Bài 36. Sự hình thành và phát triển của phong trào công nhân

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Tuyết Trinh
Ngày gửi: 20h:10' 30-07-2019
Dung lượng: 180.0 KB
Số lượt tải: 21
Nguồn:
Người gửi: Tuyết Trinh
Ngày gửi: 20h:10' 30-07-2019
Dung lượng: 180.0 KB
Số lượt tải: 21
Số lượt thích:
0 người
LÊ THÁNH TÔNG
Trong lúc vì, ông đã ra cách trong quân , hành chính, kinh , giáo và pháp. Ông cũng đã mang cõi cách đánh đô Chiêm Thành, sát lãnh Chiêm Thành vào ; có hành quân phía Tây . Ông vì năm 1460 1497 và nhà đánh giá là trong vua tài ba trong Nam. Ông cũng coi là nhà văn hóa và là coi tài. do vua Lê Tông là Sùng Thiên Cao Minh Quang Chính Chí Công Thánh Văn Vũ Hoàng . Lên ngôi Khi bà tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao có thai Lê Tư Thành, bà đã bị bà phi Nguyễn Thị Anh mưu hại. Nguyễn Trãi và người thứ thiếp là Nguyễn Thị Lộ đã cứu giúp Ngọc Dao và đưa đi lánh nạn. Lê Tư Thành được sinh ra ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất 1442, ở chùa Huy Văn (ngày nay thuộc quận Đống Đa, Hà Nội). Lê Tư Thành vốn không phải là người sẽ kế vị, theo chính danh. Từ nhỏ, ông được giáo dục ở Quốc Tử Giám, giống như người anh cùng cha khác mẹ là Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ - con bà Nguyễn Thị Anh) đang làm vua Đại Việt.
Rồng đá Điện Kính Thiên được xây thời Lê Thánh Tông và Đồ sứ thời Lê sơ với men lam trang trí rồng phượng
Năm 1459, người anh cả cùng cha khác mẹ của ông là Lê Nghi Dân tiến hành đảo chính và giết Lê Nhân Tông lên ngôi. Tư Thành không bị vua anh sát hại trong vụ này. Chín tháng sau, một cuộc đảo chính thứ hai do Nguyễn Xí và Đinh Liệt cầm đầu đã giết chết Lê Nghi Dân. Nguyễn Xí và Định Liệt là hai tướng thân cận của Lê Lợi vẫn còn sống sót sau các biến cố chính trị kể từ khi Lê Lợi chết. Ban đầu, các đại thần định mời anh thứ 2 của Tư Thành là Lê Khắc Xương (em Nghi Dân, anh Bang Cơ) lên ngôi nhưng Khắc Xương từ chối không muốn nhận ngôi báu. Họ đề nghị Lê Tư Thành ra làm vua và ông đã chấp thuận. Ngày 8 tháng 6, năm Canh Thìn 1460, Lê Tư Thành lên ngôi, lấy niên hiệu là Quang Thuận. Năm đó, Hoàng đế mới 18 tuổi. Ông chỉ định Nguyễn Xí và Đinh Liệt vào các chức quan cao nhất của triều đình, nắm giữ binh quyền. Cải cách Quân sự Lê Thánh Tông ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội, đôn đốc và thực hiện các bước để tăng cường các khả năng chiến đấu của các vệ quân năm đạo. Ông thường thân chinh đi tuần phòng ở các vùng biên ải xa xôi cùng với binh lính và là tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị. Dấu tích trong một lần tuần tra tại khu vực cửa biển và vùng biển Hạ Long là một bài thơ đề trên vách núi đá mà sau này dân Đại Việt gọi tên là núi Bài Thơ ở thành phố Hạ Long ngày nay. Việc canh phòng và khuyến khích các quan lại ở biên cương thường cảnh giác với các âm mưu xâm nhập và xử lý kịp thời các sự việc lãnh thổ với bên ngoài ở thời ông là rất chặt chẽ và cẩn thận nên triều đình nhà Minh rất tôn trọng và có phần e ngại. Trong sử Việt còn nhắc đến việc Lê Thánh Tông ra sắc chỉ phải cảnh giác với lực lượng nội gián là các gia nô người Ngô (số người nhà Minh tự nguyện xin được ở lại sau khi bị bắt làm tù binh trong cuộc chiến trước đây của Lê Lợi). Theo các sử gia, thì vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc, do tiếp thu các kỹ thuật chế tạo súng hỏa công cá nhân từ phương Tây và với số vũ khí thu được trước đây trong cuộc kháng chiến với nhà Minh, kết hợp kỹ thuật vũ khí của Đại Việt thời nhà Hồ đã tạo thành một bộ vũ khí đa dạng và hùng mạnh[2] Lê Thánh Tông rất chú ý đến việc tích trữ lương thảo ở các vùng biên cương để sử dụng cho quân lương khi cần thiết. Một nghệ thuật làm lương khô thời Lê Thánh Tông được sử sách ghi lại là một kỹ thuật đặc biệt của Đại Việt, đó là đồ (hấp) thóc chín và sấy khô. Loại lương khô này có thể cất giữ vài năm không bị mất phẩm chất và rất tiện cho việc vận chuyển và sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là dùng cho quân đội viễn chinh. Lê Thánh Tông cải tổ quân đội mạnh mẽ về mặt tổ chức, trước đó quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm
 









Các ý kiến mới nhất