lí
1. Chất dinh dưỡng và dinh dưỡng
- Chất dinh dưỡng hay dưỡng chất là những chất có vai trò duy trì sự sống và hoạt động của
cơ thể thông qua quá trình trao đổi chất. Chất dinh dưỡng thường được cung cấp qua đường
ăn uống. Đối với con người, chất dinh dưỡng được cung cấp chính qua bữa ăn hằng ngày.
Thực phẩm cung cấp nhiều loại chất dinh dưỡng khác nhau. Các loại chất dinh dưỡng cần
thiết cho cơ thể gồm: carbohydrate, protein, lipid, vitamin và chất khoáng.
- Dinh dưỡng là quá trình thu nhận, biến đổi và sử dụng chất dinh dưỡng để duy trì hoạt động
sống cho cơ thể. Hệ tiêu hoá sẽ biến đổi thức ăn thành các chất dinh dưỡng để cung cấp cho
cơ thể.
2. Chế độ dinh dưỡng hợp lí
- Để cơ thể khoẻ mạnh, phát triển cân đối, hoạt động bình thường thì phải cung cấp đầy đủ
các chất dinh dưỡng, đảm bảo tính hợp lí với từng đối tượng.
- Chế độ dinh dưỡng hợp lí là chế độ ăn có thể cung cấp được cho cơ thể đẩy đủ năng lượng
và chất dinh dưỡng thiết yếu, giúp cải thiện và nâng cao sức khoẻ (hình 3.1).
- Mỗi bữa ăn cần cân bằng thành phần các chất như: chất đạm, chất xơ, chất béo, tinh bột,
vitamin và muối khoáng....
+ Thông thường 1 ngày khẩu phần ăn được chia làm 3 bữa (sáng, trưa, tối); như vậy khả
năng tiêu hoá và hấp thụ thức ăn được diễn ra tốt hơn.
- Nguyên tắc lập khẩu phần:
+ Đảm bảo đủ lượng thức ăn phù hợp nhu cầu từng đối tượng (độ tuổi, giới tính, mức độ
hoạt động của cơ thể).
+ Đảm bảo cân đối thành phần các chất hữu cơ, chất vô cơ, cung cấp đủ muối khoáng và
vitamin.
+ Đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho cơ thể.
+ Phù hợp với kinh tế của gia đình.
- Nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể là lượng dinh dưỡng cần thiết phải cung cấp cho cơ thể, để
đảm bảo việc hoạt động và phát triển của cơ thể diễn ra bình thường.
- Nhu cầu dinh dưỡng của từng người không giống nhau và phụ thuộc vào các yếu tố:
+ Giới tính: nam nhiều hơn nữ.
+ Lứa tuổi: người già ít hơn trẻ rm
+ Dạng hoạt động lao động: lao động nặng nhiều hơn lao động nhẹ.
+ Trạng thái cơ thể: người kích thước lớn nhu cầu dinh dưỡng nhiều hơn người có kích thước
nhỏ; người ốm cần nhiều chất dinh dưỡng hơn người khoẻ.
1

Ít hơn 1 muỗng cà phê muối
(dưới 6 gam)
Ít hơn 3 muỗng cà phê đường
(dưới 18 gam)

Ít hơn 4 muỗng cà phê dầu mỡ
(dưới 20 gam)
50 gam thịt, 100 gam cá,
1 miếng đậu hũ 1 – 2 ly
sữa

200 gam trái cây

300 gam rau củ

300 gam lương thực

Hình 3.1. Tháp dinh dưỡng về những nhóm chất cần bổ xung và hạn chế

II. Hệ tiêu hóa ở người
1. Cấu tạo và chức năng của hệ tiêu hóa
Hệ tiêu hóa gồm: ống tiêu hóa và tuyến tiêu hóa.
a. Ông tiêu hoá
Ống tiêu hoá gồm: miệng, hầu (họng), thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và hậu môn. Ống
tiêu hoá thực hiện chức năng biến đổi thức ăn về mặt lí học, vận chuyển dần thức ăn qua các
đoạn khác nhau của ống tiêu hoá (hình 3.2).
- Miệng: Thực hiện chức năng tiếp nhận, cắn, xé, nghiền nát, tạo viên thức ăn.
- Hầu (họng): thực hiện chức năng nuốt thức ăn sau khi đã được tiêu hoá ở khoang miệng
xuống thực quản.
- Thực quản: thực hiện chức năng chuyển thức ăn xuống dạ dày.
- Dạ dày: chứa thức ăn, tiêu hoá thức ăn về mặt lí học là chủ yếu (các hoạt động co bóp của
dạ dày).
2

- Ruột non: thực hiện chức năng tiêu hoá thức ăn và hấp thụ các chất dinh dưỡng. Hầu hết
thức ăn được biến đổi về mặt hoá học ở ruột non nhờ có đầy đủ các loại enzyme của các
tuyến tiêu hoá (trừ enzyme tiêu hoá cellulose).
- Ruột già: có sự tái hấp thụ nước, lên men thối các chất cặn bã tạo thành phân.
- Hậu môn: có chức năng thải phân ra khỏi cơ thể.
b. Tuyến tiêu hoá
Tuyến nước
bọt mang tai

Tuyến tiêu hoá: gồm ba đôi tuyến nước bọt,
tuyến vị của dạ dày, tuyến gan, tuyến tuy và
các tuyển ruột. Các tuyến tiêu hoá thực hiện
chức năng tiết dịch tiêu hoá, biến đổi thức ăn
về mặt hoá học.

Tuyến nước
bọt dưới lưỡi
Tuyến nước
bọt dưới hàm
Thực quản
Gan

Dạ dày
Lá lách

Tá tràng
Tụy
Góc rưới gan

Mật

2. Sự phối hợp và thống nhất giữa các cơ
quan của hệ tiêu hoá trong quá trình biến
đổi thức ăn
+ Thức ăn qua biến đổi lí học (nhai, trộn, co
bóp....) của ống tiêu hoá trở nên mềm, nhỏ hơn
rất thuận lợi cho các enzyme của dịch tiêu hoá
tiết ra từ các tuyến tiêu hoá hoạt động biến đổi
thức ăn thành chất dinh dưỡng.

+ Ngược lại, hoạt động biến đổi hoá học của
các tuyến tiêu hoá căng triệt để thì các sản
phẩm dinh dưỡng đơn giản hấp thụ cảng
Hỗng
Ruột
tràng
nhiều, cung cấp chất dinh dưỡng và năng
già
Hồi tràng
Ruột
già
lên
lượng cho cơ thể và các ống tiêu hoá hoạt
Manh tràng
xuống
động.
Ruột
Ruột
- Ống tiêu hoá và các tuyến tiêu hoá có sự
thừa
cong
Nếp gấp hình chữ S
thống nhất và hỗ trợ nhau trong hoạt động tiêu
Trực tràng
Hậu môn
hoá thức ăn. Kết quả hoạt động của ống tiêu
Hình 3.2. Hệ tiêu hóa ở người
hoá tạo điều kiện cho hoạt động tuyến tiêu hoá
và ngược lại.
3. Vai trò của tiêu hoá
Ruột già
ngang

Hệ tiêu hoá có vai trò biến đổi thức ăn thành các chất dinh dưỡng mà cơ thể có thể hấp thụ
được qua ống tiêu hoá, đặc biệt là thành ruột non, đồng thời thái bỏ các chất bã, chất thừa,
chất không cần thiết,... ra khỏi cơ thể.
4. Quá trình tiêu hoá thức ăn trong cơ thể người
Quá trình tiêu hoá gồm những hoạt động chủ yếu sau:
+ Ăn và uống.
+ Đẩy thức ăn vào ống tiêu hoá.
+ Tiêu hoá thức ăn.
+ Hấp thụ các chất dinh dưỡng.
+ Thải phân.

3

a. Tiêu hoá ở khoang miệng
Ở khoang miệng, thức ăn chủ yếu được biến đổi về mặt lí học.
- Tiêu hoá lí học: tiết nước bọt, nhai, nghiền, đảo trộn thức ăn thấm đều nước bọt, làm mềm
thức ăn và tạo viên thức ăn.
- Tiêu hoá hoá học: enzyme amylase của tuyến nước bọt biển đối một phần tinh bột chín
trong thức ăn - thành đường đôi (maltose).
b. Tiêu hoá ở dạ dày
Ở dạ dày, thức ăn chủ yếu được biến đổi về mặt lí học.
- Tiêu hoá lí học: tiết dịch vị, co bóp, đảo trộn thức ăn thấm đều dịch vị, làm mềm, nhuyễn
thức ăn.
- Tiêu hoá hoá học: enzyme pepsin của dịch vị biến đổi một phần protein trong thức ăn thành
protein chuỗi ngắn (polypeptide)
- Thức ăn sau khi tiêu hoá ở dạ dày được đẩy xuống ruột non theo từng đợt nhờ sự phối hợp
hoạt động của cơ thành dạ dày và cơ vòng môn vị.
c. Tiêu hóa ở ruột non
Ở ruột non, thức ăn chủ yếu được biến đổi về mặt hoá học.
- Tiêu hoá lí học: tiết dịch tiêu hoá, lớp cơ co dãn tạo các cử động làm thức ăn thấm đều dịch
tiêu hoá, đấy thức ăn xuống các phần khác của ruột, muối mật nhữ tương hoá lipid.
- Tiêu hoá hoá học: tá tràng là đoạn đầu ruột non, có ống dẫn chung dịch tụy và dịch mật đổ
vào. Nhờ tác dụng của các enzyme dịch tuy, dịch mật, dịch ruột mà tất cả các chất dinh được
biến đổi thành những chất đơn giản hoà tan mà cơ thể có thể hấp thụ được.
+ Tình bột, đường đôi - đường đơn (nhờ các enzyme amulase, maltase, saccarase, lactase,...).
Protein amino acid (nhờ enzyme pepsin, tripsin, aminopeptidedase, carboxypeptidase). Lipid
acid béo và glycerol (nhờ enzyme lipase).
- Ruột non là cơ quan hấp thụ các chất dinh dưỡng chủ yếu.
+ Niêm mạc ruột có nhiều nếp gấp, trong đó có nhiều lông ruột, mỗi lông ruột có vô số lông
cực nhỏ đã làm tăng diện tích tiếp xúc giữa niêm mạc với chất dinh dưỡng lên nhiều lần.
+ Trong lông ruột có hệ thống mạng lưới mao mạch máu và mạch bạch huyết dày đặc tạo
điều kiện cho sự hấp thụ và vận chuyển các chất được nhanh chóng.
- Màng ruột là màng thấm có tính chọn lọc chỉ hấp thụ vào máu những chất dinh dưỡng cần
thiết cho cơ thể, kể cả khi nồng độ các chất đó thấp hơn nồng độ có trong máu và không cho
những chất độc vào máu kể cả khi có nồng độ cao hơn trong máu.
d. Tiêu hóa ở ruột già và trực tràng
- Các chất không được tiêu hoá ở phần trên, chất cặn bã, chất thừa,... được chuyển xuống
ruột già và được vi khuẩn lên men tạo thành phân.
- Nước được tiếp tục hấp thu tại ruột già.
- Giun sán kí sinh.
- Ăn, uống không đúng cách như: ăn vội vàng, vừa ăn vừa cười đùa.
- Khẩu phần ăn không hợp lí,...
4

III. Bảo vệ hệ tiêu hoá
1. Các tác nhân có hại cho hệ tiêu hoá
- Vật sắc nhọn (mảnh kim loại, thuỷ tinh,....) lẫn vào trong thức ăn, đồ uống.
- Chất độc trong thức ăn, đồ uống.
- Vi sinh vật gây bệnh có trong thức ăn ôi thiu hoặc trên cơ thể.
- Giun sán kí sinh.
- Ăn, uống không đúng cách như: ăn vội vàng, vừa ăn vừa cười đùa.
- Khẩu phần ăn không hợp lí,...
2. An toàn vệ sinh thực phẩm
- Vệ sinh an toàn thực phẩm là các biện pháp giữ cho thực phẩm không bị nhiễm khuẩn,
nhiễm độc và biến chất. Thực phẩm được coi là đảm bảo an toàn vệ sinh khi được xử lí và
bảo quản sạch sẽ trong quá trình sản xuất, đóng gói, chế biến, bảo quản.
- Những lí do gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm:
+ Đối với an toàn thực phẩm, có một số lí do xuất phát từ con người như không đảm bảo vệ
sinh thực phẩm ở các khâu sản xuất, chế biến và bảo quản của con người.
+ Thực phẩm có nguồn gốc từ gia cầm, gia súc bệnh hoặc thực phẩm thuỷ sinh sống trong
nước bẩn.
+ Rau và trái cây được bón phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật quá mức và không đúng quy
trình.
+ Thực phẩm có nguồn gốc thực vật được trồng trong đất bị ô nhiễm hoặc tưới nước thải bẩn
hoặc được sử dụng các chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh....
+ Quy trình giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm; quá trình thu hoạch thực phẩm, rau, quả
không phù hợp với quy định vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Sử dụng phụ gia để chế biến thực phẩm không đúng quy định của Bộ Y tế.
+ Dụng cụ chứa hoặc lưu trữ thực phẩm như thớt và đồ dùng bị ô nhiễm.
+ Người xử lí thực phẩm không rửa tay trước khi xử lí, đặc biệt là khi chuẩn bị thức ăn cho
trẻ em.
+ Những người đang mắc các bệnh truyền nhiễm vẫn chế biến thực phẩm.
+ Sử dụng nước bị ô nhiễm để rửa thực phẩm và dụng cụ ăn uống.
+ Thức ăn chưa được nấu chín trước khi ăn. Đặt thực phẩm sống với thực phẩm nấu chín ở
cùng một nơi, trên cùng một thớt,...
+ Thức ăn không được che đậy làm cho bụi bẩn và côn trùng, động vật gặm nhấm, ruồi,
muỗi,... tiếp xúc và gây ô nhiễm.
- Hậu quả của việc vệ sinh an toàn thực phẩm:
+ Thực phẩm không hợp vệ sinh có thể gây ra bệnh bán cấp tỉnh như: rối loạn tiêu hoá gây
đẩy hơi, đau bụng, phân lỏng, rối loạn thần kinh gây đau đầu, chóng mặt, hôn mê, liệt tứ
chi,...
+ Thực phẩm bị ô nhiễm có thể gây ra các triệu chứng nhiễm độc cấp tỉnh. Ngoài ra, có thể
gây ra các biến chứng nguy hiểm sau này như ung thư, rối loạn chức năng, vô sinh, gây quái
thai,...
5

+ Thực phẩm bẩn có thể gây ra bệnh mạn tính, khó điều trị khỏi hoàn toàn
3. Một số bệnh liên quan đến hệ tiêu hoá
a. Sâu răng
- Sâu răng là tình trạng tổn thương phần mô cứng của răng do quá trình huỷ chất khoáng gây
ra bởi vi khuẩn ở mảng bám răng và hình thành các lỗ nhỏ trên răng. Sâu răng là do sự kết
hợp của các yếu tố như: ăn vặt thường xuyên, sử dụng đồ uống có đường và vệ sinh răng
miệng không tốt.
- Nguyên nhân gây sâu răng là do vi khuẩn ở mảng bám răng.
+ Mảng bám là một màng dính bao phủ răng do ăn nhiều đường, tinh bột và không làm sạch
răng. Khi đường và tinh bột không được làm sạch khỏi răng, vi khuẩn sẽ tiêu hoá và hình
thành mảng bám.
+ Các acid trong mảng bám loại bỏ các chất khoáng trong men răng cứng (bên ngoài của
răng). Xói mòn này gây ra các lỗ nhỏ hoặc lỗ trên men răng. Khi sâu răng phát triển, vi
khuẩn và acid tiếp tục di chuyển vào bên trong (tuỷ) có chứa dây thần kinh và mạch máu.
Buồng tuỷ bị sưng và kích thích. Do không có chỗ cho vết sưng mở rộng bên trong răng, dây
thần kinh bị chèn ép, gây đau.
b. Viêm loét dạ dày, tá tràng
- Viêm loét dạ dày, tá tràng là một bệnh tiêu hoá xuất hiện khi dạ dày, tá tràng bị viêm, loét.
Các vết loét niêm mạc thường xuất hiện ở dạ dày và phần đầu của tá tràng. Niêm mạc đường
tiêu hoá là lớp màng bên trong cùng, có chức năng sản xuất chất nhầy và enzyme để hỗ trợ
quá trình tiêu hoá. Sự tổn thương của niêm mạc chủ yếu là do vi khuẩn Helicobacter pylori
sẽ gây ra tình trạng viêm loét dẫn đến cơn đau thượng vị và một số triệu chứng khác gây khó
chịu cho người bệnh.
- Nguyên nhân viêm loét dạ dày, tá tràng do: nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, ăn thức ăn
cay, thực phẩm không lành mạnh, sử dụng rượu bia và những loại đồ uống có cồn khác và
căng thẳng thần kinh,....
- Tuỳ vào tình trạng sức khoẻ và cơ thể mà mỗi người sẽ có những triệu chứng viêm loét dạ
dày, tá tràng khác nhau như:
+ Xuất hiện các cơn đau thượng vị.
+ Đau nhói hoặc đau rát thượng vị sau ăn, khi đói bụng hoặc về đêm.
+ Buồn nôn và nôn mửa.
+ Chướng bụng, đầy hơi.
3. Phòng bệnh về tiêu hoá
+ Có chế độ dinh dưỡng hợp lí.
+ Thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Vệ sinh răng miệng đúng cách.
+ Uống đủ nước.
+ Luyện tập thể dục, thể thao phù hợp.
+ Xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh.
+ Tạo bầu không khí vui vẻ khi ăn.
6

+ Hạn chế các chất kích thích như: rượu, bia, đồ uống có cồn,...
B. TÌNH HUỐNG CẦN GIẢI QUYẾT
Tình huống 1: Hôm qua là ngày chủ nhật, bạn An theo bố ra đồng ruộng chăn trâu và
đã uống nước lã ở ngoài đồng. Tối về, bạn An thấy đau bụng và tiêu chảy nên sáng nay bạn
An không đi học được. Bằng sự hiểu biết của mình, em hãy giải thích tại sao bạn An lại bị
đau bụng và tiêu chảy. Để tránh hiện tượng này cần phải làm gì?
Hướng dẫn
* Bạn An đau bụng có thể là do uống nước lã ở ngoài đồng có lẫn kết bào xác của trùng kiết
lị, vì:
- Trong nước lã có thể đã có bào xác của trùng kiết lị (bào xác trùng kiết lị tồn tại được rất
lâu trong tự nhiên).
- Khi theo nước uống vào ruột, trùng kiết lị chui ra khỏi bào xác và kí sinh ở đó.
- Trùng kiết lị sẽ gây các vết loét ở niêm mạc ruột, nuốt hồng cầu và sinh sản rất nhanh.
- Khi số lượng trùng kiết lị tăng lên, chúng đã gây ra triệu chứng đau bụng, đồng thời gây
tiêu chảy.
* Để tránh hiện tượng này cần phải Ăn uống hợp vệ sinh:
+ Không uống nước lã ngoài đồng ruộng, khe suối,... + Ăn chín, không ăn thịt tái, mắm
tôm,...
+ Dùng lồng bàn đậy thức ăn.
+ Vệ sinh tay bằng xà phòng trước khi
ăn.
+ Ăn rau sống phải xử lí qua nước muối loãng.
- Vệ sinh cá nhân:
+ Tắm rửa thường xuyên bằng xà phòng.
+ Rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ
sinh.
+ Giặt quần áo sạch sẽ.
+ Vệ sinh môi trường xung quanh sạch sẽ.
Tình huống 2: Ở dạ dày, thức ăn chủ yếu được biến đổi về mặt lí học, chỉ có thức ăn
protein được enzyme pepsin có trong dịch vị phân cắt thành các chuỗi amino acid ngắn (3 –
10 amino acid). Thức ăn sau khi tiêu hoá ở dạ dày được đẩy xuống ruột non nhờ sự phối hợp
hoạt động của cơ thành dạ dày và cơ vòng môn vị. Dịch vị gồm các thành phần: 95% là
nước; 5% còn lại gồm enzyme pepsin (tiêu hoá thức ăn protein); HCl (làm mềm thức ăn); tín
hiệu đóng mở môn vị) và chất nhầy (bảo vệ niêm mạc dạ dày).
a) Một người bị triệu chứng thiếu acid trong dạ dày thì sự tiêu hoá ở ruột non có thể thế nào?
b) Vì sao protein trong thức ăn bị enzyme pepsin phân huỷ nhưng protein của lớp niêm mạc
dạ dày lại được bảo vệ, không bị phân huỷ?
Hướng dẫn
a) Một vị thiếu tín hiệu đóng nên thức ăn sẽ qua môn vị xuống ruột non liên tục và nhanh
hơn, thức ăn sẽ không đủ thời gian tiêu hoá lí học ở dạ dày, ngấm đều dịch tiêu hoá của dạ
dày nên hiệu quả tiêu hoá sẽ thấp. Nếu thiếu HCI trong dạ dày thì pepsinogen sẽ không được
hoạt hoá để trở thành enzyme pepsin dạng hoạt động nên protein trong dạ dày sẽ không được
biến đổi về mặt hoá học, do đó, sự tiêu hoá ở ruột non cũng sẽ gặp khó khăn và kém hiệu quả
hơn.
Các thức ăn cứng chưa được HCI làm mềm nên sự tiêu hoá ở ruột non cũng gặp khó
khăn.
7

b) Khi mới tiết ra pepsin ở dạng chưa hoạt động (pepsinogen), sau khi được HCI hoạt hoá
mới trở thành dạng hoạt động (enzyme pepsin). Do các chất nhầy được tiết ra từ các tế bào
tiết chất nhầy ở cổ tuyến vị phủ lên bề mặt niêm mạc, ngăn cách các tế bào niêm mạc với
enzyme pepsin. Ở người bình thường (không bị bệnh viêm loét dạ dày), sự tiết chất nhầy là
cân bằng với sự tiết pepsin, HCl → vì thế niêm mạc dạ dày luôn được bảo vệ khỏi sự phân
huỷ.
MÁU VÀ HỆ TUẦN HOÀN Ở NGƯỜI
A. HỆ THỐNG LÍ THUYẾT
I. Tìm hiểu về máu
1. Thành phần của máu
Máu gồm hai thành phần: Huyết tương và tế bào máu (hình 4.1)
a. Huyết tương: Chiếm khoảng 55% thể tích máu.
Trong huyết tương có các thành phần như: Nước (chiếm 90%) và chất dinh dưỡng (protein,
lipid, carbohydrate), hormone, kháng thể, chất khoáng,… (chiếm 10%)
b. Tế bào máu: Chiếm khoảng 45% thể tích máu.
Có 3 loại tế bào máu là: hồng cầu (khoảng 43%), bạch cầu và tiểu cầu (khoảng 2%)
Huyết tương gồm nước và các chất
dinh dưỡng, chất hòa tan khác.
Huyết tương có vai trò vận chuyển
các chất.
Tiểu cầu (nhỏ hơn 1%) không nhân,
tham gia vào quá trình đông máu
Huyết tương
(55%)

Máu

Máu toàn phần

Bạch cầu (nhỏ hơn 1%) có nhân,
không màu, tham gia bảo vệ cơ
Tế bào máu
thể.
(45%)
Hồng cầu (khoảng 43%) hình đĩa,
lõm hai mặt, không nhân, màu đỏ,
Máu phân tách tham gia vận chuyển chất khí (O2,
Thành các phần CO2).

Hình 4.1 các thành phần của máu

2. Cấu tạo và chức năng của các thành phần trong máu
a. Hồng cầu
- Cấu tạo: tế bào không nhân, hình đĩa lõm 2 mặt, do đó luôn được thay thế bằng các hồng
cầu mới hoạt động mạnh hơn. Thành phần chủ yếu của hồng cầu là hemoglobin (Hb) có khả
năng kết hợp lỏng lẻo với khí carbon dioxide.
- Chức năng: vận chuyển oxygen và carbon dioxide, góp phần tạo áp suất thẩm thấu thể keo,
điều hòa sự cân bằng acid – base của máu, quy định nhóm máu.
8

b. Bạch cầu
- Cấu tạo: tế bào có nhân, kích thước lớn hơn hồng cầu, hình dạng không ởn định
- Có 5 loại bạch cầu: Bạch cầu ưa acid; Bạch cầu ưa kiềm; Bạch cầu trung tính; Bạch cầu
mono (đơn nhân) cớ thể chuyển thành đại thực bào; Bạch cầu lympho B và lympho T.
- Chức năng: bạch cầu có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh đột nhập
bằng cơ chế thực bảo, tạo kháng thể, tiết protein đặc hiệu phá hủy tế bào đã bị nhiễm bệnh.
- Các hoạt động của yếu của bạch cầu:
+ Kháng nguyên là những phân từ ngoại lai có khả năng kích thích cơ thể thiết ra kháng thể.
Kháng nguyên có trên bề mặt tế bào vi khuẩn, bề mặt vỏ virus.
+ Kháng thể là những phân tử protein do tế bào lympho B tiết ra chống lại kháng nguyên.
+ Tương tác giữa kháng nguyên và kháng thể theo cơ chế ổ khóa và chìa khoá, nghĩa là
kháng nguyên nào thì kháng thể đó.
- Bạch cầu tạo nên 3 hàng rào bảo vệ:
+ Sự thực bào: bạch cầu trung tính và bạch cầu mono (đại thực bào) bắt và nuốt các vi
khuẩn, virus vào trong tế bào rồi hóa chúng.
+ Lympho B: tiết ra kháng thể vô hiệu hóa kháng nguyên
+ Lympho T: tiết ra các protein đặc hiệu (kháng thể) phá hủy các tế bào cơ thể nhiễm vi
khuẩn, virus.
c. Tiểu cầu
- Cấu tạo: các mảnh tế bào chất của tế bào mẹ sinh tiểu cầu trong tủy xương phóng thích ra,
kích thước rất nhỏ, cấu tạo đơn giản, dễ bị phá vỡ khi máu ra khỏi mạch.
- Chức năng: tiểu cầu giải phóng 1 loại enzyme gây đông máu.
d. Huyết tương
- Cấu tạo: chất lỏng của máu có nước (chiếm 90%) còn lại là các chất protein, lipid,
carbohydrate, vitamin, khoáng muối, chất bài tiết,… (chiếm 10%)
- Chức năng: huyết tương duy trì máu ở thể lỏng vầ vận chuyển các chất dinh dưỡng, chất
bài tiết, hormone, muối khoáng dưới dạng hòa tan.
3. Miễn dịch và vaccine
a. Miễn dịch
- Miễn dịch là khả năng cơ thể không bị mắc một bệnh nào đó dù sống ở môi trường có vi
khuẩn, virus gây bệnh.
- Có 2 loại miễn dịch:
+ Miễn dịch tự nhiên: tự nhiên cơ thể có khả năng không mắc một số bệnh (miễn dịch bẩm
sinh) hoặc sau một lần mắc bệnh ấy thì sau này không mắc lại (miễn dịch tập nhiễm).
+ Miễn dịch nhân tạo: do con người tạo ra cho cơ thể bằng tiêm vaccine phòng bệnh hoặc
tiêm huyết thanh chống kháng thể.
b. Vaccine
9

- Vaccin là dịch có chứa độc tố của vi khuẩn gây bệnh nào đó đã được yếu dùng tiêm vào cơ
thể người để tạo ra khả năng miễn dịch bệnh đó.
- Mỗi loại vaccine khi tiêm vào cơ thể chỉ có tác dụng đối với một số bệnh nhất định. Cơ thể
người có khả năng miễn dịch được bệnh sau khi được tiêm vaccine cống bệnh đó.
- Tiêm vaccin tạo khả năng miễn dịch cho cơ thể vì độc tố của vi khuẩn là kháng nguyên
nhưng do đã được làm yếu nên khi tiêm vào cơ thể người không đủ khả năng gây hại. Nhưng
nó tác dụng kích tích tế bào lympho B sản xuất ra kháng thể vè tế bào nhớ
II. Nhóm máu và nguyên tác truyền máu
1. Các nhóm máu ở người
- Nhóm maú là sự phân loại máu dựa trên kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu và kháng thể
trong huyết tương của mỗi người. Có nhiều hệ nhóm máu khách nhau nhưng khi tuyền máu
người ta quan tâm nhất là hệ nhóm máu ABO.
- Hệ nhóm máu ABO gồm 4 nhóm máu là A; B; AB; O (Bảng 4.1)
+ Trên bề mặt hồng cầu có 2 loại kháng nguyên là: A và B
+ Trong huyết tương có 2 loại kháng thể là: α (anti A) và β (anti B)
Bảng 4.1. Thành phần huyết tương, hồng cầu theo nhóm máu

Nhóm máu

Huyết tương có kháng thể

Hồng cầu có kháng nguyên

A

β (anti B)

A

B

α (anti A)

B

O

α (anti A) và β (anti B)

Không có

AB

Không có

A và B

Hiện tượng ngưng kết hồng cầu xảy ra khi kháng nguyên A gặp kháng thể của kháng
thể B gặp kháng thể β (anti B)
2. Nguyên tác truyền máu
- Xét nghiệm nhóm máu:
+ Khi truyền máu, để tránh hiện tượng kết dính hồng cầu thì máu của người cho và máu của
người nhận phải cùng nhóm.
+ Trong trường hợp không tìm được người cùng nhóm máu thì phải đảm bảo không gây kết
dính giữa hồng cầu của máu người cho và huyết tương của máu người nhận, nhưng mỗi lần
truyền với một lượng nhỏ (dưới 250 ml).
Như vậy:
 Người máu O có thể truyền được cho các nhóm máu O, A, B, AB.
 Người máu A(B) có thể truyền được cho nhóm máu A(B), AB.
 Người máu AB chỉ có thể truyền được cho nhóm máu AB.
+ Sơ đồ truyền máu:

A
A

O

O

AB
B

10

B

AB

- Kiểm tra các tác nhân gây bệnh: để tránh lây các bệnh truyền nhiễm trong khi truyền máu
thì cần kiểm tra tác nhân gây bệnh của máu người cho.
III. Hệ tuần hoàn máu
1. Cấu tạo hệ tuần hoàn
Mao mạch phần trên cơ
thể

CO2

O2

Động mạch chủ
nhánh trên

O2

CO2

- Hệ tuần hoàn máu gồm tim và
hệ mạch máu (động mạch, mao
mạch và tĩnh mạch) tạo thành hai
vòng tuần hoàn: vòng tuần hoàn
nhỏ và vòng tuần hoàn lớn (hình
4.2)

Mao mạch phổi

+ Tim: co bóp lực đẩy giúp máu
lưu thông trong hệ mạch.
Động mạch phổi

Tĩnh mạch phổi

Động
mạch + Hệ mạch: dẫn máu tim tới các
chủ nhánh dưới tế bào, từ các tế bào quay về tim.
Tâm nhĩ trái

Tĩnh mạch chủ trên

+ Vòng tuần hoàn nhỏ: dẫn máu

Tâm nhĩ phải

Tâm nhĩ tráiqua phổi, giúp máu trao đổi O và
2

Tâm thất phải

CO2

Tĩnh mạch chủ dưới

Đường đi của vòng tuần hoàn
nhỏ:
Tâm thất phải (máu đỏ thẫm)
→ động mạch phổi → mao mạch
phổi (trao đổi khí lấy O2 , thải
CO2 máu chuyển sang đỏ tươi) →
tĩnh mạch phổi → trở về tâm nhĩ
trái.

O2
CO2

Mao mạch phần dưới cơ
thể

+ Vòng tuần hoàn lớn: dẫn máu
qua tất cả các tế bào của cơ thể
để thực hiện trao đổi chất.

Đường đi của vòng tuần hoàn
Hình 4.2. Sơ đồ hệ tuần hoànlớn:

Tâm thất trái (máu đỏ tươi)
→ động mạch chủ → động mạch
nhỏ hơn → mao mạch (trao đổi
2. Chức năng
chất,
sang đỏ
thẫm)
- Hệ tuần hoàn giúp luân chuyển máu và thực hiện sự trao đổi
chấtmáu
(chấtchuyển
dinh dưỡng,
chất
→ tĩnh mạch nhỏ → tĩnh mạch
thải, …), trao đổi khí (O2, CO2), nước, …
chủ → trở về tâm nhĩ phải.
- Tham gia bảo vệ cơ thể.
- Tham gia vào quá trính đông máu.
IV. Một số bệnh và phòng bệnh về máu và hệ tuần hoàn
1. Một số bệnh
11

a. Thiếu máu
Thiếu máu là tình trạng lượng huyết sắc tố (Hb) và số lượng hồng cầu có trong máu bị giảm
đi, dẫn đến thiếu lượng oxygen đến các tế bào trong cơ thể.
* Biểu hiện
- Bệnh nhân thiếu máu thường có những biểu hiện sau:
+ Da và niêm mạc xanh xao, nhợt nhạt.
+ Ù tai, hoa mắt, chóng mặt.
+ Mệt mỏi, hồi hợp, nhịp tim nhanh.
+ Nếu là phụ nữ sẽ có thể gặp tình trạng rối loạn kinh nguyệt hoặc vô kinh.
* Nguyên nhân
- Các nguyên nhân gây nguy cơ thiếu máu là:
+ Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ, thiếu sắt, vitamin B12, folate.
+ Rối loạn đường ruột: tình trạng này dẫn đến sự hấp thu kém các chất dinh dưỡng trong ruột
non gây nên thiếu máu.
+ Phụ nữ trong thời kì kinh nguyệt có thể gây ra thiếu hồng cầu, dẫn đến tình trạng thiếu
máu
+ Phụ nữ trong quá trình mang thai có nguy cơ thiếu máu thiếu sắt do hemoglobin cung cấp
cho bào thai.
+ Bệnh nhân mắc các bệnh mạn tính như ung thư, suy thận, suy gan cũng là tình trạng thiếu
máu.
* Phòng ngừa
- Để phòng ngừa tình trạng thiếu máu chúng ta nên:
+ Ăn uống hợp vệ sinh và khoa học. Khẩu phần ăn phải đầy đủ các chất, hợp khẩu vị, hạn
chế các gia vị nhân tạo, hương hiệu và dầu mỡ.
+ Chế độ sinh hoạt làm việc cân đối kết hợp rèn luyện nâng cao sức khỏe.
+ Phụ nữ cần lưu ý đến chu kì kinh nguyệt của mình, bổ sung thêm sắt uống và ăn nhiều thức
ăn có chứa nhiều sắt khi cơ thể thiếu sắt.
+ Kịp thời các dấu hiệu nghi ngờ thiếu máu cũng như các yếu tố nguy cơ thiếu máu.
+ Khám sức khỏe ít nhất 1 lần/năm để phát hiện bệnh sớm nhất có thể.
b. Bệnh máu trắng
Bình thường các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu) của cơ thể được sinh ra từ tủy
xương, sau đó đi vào lưu thông máu và bị hủy đi khi già. Bệnh máu trắng liên quan đến bạch
cầu. Vì số lượng lý do như di truyền, nhiễm độc, virus,…; tủy xương sản xuất các bạch cầu
non không lớn lên được, không thực hiện được chức năng như bạch cầu chiến đấu bảo vệ cơ
thể khỏi vi khuẩn, virus,… và không chết đi. Các tế bào này được sinh ra mãi, cứ ở trong tủy
xương, chiếm chỗ của các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu) nên bệnh nhân thường
có các biểu hiện xanh xao, thiếu máu (do thiếu hồng cầu), chảy máu khó cầm (thiếu tiểu cầu)
và dễ nhiễm trùng (thiếu bạch cầu). Sau đó, các tế bào non này đi vào trong máu, gây nhiều
tác hại khác. Đây là bệnh máu trắng hoặc ung thư máu. Ở trong thể cấp thì các tế bào non
được sinh ra với tốc độ rất nhanh.
c. Bệnh cao huyết áp
12

- Cao huyết áp (hay tăng huyết áp) là một bệnh lí mạn tính khi áp lực của máu tác động lên
thành động mạch tăng cao. Huyết áp tăng cao gây ra nhiều áp lực cho tim và nhiều biến
chứng tim mạch nghiêm trọng như: tai biến mạch máu não, suy tim, bệnh tim mạch vành,
nhồi máu cơ tim,...
- Bệnh cao huyết áp thường diễn ra trong âm thầm không có triệu chứng.
- Theo Hiệp hội Tim mạch Việt Nam, huyết áp bình thường là ở mức 120/80 mmHg. Khi
huyết áp luôn ở mức từ 140/90 mmHg trở lên thì được xem là tình trạng tăng huyết áp.
2. Phòng bệnh tim mạch
- Tạo cuộc sống vui tươi, thoải mái, yêu đời,...
- Hạn chế gây ra các tình huống căng thẳng.
- Khi bị sốc, stress cần điều chỉnh cơ thể kịp thời về trạng thái cân bằng.
- Không sử dụng các chất kích thích như: bia, rượu, thuốc lá,...
- Lao động vừa sức, nghỉ ngơi hợp lí.
- Tiêm phòng đầy đủ các bệnh gây hại cho tim mạch.
- Tránh bị nhiễm khuẩn.
- Có chế độ ăn hợp lí, khoa học.
- Hạn chế ăn thức ăn có hại cho tim mạch như muối, đường, mỡ động vật.
- Tập thể dục thể thao thường xuyên, đều đặn vừa sức kết hợp với xoa bóp ngoài da.
- Cần kiểm tra sức khoẻ định kì.
B. TÌNH HUỐNG CẦN GIẢI QUYẾT
Tình huống: Trung bình mỗi chu kì, (nhịp) tim của người bình thường kéo dài 0,8 giây
gồm 3 pha. Pha co tâm nhĩ kéo dài 0,1 giây; pha co tâm thất kéo dài 0,3 giây; pha giãn chung
kéo dài 0,4 giây. Trung bình, tim thực hiện 75 nhịp/phút. Nếu nhịp tim càng cao thì thời gian
pha giãn chung càng ngắn. Với kiến thức về tuần hoàn máu đã được học, hãy giải thích các
hiện tượng sau:
a) Khi nghỉ ngơi, vận động viên thể thao có nhịp tim thấp hơn người bình thường nhưng lưu
lượng tim thì vẫn giống người bình thường.
b) Vì sao tăng nhịp tim kéo dài thì sẽ gây hại cho tim mạch?
Hướng dẫn
a) Khi nghỉ ngơi, vận động viên thể thao có nhịp tim thấp hơn người bình thường nhưng lưu
lượng tim thì vẫn giống người bình thường là vì:
Cơ tim của vận động viên khoẻ hơn cơ tim của người bình thường nên thể tích tâm thu tăng
(một lần co bóp đẩy được nhiều máu vào động mạch). Nhờ thể tích tâm thu tăng mà nhịp tim
giảm đi vẫn đảm bảo được lưu lượng tim, đảm bảo lượng máu cung cấp cho các cơ quan.
Khi nghỉ ngơi, hoạt động ít hơn lúc vận động nên nhu cầu oxygen thấp hơn lúc vận động
→ Do đó, nhịp tim giảm và nhịp thở giảm.
b) Nếu tăng nhịp tim thì thời gian của chu kì tim ngắn lại. Khi rút ngắn thời gian của chu kì
tim thì sẽ làm rút ngắn thời gian của pha giãn chung. Pha giãn chung là giai đoạn tế bào cơ
13

tim được nhận máu từ động mạch vành tim. Vì vậy, khi thời gian nghỉ ngơi của tim giảm
xuống thì lượng chất dinh dưỡng cung cấp cho tế bào cơ tim bị giảm. Do đó, nếu tim đập
nhanh kéo dài thì nguy cơ dẫn đến suy tim.

THỰC HÀNH VỀ MÁU VÀ HỆ TUẦN HOÀN
A. HỆ THỐNG KIẾN THỨC
I. Cầm máu
1. Vì sao phải cầm máu
- Cầm máu là làm cho máu không còn chảy ra khỏi mạch. Khi bị chấn thương chảy máu đo
mạch máu bị rách thì phải tìm cách cầm máu để ngăn không chỉ máu chảy ra ngoài.
- Biểu hiện của các dạng chảy máu:
Bảng 5.1. Biểu hiện của các dạng chảy máu ở hệ mạch

Các dạng chảy máu

Biểu hiện

Mao mạch

Máu chảy ít

Tĩnh mạch

Máu chảy nhiều hơn, nhanh hơn, máu lan đều trên vết thương

Động mạch

Máu chảy nhiều, mạnh, phun thành tia

2. Các bước cầm máu
a. Băng vết thương khi chảy máu mao mạch và tĩnh mạch
- Khi bị chảy máu mao mạch và tĩnh mạch cần tiến hành sơ cứu cầm máu tryg tiếp, gồm các
bước sau:
+ Dùng tay bịt chặt miệng vết thương cho tới khi máu không còn chảy ra nữa
+ Sát trùng vết thương bằng cồn 70%.
+ Dùng bông cho vào giữa 2 miếng gạc đặt vào miệng vết thương.
+ Dùng băng buộc chặt lại.
b. Băng vết thương khi chảy máu động mạch cổ tay
- Khi bị chảy máu động mạch cần tiến hành sơ cứu cầm máu không trực tiếp (buộc garo),
gồm các bước sau:
Dùng ngón tay cái dò tìm động mạch cánh tay, khi thấy dấu hiệu mạch địn thì bóp mạnh để
làm ngừng chảy máu ở vết thương trong vài phút.
+ Buộc garo: dùng dây cao su hay dây vải mềm buộc chặt ở vị trí gần sát và thương (về phía
tim) với lực ép đủ làm cầm máu.
+ Sát trùng vết thương, đặt gạc và bông lên miệng vết thương rồi băng lại.
+ Đưa ngay đến bệnh viện nơi gần nhất để cấp cứu.
Lưu ý: Không buộc garo quá chặt và lâu, có thể gây hoại từ phần dưới vị trí buộc garo do
thiếu oxygen. Vì thế, cứ sau 15 phút phải nói dây garo ra và buộc lại.
II. Cấp cứu người bị đột quỵ
1. Định nghĩa đột quỵ
14

Đột quỵ (stroke) còn gọi là tai biến mạch máu não thường xảy ra đột ngột khi nguồn máu
cung cấp cho não bị tắc nghẽn, gián đoạn hoặc suy giảm. Khi đó, não bị thiểu 02. dinh dưỡng
và các tế bào não bắt đầu chết trong vòng vài phút. Người bị đột quỵ có nguy cơ tử vong cao
nếu không được phát hiện và cấp cứu kịp thời. Đây là một trong những bệnh lí thần kinh
nguy hiểm và phổ biến nhất.
2. Các loại đột quỵ
- Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: thiếu máu cục bộ dẫn đến đột quỵ xảy ra do tình trạng tắc
nghẽn trong động mạch.
- Đột quỵ do xuất huyết não: tình trạng xuất huyết (chảy máu) não là do vỡ mạch máu não
làm chảy máu vào nhu mô não, khoang dưới nhện hay não thất.
3. Dấu hiệu đột quỵ
- Khuôn...
 
Gửi ý kiến